Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Việt Nam sở hữu vị trí địa chính trị - kinh tế thuận lợi với đường bờ biển dài hơn 3.200 km, diện tích vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên 1 triệu km², nằm gần các tuyến hàng hải quốc tế trọng yếu và giữ vai trò cửa ngõ thông ra biển của hệ thống đường xuyên Á cùng hành lang kinh tế Đông - Tây. Hệ thống cảng biển đóng vai trò hạt nhân trong lưu chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu khối lượng lớn với chi phí thấp so với đường bộ, đường sắt hay đường hàng không. Đến thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu, Việt Nam đã xây dựng được 55 cảng biển các loại (gồm 17 cảng biển loại I, 25 cảng biển loại II, 13 cảng biển loại III), quy tụ 219 bến cảng với gần 50 km cầu cảng cùng hệ thống cảng nước sâu tại ba miền Bắc, Trung, Nam. Do tính chất đặc thù về vị trí địa lý và chức năng kinh tế - an ninh quốc phòng, cảng biển được xác định là khu vực đặc quyền, đặc lợi quốc gia cần sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước.
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập quốc tế phát triển nhanh chóng, hệ thống pháp luật hàng hải cần liên tục được cập nhật nhằm giải quyết các quan hệ xã hội phát sinh ngày càng phức tạp. Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng là cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tại một trong những đầu mối cảng biển lớn nhất cả nước, trực tiếp thực thi các quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, đề tài "Pháp luật về hàng hải và thực thi tại Cảng vụ Hải Phòng" được thực hiện.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định theo 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Tìm hiểu những vấn đề pháp lý cơ bản về hàng hải;
- Tìm hiểu về tình hình thực hiện pháp luật hàng hải tại Cảng vụ Hải Phòng;
- Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, đóng góp ý kiến, nêu lên một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về hàng hải.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy định pháp luật về hàng hải Việt Nam và thực tiễn triển khai áp dụng các quy định này trong hoạt động của Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian tập trung tại vùng nước cảng biển và khu vực quản lý của Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng (bao gồm cả các trạm và đại diện tại Phà Rừng, Bạch Long Vỹ). Phạm vi về thời gian gắn liền với mốc thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp năm 2021 (giao ngày 12/04/2021, hoàn thành trước ngày 03/07/2021), số liệu thực tiễn và văn bản quy phạm pháp luật được khảo sát trọng tâm từ thời điểm Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 có hiệu lực (ngày 01/07/2017) đến năm 2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm pháp lý chuyên ngành và lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật:
- Khái niệm hàng hải: Thuật ngữ Hán - Việt chỉ hoạt động vận tải hàng hóa trên biển, kỹ thuật điều khiển tàu biển và các hoạt động kinh tế, dịch vụ phụ trợ liên quan đến biển cả.
- Chủ thể của pháp luật hàng hải: Được phân thành 3 nhóm gồm cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hàng hải (Bộ Giao thông vận tải, Cục Hàng hải Việt Nam, Cảng vụ hàng hải, Kiểm dịch y tế, Cảnh sát biển, Biên phòng, Hải quan...); nhóm chủ thể trực tiếp (hoa tiêu, chủ tàu, thuyền viên, doanh nghiệp cảng, công ty vận tải, đại lý hàng hải...); nhóm chủ thể gián tiếp (ngư dân, công nhân, lái xe ra vào cảng...).
- Năm phương pháp điều chỉnh của pháp luật hàng hải: Phương pháp mệnh lệnh; phương pháp thỏa thuận, bình đẳng; phương pháp tự định đoạt; phương pháp tự chịu trách nhiệm; phương pháp gián tiếp (áp dụng trong chọn luật và giải quyết xung đột pháp luật).
- Mối quan hệ liên ngành: Mối quan hệ biện chứng giữa luật hàng hải với luật dân sự, luật kinh tế, luật thương mại và luật hình sự (đặc thù về quyền hạn của thuyền trưởng theo luật hàng hải và các điều ước như Công ước SUA 1988).
