CHƯƠNG I NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE DIEU KIEN KET HON VÀ HẬU QUA PHAP LY CUA CAC VI PHAM DIEU KIEN KET HON 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về kết hôn Theo Từ dién Bách khoa Việt Nam, Kết hôn được hiểu là sự kết hợp hai người khác giới dé lập gia đình, sinh con đẻ cái, thực hiện chức năng sinh học và các chức năng khác của gia đình”[40, tr. Theo Từ dién giải thích thuật ngữ Luật học của trường Đại học Luật Hà Nội, hôn nhân được hiểu là: “Sw lién kết giữa người nam với người nữ dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đăng theo điều kiện và trình tự nhất định, nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hòa thuận” [62, tr.
Theo quan điểm của luật gia Nguyễn Quang Quýnh, “Giá thú (hay hôn thú) là sự phối hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà theo thể thức luật định” [51, tr234]. Luật gia Vũ Văn Mẫu lại nhìn nhận về kết hôn (hay còn gọi là giá thú) như sau: “Giá thú được hiểu là việc trai gái lấy nhau trước mặt viên hộ lại và phát sinh ra những nghĩa vụ tương hỗ cho hai bên về phương diện đồng cư, trung thành và tương trợ”. Tiếp cận dưới góc độ xã hội học, quan hệ hôn nhân gia đình là loại quan hệ xã hội được xác lập giữa hai chủ thể nam và nữ, tồn tại và phát triển theo quy luật của tự nhiên với mục đích đảm bảo sự sinh tồn, phát triển của xã hội loài người. Ngay cả trong xã hội nguyên thủy của loài người, khi không có bất kỳ một quy tắc, một quy định nào thì quan hệ hôn nhân gia đình vẫn được xác lập, con người vẫn chung sống, sinh con đẻ cái và tiếp nối từ thế hệ này qua thế hệ khác cho tới ngày nay.
Do đó, quyền kết hôn cũng là một trong những quyền tự nhiên của con người, giống như quyền được sống, quyền được tự do, quyền được mưu cau hạnh phúc. Tuy nhiên, trải qua các giai đoạn lịch sử, với sự xuất hiện của các hình thái kinh tế xã hội khác nhau, đặc biệt với sự ra đời của nhà nước và pháp luật, những quy tắc xã hội dần xuất hiện nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội khách quan mang tính ý chí. Từ đó, kết hôn không còn là một quyền tự do theo bản năng của con người, mà trở thành một quan hệ xã hội được đặt dưới sự điều chỉnh của pháp luật. Dưới góc độ pháp lý, kết hôn là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân giữa hai chủ thể nam và nữ, kể từ thời điểm quan hệ hôn nhân được xác lập, giữa họ phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng với nhau.
Theo định nghĩa chính thức của pháp luật Việt Nam hiện hành được quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật HN&GD năm 2014 thì: “Kế: hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chong theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”. Nói cách khác, kết hôn được xem xét với ý nghĩa là một chế định pháp lý được ghi nhận trong văn bản quy phạm pháp luật về điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn, các hình thức xử lý đối với vi phạm pháp luật về kết hôn. Pháp luật Việt Nam thời kỳ phong kiến không có điều khoản nào quy định về “giá thú ”, “kết hôn ” hay “hôn nhân ”, mà đây chi là khái niệm tong quát dé chi việc Al» hai bên nam nữ lấy nhau thành vợ chồng. Đến thời kỳ Pháp thuộc, những quy định thời phong kiến tiếp tục được kế thừa, tuy nhiên, cũng có sự sửa đôi, bố sung theo quy định của Bộ luật dân sự Napoleon của Pháp năm 1804.
Vì vậy, trong thời kