CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Tổng quan về thuế GTGT 1. Khái niệm thuế GTGT Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật pháp quy định đối với các pháp nhân và thể nhân thuộc đối tượng chịu thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Thuế là hình thức phân phối lại bộ phận nguồn tài chính của xã hội, không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp.
Do đó, tại thời điểm nộp thuế, người nộp thuế không được hưởng bất kỳ một lợi ích nào mà xem như đó là trách nhiệm và nghĩa vụ đối với nhà nước. Thuế luôn là vấn đề cốt lõi và là một công cụ điều tiết kinh tế của mỗi quốc gia. Các chính sách thuế được xây dựng ngày càng hoàn thiện hơn, không chỉ ở Việt Nam mà ở các quốc gia trên thế giới. Trước khi thuế GTGT ra đời và được đưa vào áp dụng, một số quốc gia đã áp dụng thuế doanh thu.
Tuy nhiên loại thuế này dẫn đến tình trạng thuế chồng thuế, bởi để sản phẩm cuối cùng đến tay người tiêu dùng sẽ phải trải qua rất nhiều công đoạn, mỗi giai đoạn sản xuất lưu thông đều phải đóng thuế trên doanh thu thu được. Cuối cùng người tiêu dùng sẽ phải chịu thiệt khi mà người sản xuất và người lưu thông hàng hóa cố gắng đẩy gánh nặng thuế về người tiêu dùng. Để khắc phục hạn chế đó, thuế GTGT ra đời. Thuế giá trị gia tăng (Value-added tax) là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Và được nộp vào ngân sách Nhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. [15] Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu và Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế giá trị gia tăng vào năm 1954. Khai sinh từ nước Pháp, thuế GTGT đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. 9 Ngày nay, các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, châu Phi, châu Mỹ La Tinh và một số quốc gia Châu á trong đó có Việt Nam đã chính thức áp dụng thuế GTGT.
Tính đến nay đã có khoảng 130 quốc gia áp dụng thuế GTGT. Tại Việt Nam, Luật Thuế giá trị gia tăng được áp dụng chính thức trên toàn quốc ngày 01-01-1999. Trong từng bước phát triển của nền kinh tế, để phù hợp với từng giai đoạn, đặc biệt là sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, Luật thuế giá trị gia tăng có nhiều sửa đổi bổ sung để phù hợp với tình hình kinh tế xã hội mỗi thời kỳ. Đặc điểm, vai trò của thuế GTGT a.
Đặc điểm của thuế GTGT: - Thuế GTGT là thuế gián thu Đặc điểm nổi bật của thuế GTGT đầu tiên phải kể đến là thuế GTGT là một loại thuế gián thu. Thuế GTGT được tính trên giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ và được thu vào khâu tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Người nộp thuế GTGT là người bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; người chịu thuế GTGT là người tiêu dùng cuối cùng. - Thuế GTGT là thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lắp Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn luân chuyển của hàng hóa, dịch vụ nhưng chỉ tính trên giá trị gia tăng của mỗi giai đoạn luân chuyển của hàng hóa, dịch vụ, bởi vậy, thuế GTGT không tính trùng phần giá trị gia tăng đã tính thuế ở giai đoạn luân chuyển trước khi tính thuế GTGT của giai đoạn sau.
- Thuế GTGT là sắc thuế có tính lũy thoái so với thu nhập. Do thuế GTGT tính trên giá bán của hàng hóa, dịch vụ mà người chịu thuế lại là người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ nên khi thu nhập của người tiêu dùng tăng lên thì tỷ lệ thuế giá trị gia tăng phải trả trong giá mua so với thu nhập của họ giảm đi. Điều này có nghĩa là, xét dưới góc độ tính công bằng, thuế GTGT là sắc thuế không công bằng, tỷ lệ thuế giá trị gia tăng so với thu nhập của người nghèo cao hơn người giầu. 10 Đặc điểm này hiện vẫn còn nhiều tranh cãi, có ý kiến cho rằng thuế GTGT đánh theo tỷ lệ % và về nguyên tắc thì thu nhập càng cao thì chi tiêu càng lớn, khái niệm chi tiêu ở đây bao gồm cả chi tiêu dùng và chi đầu tư, và khi chi tiêu càng lớn thì càng phải trả thuế GTGT nhiều hơn.
- Thuế GTGT thường được đánh theo nguyên tắc điểm đến Theo đó, đối tượng đánh thuế GTGT căn cứ vào thân phận cư trú của người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ mà không dựa trên nguồn gốc tạo ra hàng hóa, dịch vụ. Quyền đánh thuế GTGT thuộc về quốc gia nơi có hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ, bất kể hàng hóa, dịch vụ đó được sản xuất ra ở đâu. - Thuế GTGT có phạm vi điều tiết rộng Thuế GTGT là loại thuế tiêu dùng thông thường, đánh vào hầu hết các hàng hóa, dịch vụ phục vụ đời sống con người. Số lượng các hàng hóa, dịch vụ thuộc diện miễn thuế GTGT theo thông lệ quốc tế thường rất ít.
- Phạm vi của thuế giá trị gia tăng Đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Bởi vì không những hàng hóa xuất khẩu chịu thuế suất GTGT 0% ở khâu xuất khẩu mà còn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào trước đó. Vai trò của thuế GTGT: Thuế giá trị gia tăng có vai trò rất lớn trong xã hội hiện nay, một số vai trò quan trọng và nổi bật của thuế GTGT như sau: - Thuế giá trị gia tăng là công cụ giúp điều tiết thu nhập của tổ chức, cá nhân tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ. Thuế GTGT không đánh trực tiếp lên thu nhập của người tiêu dùng, nhưng nó gián tiếp điều tiết thông qua giá cả của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế trên thị trường.