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tài liệu điều ước quốc tế làm nền tảng:
- Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015 (thay thế Bộ luật Hàng hải năm 2005 và năm 1990);
- Nghị định số 58/2017/NĐ-CP ngày 10/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Hàng hải Việt Nam về quản lý hoạt động hàng hải;
- Thông tư số 31/2016/TT-BGTVT ngày 31/10/2016 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tổ chức và hoạt động của Cảng vụ hàng hải;
- Các văn bản quy phạm pháp luật khác: Nghị định số 39/2014/NĐ-CP, Nghị định số 171/2016/NĐ-CP, Thông tư số 23/2017/TT-BGTVT, Thông tư số 41/2016/TT-BGTVT, Thông tư số 07/2018/TT-BGTVT, Hiến pháp năm 1992, Luật Thương mại;
- Các tập quán và điều ước quốc tế: Incoterms, UCP, hợp đồng mẫu Gencon, Time-charter, Công ước ngăn chặn các hành vi trái pháp luật chống lại an toàn hàng hải đối với các giàn khoan cố định ở thềm lục địa năm 1988 (SUA), Bộ luật quốc tế về vận chuyển hàng nguy hiểm bằng đường biển (IMDG Code).
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm: phương pháp phân tích - tổng hợp lý luận văn bản quy phạm pháp luật; phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy định pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ và luật hàng hải quốc tế); phương pháp nghiên cứu thực tiễn và thống kê hành chính. Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu được trích xuất từ các văn bản luật, văn bản dưới luật, Báo cáo tổng kết 05 năm thực hiện, triển khai Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015 và các số liệu hoạt động chuyên môn do Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng cung cấp trong quá trình thực tập tốt nghiệp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Những vấn đề pháp lý cơ bản về hàng hải
Chương I phân tích nguồn gốc, bản chất và hệ thống quy phạm pháp luật hàng hải. Tác giả khái quát lịch sử hình thành pháp luật hàng hải từ khu vực Địa Trung Hải (người Ai Cập, Minoan, luật Rhodian, bộ luật Oleron tại Pháp, Tòa Thượng thẩm tại Anh) và sự phát triển của pháp luật hàng hải Việt Nam qua hai giai đoạn: giai đoạn trước năm 1991 (thời kỳ cấm vận, các tàu của Vietfracht phải sử dụng hình thức "cờ thuận tiện" đăng ký tại Panama, Anh, Liberia để áp dụng luật nước ngoài) và giai đoạn từ năm 1991 đến nay (đánh dấu bằng Bộ luật Hàng hải năm 1990 có hiệu lực năm 1991, Bộ luật Hàng hải năm 2005 và Bộ luật Hàng hải năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/7/2017).
Bộ luật Hàng hải năm 2015 có quy mô gồm 20 Chương và 341 Điều (tăng 2 Chương và 80 Điều so với Bộ luật năm 2005). Các chương mới được bổ sung gồm Chương V (An toàn hàng hải, an ninh hàng hải, lao động hàng hải và bảo vệ môi trường) và Chương VI (Bắt giữ tàu biển). Tác giả phân tích nội dung cốt lõi của từng chương:
- Phạm vi điều chỉnh (Điều 1) bao quát các hoạt động sử dụng tàu biển vào mục đích kinh tế, văn hóa, xã hội, thể thao, công vụ và nghiên cứu khoa học; xác định nguyên tắc ưu tiên áp dụng Bộ luật Hàng hải khi có sự khác nhau với các luật khác về cùng một nội dung liên quan đến hoạt động hàng hải.
- 14 hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động hàng hải theo Điều 12 (như gây phương hại chủ quyền, vận chuyển hàng cấm, gây ô nhiễm, phá hủy công trình hàng hải, xây dựng trái phép trong quy hoạch...).
- 12 nhiệm vụ quản lý nhà nước về hàng hải được quy định tại Điều 9.
- Mối quan hệ liên ngành giữa luật hàng hải với luật dân sự, kinh tế (điều chỉnh hợp đồng vận chuyển, bảo hiểm, bồi thường đâm va), luật thương mại (vận tải dịch vụ, vận đơn B/L, quy tắc Incoterms) và luật hình sự (phân định hành vi vi phạm hành chính với tội phạm hình sự như cướp biển, thẩm quyền giữ người của thuyền trưởng khi xảy ra tội phạm trên tàu).
Chương II: Thực tiễn áp dụng luật Hàng hải trong hoạt động của Cảng vụ Hải Phòng
Chương II tập trung làm rõ chức năng, bộ máy và tình hình áp dụng pháp luật hàng hải tại đơn vị thực tập. Về lịch sử phát triển, Cảng vụ Hải Phòng được thành lập theo Quyết định số 598/QĐ-TCCB-LĐ ngày 06/4/1991 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện; tiền thân là Công ty Cảng vụ - Hoa tiêu được tách ra theo Quyết định số 354/TCCB ngày 15/5/1991 của Giám đốc Cảng Hải Phòng. Ban đầu thành lập đơn vị chỉ có 17 nhân sự; sau 27 năm phát triển đã xây dựng được đội ngũ 103 công chức, viên chức, người lao động. Đơn vị trực thuộc Cục Hàng hải Việt Nam (Vinamarine), có tư cách pháp nhân, con dấu riêng và tài khoản tại Kho bạc Nhà nước. Cơ cấu tổ chức gồm các phòng nghiệp vụ chuyên môn (Phòng An toàn và an ninh hàng hải, Phòng Thủ tục tàu thuyền, Phòng Tổ chức hành chính) và các đơn vị trực thuộc như Đại diện tại Bạch Long Vỹ, Trạm Đại diện tại Phà Rừng.
Thực tiễn triển khai pháp luật hàng hải tại Cảng vụ Hải Phòng được phản ánh qua các mặt công tác chuyên môn:
- Công tác kiểm tra, giám sát an toàn hàng hải: Từ năm 2015 đến thời điểm nghiên cứu, đơn vị đã phê duyệt 116 phương án bảo đảm an toàn hàng hải cho các công trình thi công trong vùng nước cảng biển. Lực lượng chuyên môn duy trì trực 24/7 để giám sát tàu biển đến, rời, di chuyển trong luồng hàng hải Hải Phòng, kịp thời cảnh báo nguy cơ va chạm hoặc chạy lệch luồng thông qua hệ thống quản lý giao thông tàu thuyền VTS; duy trì trực 24/7 tại Phà Rừng và Bạch Long Vỹ, kiểm soát an toàn tàu khách chạy tuyến Hải Phòng - Bạch Long Vỹ.
- Xử phạt vi phạm hành chính: Kịp thời lập biên bản và trình ban hành quyết định xử phạt đối với các hành vi vi phạm trật tự đậu đỗ của tàu thuyền, thiếu trang thiết bị an toàn, vi phạm hồ sơ tài liệu tàu, bằng cấp chuyên môn của thuyền viên không phù hợp hoặc vi phạm trong công tác dẫn tàu của hoa tiêu hàng hải.
- Giám sát quy hoạch, đầu tư cảng biển và luồng: Kiểm tra, giám sát vị trí và quy mô các bến cảng, kiểm tra việc thực hiện phương án bảo đảm an toàn hàng hải tại các dự án trọng điểm như Dự án Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng, Dự án cầu Bạch Đằng, Dự án cầu Hoàng Văn Thụ.
- Điều tra tai nạn, phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn (PCTT&TKCN): Công tác điều tra tai nạn được tiến hành đúng thời hạn luật định. Triển khai phương châm "bốn tại chỗ" (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, vật tư phương tiện và kinh phí tại chỗ, hậu cần tại chỗ) và phương châm "chủ động phòng tránh, đối phó kịp thời, khắc phục nhanh và có hiệu quả"; chủ động phối hợp với Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải khu vực I, Công an thành phố Hải Phòng và Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng.
- Công tác tham gia xây dựng pháp luật: Tham gia góp ý các dự thảo sửa đổi Bộ luật Hàng hải 2015, Thông tư về tổ chức Cảng vụ hàng hải, Thông tư 17/2017/TT-BGTVT (điều kiện thuyền viên nước ngoài), Thông tư 41/2016/TT-BGTVT (danh mục giấy chứng nhận và tài liệu tàu), Nghị định 171/2016/NĐ-CP (đăng ký tàu biển)...
Chương III: Một số kiến nghị mang tính giải pháp về luật Hàng hải và việc tổ chức thực hiện luật Hàng hải
Chương III khái quát các điểm bất cập thực tế và đề xuất định hướng hoàn thiện:
- Bất cập về luật nội dung: Các quy định về đại lý, môi giới hàng hải chưa làm rõ trách nhiệm bồi thường khi gây tổn thất cho bên được môi giới; chế định cảng biển còn sơ sài, chưa theo kịp mô hình quản lý cảng hiện đại; có sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa luật hàng hải với các luật mới ban hành; thiếu quy định điều chỉnh vận tải đa phương thức, logistics và an ninh hàng hải.