- Thuế giá trị gia tăng là khoản thu quan trọng của ngân sách nhà nước. Trong các loại thuế gián thu thì thuế GTGT có đóng góp tích cực nhất cho ngân sách nhà nước. Thuế giá trị gia tăng tạo ra nguồn thu tương đối lớn cho ngân sách, chiếm khoảng 20-23% thu ngân sách. 11 - Thuế giá trị gia tăng giúp khuyến khích xuất khẩu hàng hóa.
Thuế GTGT góp phần khuyến khích mạnh mẽ xuất khẩu hàng hoá vì hàng xuất khẩu không phải chịu thuế GTGT ở khâu xuất khẩu mà còn được thoái trả tổng số thuế GTGT đã nộp ở khâu trước. Vì vậy xuất khẩu hàng hóa được đẩy mạnh, khuyến khích các doanh nghiệp nghiên cứu sản xuất các loại hàng hóa phục vụ cho xuất khẩu. - Hạn chế đươc tình trạng thuế chồng thuế, kiểm soát chặt chẽ các khâu nộp thuế, tránh thất thoát: Thuế GTGT được kiểm soát chặt chẽ, trưng thu ngay từ khâu đầu tiên là khâu sản xuất hoặc nhập khẩu, ở khâu sau còn kiểm tra được việc thu nộp thuế ở khâu trước nên hạn chế được thất thu thuế so với thuế doanh thu. Đây là ưu điểm vượt trội của thuế GTGT, không chỉ hạn chế đươc tình trạng thuế chồng thuế mà còn kiểm soát chặt chẽ các khâu nộp thuế, tránh thất thoát.
Thuế GTGT được thực hiện chặt chẽ theo nguyên tắc căn cứ vào hoá đơn mua hàng để khấu trừ số thuế đã nộp ở khâu trước. Nếu không có hoá đơn mua hàng ghi rõ số thuế GTGT đã nộp ở khâu trước thì không được khấu trừ thuế. Vì vậy thuế GTGT khuyến khích các cơ sở kinh doanh khi mua hàng phải nhận hoá đơn và khi bán hàng cũng phải xuất hoá đơn theo quy định. Thuế GTGT hạn chế sai sót, gian lận trong việc ghi chép hoá đơn.
Việc hạch toán thuế GTGT thông qua hóa đơn chứng từ, vì vậy khi mà hiện nay, các hình thức thanh toán ngày càng hiện đại và nhanh chóng, việc thu thuế GTGT cũng thúc đẩy chế độ hạch toán, kế toán, sử dụng hóa đơn, chứng từ và thanh toán qua ngân hàng. Đối tượng nộp thuế GTGT a. Đối tượng chịu thuế GTGT: Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT. Để trở thành đối tượng chịu thuế GTGT thì hàng hóa đó phải bị tác động bởi một trong các hành vi sau: hoặc là sản xuất, hoặc là kinh doanh hoặc là tiêu dùng ở Việt Nam, 12 dịch vụ đó phải bị tác động bởi một trong các hành vi hoặc là kinh doanh hoặc là sử dụng ở Việt Nam.
Lý giải cho vấn đề này cũng đơn giản, bởi vì thuế GTGT không quan tâm đến hành vi tác động vào đối tượng chịu thuế mà chỉ quan tâm đến giá trị tăng thêm của đối tượng chịu thuế. Vì vậy bất cứ khi nào, ở đâu trên lãnh thổ Việt Nam, hàng hóa dịch vụ có phát sinh giá trị tăng thêm do hành vi tác động của đối tượng nộp thuế thì hàng hóa, dịch vụ đó là đối tượng chịu thuế GTGT. Đối tượng không chịu thuế GTGT Đối tượng không chịu thuế GTGT khá rộng và đươc liệt kê thành các lĩnh vực như sau: - Lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, diêm dân: Sản phẩm trồng trọt, Sản phẩm là giống vật nuôi, giống cây trồng. - Lĩnh vực đất đai, nhà ở: Nhà ở thuộc sở hữu nhà nước do Nhà nước bán cho người đang thuê, Chuyển quyền sử dụng đất.
- Lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, tín dụng, chứng khoán, ngân hàng: Bảo hiểm, Dịch vụ cấp tín dụng, Kinh doanh chứng khoán, Chuyển nhượng vốn, Dịch vụ tài chính phái sinh: - Lĩnh vực y tế - Lĩnh vực bưu chính, viễn thông - Lĩnh vực quy hoạch đô thị, sửa chữa xây dựng: Dịch vụ duy trì vườn thú; vườn hoa; công viên; cây xanh đường phố; chiếu sáng công cộng; Duy tu, sửa chữa, xây dựng các công trình văn hóa, nghệ thuật, công trình phục vụ công cộng, cơ sở hạ tầng và nhà ở cho đối tượng chính sách xã hội bằng nguồn vốn đóng góp của nhân dân, viện trợ nhân đạo. - Lĩnh vực giáo dục - Lĩnh vực thông tin, truyền thông - Lĩnh vực vận tải hành khách - Lĩnh vực an ninh quốc phòng - Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong các trường hợp sau 13 + Hàng hóa thuộc loại trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu: +Hàng nhập khẩu và hàng hóa, dịch vụ bán cho các tổ chức, cá nhân để viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại - Lĩnh vực khoa học công nghệ - Lĩnh vực khai khoáng, khoáng sản [15] c.