- Bất cập về luật hình thức: Pháp luật hàng hải Việt Nam mới chỉ có một số quy phạm rải rác về tố tụng (giải quyết tranh chấp, thời hiệu khởi kiện, bắt giữ tàu biển) mà chưa có đạo luật Tố tụng hàng hải riêng biệt như Canada hay Trung Quốc.
Tác giả đề ra 3 nguyên tắc hoàn thiện (phục vụ hội nhập quốc tế; hoàn thiện đồng bộ cả luật nội dung và hình thức; bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật nhưng giữ vững tính đặc thù hàng hải) cùng 6 yếu tố tác động. Trên cơ sở đó, 10 nhóm giải pháp cụ thể được kiến nghị:
- Giải thích từ ngữ: Cần bổ sung giải thích rõ ràng các cụm từ "Kết cấu hạ tầng hàng hải", "Công trình hàng hải" trong văn bản luật.
- Quyền vận tải biển nội địa (Điều 8): Xem xét điều chỉnh lộ trình bảo hộ vận tải nội địa phù hợp cam kết cắt giảm hỗ trợ khi tham gia các hiệp định thương mại quốc tế; giải quyết tình trạng chủ tàu Việt Nam đăng ký tàu mang cờ quốc tịch nước ngoài rồi xin cấp phép cạnh tranh vận tải nội địa.
- Giấy chứng nhận và tài liệu tàu biển (Điều 34): Tháo gỡ bất cập quy định tàu phải mang bản chính Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển, do xung đột với Điều 23 Nghị định số 39/2014/NĐ-CP khi tàu là tài sản thuê tài chính thì công ty cho thuê tài chính giữ bản chính, tàu chỉ có bản sao chứng thực.
- Bảo đảm tài chính khi khiếu nại bắt giữ tàu (Điều 41, Điều 132): Cần có cơ chế đặc thù cho thuyền viên khi thực hiện khiếu nại hàng hải làm phát sinh quyền cầm giữ tàu, vì yêu cầu biện pháp bảo đảm tài chính giá trị lớn khiến thuyền viên không đủ khả năng thực hiện quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp.
- Xung đột quy định về bếp trưởng và cấp dưỡng: Khoản 3 Điều 67 Bộ luật Hàng hải 2015 quy định tàu dưới 10 thuyền viên không bắt buộc có bếp trưởng nhưng bắt buộc phải bố trí cấp dưỡng; trong khi Khoản 2 Điều 27 Thông tư số 23/2017/TT-BGTVT lại cho phép không bố trí cả bếp trưởng lẫn cấp dưỡng (đại phó phân công thuyền viên kiêm nhiệm), tạo ra sự không thống nhất giữa luật và thông tư.
- Hàng hóa chở trên boong (Điều 172): Quy định việc chở hàng trên boong chỉ dựa vào thỏa thuận giữa người vận chuyển với người giao hàng hoặc tập quán thương mại là chưa đầy đủ; cần bổ sung điều kiện bắt buộc về thiết kế kỹ thuật và tiêu chuẩn an toàn của con tàu.
- Cơ cấu lại bố cục Bộ luật Hàng hải: Đưa quy định tai nạn hàng hải (Điều 123) về gần Chương XV (Tai nạn đâm va); chuyển cơ sở đóng mới, sửa chữa, phá dỡ tàu (Điều 45, 48) ra khỏi Chương II; gộp Mục 6 Chương II (Cầm giữ hàng hải) vào Chương VI (Bắt giữ tàu biển); chuyển quy định thủ tục tàu đến, rời cảng từ Chương IV sang Chương V; tách nội dung Cảng cạn ra khỏi chương Cảng biển.
- Tháo gỡ các quy định chưa triển khai trên thực tế: Sớm đưa vào vận hành mô hình Ban Quản lý khai thác cảng; công bố tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải; cấp phép hoạt động cơ sở phá dỡ tàu biển.
- Bổ sung quy định ứng phó dịch bệnh và an toàn cảng biển: Bổ sung hành vi làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm vào Điều 12 (hành vi bị cấm); bổ sung quy định hồi hương và chăm sóc y tế cho thuyền viên trong giai đoạn dịch Covid-19; luật hóa các quy định của Bộ luật IMDG Code về bốc dỡ, lưu kho hàng nguy hiểm tại cảng biển (rút kinh nghiệm từ thảm họa nổ gần 3.000 tấn hóa chất tại cảng Beirut, Lebanon năm 2020).
- Phân định thẩm quyền và chuẩn hóa thuật ngữ: Bổ sung thẩm quyền cho Cảng vụ hàng hải là cơ quan quyết định cuối cùng cho tàu nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, vào, rời cảng biển; chuẩn hóa và phân định ranh giới pháp lý giữa các khái niệm làm dừng hoạt động của tàu gồm "tạm đình chỉ hoạt động" (Điều 34), "tạm giữ tàu biển" (Điều 114), "bắt giữ tàu biển" (Chương VI) và "lưu giữ tàu biển" (Thông tư số 07/2018/TT-BGTVT) nhằm tránh nguy cơ phát sinh khiếu kiện bồi thường thiệt hại kinh tế từ chủ tàu.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp các chỉ số thực tế về hệ thống cảng biển quốc gia và công tác tổ chức bộ máy, thực thi chuyên môn tại Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng:
| Nhóm dữ liệu / Chỉ số |
Số liệu ghi nhận trong văn bản |
Ý nghĩa / Phạm vi áp dụng |
| Quy mô hệ thống cảng biển toàn quốc |
55 cảng biển (17 loại I, 25 loại II, 13 loại III); 219 bến cảng; gần 50 km cầu cảng |
Thực trạng kết cấu hạ tầng cảng biển phục vụ phát triển kinh tế biển Việt Nam. |
| Biên chế Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng |
Ban đầu thành lập (1991): 17 người. Sau 27 năm phát triển: 103 người |
Sự kiện thành lập theo QĐ 598/QĐ-TCCB-LĐ; phản ánh sự mở rộng bộ máy quản lý nhà nước chuyên ngành tại cảng Hải Phòng. |
| Phê duyệt phương án an toàn hàng hải |
116 phương án bảo đảm an toàn hàng hải |
Áp dụng cho các công trình thi công trong vùng nước cảng biển Hải Phòng từ năm 2015 đến thời điểm nghiên cứu. |
| Quy mô Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 |
20 Chương, 341 Điều (tăng 2 Chương, 80 Điều so với BLHH 2005) |
Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động hàng hải, có hiệu lực từ ngày 01/7/2017. |
| Thời gian thường trực giám sát |
24 giờ/ngày, 7 ngày/tuần |
Duy trì hoạt động giám sát luồng qua hệ thống VTS và trực đại diện tại Bạch Long Vỹ, Phà Rừng. |
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc chỉ ra những xung đột trực tiếp giữa các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành (giữa Bộ luật Hàng hải 2015 với Thông tư 23/2017/TT-BGTVT về chức danh cấp dưỡng; giữa Bộ luật Hàng hải với Nghị định 39/2014/NĐ-CP về giấy đăng ký tàu thuê tài chính). Đồng thời, tác giả đã đề xuất các nhóm giải pháp bám sát thực tiễn công tác cảng vụ, đặc biệt là kiến nghị chuẩn hóa thuật ngữ dừng tàu biển, đề xuất phân định thẩm quyền tối hậu của Cảng vụ hàng hải và kiến nghị bổ sung quy định phòng ngừa thảm họa hàng hóa nguy hiểm theo chuẩn IMDG Code.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có phạm vi khảo sát thực tế giới hạn tại một đơn vị quản lý cụ thể là Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng, do đó các phân tích về mô hình tổ chức chưa bao quát hết đặc thù của các cảng vụ hàng hải thuộc các khu vực khác trên toàn quốc. Các số liệu về công tác xử phạt vi phạm hành chính, số vụ điều tra tai nạn hàng hải và số trường hợp bắt giữ tàu biển thực tế tại Hải Phòng chủ yếu được trình bày dưới dạng tổng kết hoạt động định tính, chưa có các bảng biểu thống kê chi tiết theo từng năm.
Hướng nghiên cứu mở rộng cần tập trung vào việc nghiên cứu so sánh chuyên sâu về xây dựng đạo luật Tố tụng hàng hải độc lập tại Việt Nam trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, cũng như hoàn thiện cơ chế pháp lý để sớm triển khai trên thực tế mô hình Ban Quản lý khai thác cảng theo quy định của Bộ luật Hàng hải năm 2015.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên chuyên ngành Luật, Luật Kinh tế, Luật Quốc tế và chuyên ngành Quản lý hàng hải, Kinh tế vận tải biển khi tìm hiểu về chế định pháp lý hàng hải và thực tiễn quản lý cảng biển. Đối với cán bộ pháp chế, công chức ngành giao thông vận tải và nhân viên tại các cảng vụ hàng hải, đề tài cung cấp tài liệu đối chiếu chi tiết về chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền xử lý các tình huống nghiệp vụ như phê duyệt phương án bảo đảm an toàn hàng hải, điều tra tai nạn và kiểm soát luồng giao thông tàu thuyền qua hệ thống VTS. Phần rà soát các điểm mâu thuẫn giữa luật và văn bản dưới luật (về giấy tờ tàu thuê tài chính, định biên thuyền viên, quản lý hàng nguy hiểm) là tư liệu đáng tham khảo cho công tác xây dựng, rà soát và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật ngành hàng hải.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu tổ chức của Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng gồm những phòng nghiệp vụ chính nào?
Theo khóa luận, Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng có các bộ phận chuyên môn tham mưu cho Giám đốc gồm: Phòng An toàn và an ninh hàng hải, Phòng Thủ tục tàu thuyền, Phòng Tổ chức hành chính, cùng hệ thống các Trạm và Đại diện Cảng vụ trực thuộc đặt tại Phà Rừng và huyện đảo Bạch Long Vỹ.
2. Điểm mâu thuẫn giữa Bộ luật Hàng hải 2015 và Thông tư số 23/2017/TT-BGTVT về chức danh cấp dưỡng trên tàu biển là gì?
Khoản 3 Điều 67 Bộ luật Hàng hải 2015 quy định đối với tàu dưới 10 thuyền viên thì không bắt buộc có bếp trưởng nhưng bắt buộc phải bố trí cấp dưỡng. Tuy nhiên, Khoản 2 Điều 27 Thông tư số 23/2017/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải lại quy định trường hợp trên tàu không bố trí cả bếp trưởng và cấp dưỡng thì đại phó phân công thuyền viên phục vụ, dẫn đến sự không thống nhất giữa văn bản luật và thông tư hướng dẫn.
3. Quy định về Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển tại Điều 34 Bộ luật Hàng hải 2015 gặp bất cập gì đối với tàu thuê tài chính?
Khoản 1 Điều 34 Bộ luật Hàng hải 2015 yêu cầu bản chính Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển phải mang theo tàu trong quá trình hoạt động. Tuy nhiên, theo Điều 23 Nghị định số 39/2014/NĐ-CP về hoạt động của công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính, bản chính giấy đăng ký do công ty cho thuê tài chính giữ, tàu chỉ được mang bản sao có chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
4. Tại sao tác giả kiến nghị áp dụng các quy định của Bộ luật quốc tế IMDG Code vào quản lý cảng biển Việt Nam?
Tác giả kiến nghị nội dung này nhằm lấp khoảng trống pháp lý về quản lý hoạt động bốc dỡ, lưu kho hàng hóa nguy hiểm tại cảng biển Việt Nam. Đề xuất này được đưa ra từ bài học kinh nghiệm sau sự cố nổ gần 3.000 tấn hóa chất tại cảng Beirut (Lebanon) vào năm 2020 và các vụ việc mất an toàn thực tế phát sinh trong bảo quản hàng nguy hiểm tại các bến cảng nội địa.
5. Thuyền viên gặp khó khăn gì khi thực hiện quyền yêu cầu bắt giữ tàu biển để giải quyết khiếu nại hàng hải?
Mặc dù Điều 41 Bộ luật Hàng hải 2015 cho phép khiếu nại hàng hải làm phát sinh quyền cầm giữ (và bắt giữ) tàu biển, nhưng theo Điều 132, người yêu cầu bắt giữ tàu phải thực hiện các biện pháp bảo đảm tài chính có giá trị rất lớn. Thuyền viên là đối tượng yếu thế thường không đủ năng lực tài chính để nộp khoản bảo đảm này, dẫn đến việc không thể thực hiện quyền bắt giữ tàu để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Kiên đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật hàng hải Việt Nam gắn liền với khung điều chỉnh của Bộ luật Hàng hải năm 2015. Thông qua khảo sát thực tiễn tại Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng, công trình phản ánh khách quan tình hình tổ chức bộ máy, công tác kiểm tra, giám sát an toàn hàng hải và các phương án đảm bảo luồng lạch trên địa bàn. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật được xây dựng cụ thể từ vướng mắc thực tế, chỉ ra nhiều điểm chồng chéo văn bản và đề xuất phương hướng bổ sung quy chuẩn kỹ thuật thiết thực cho ngành hàng hải.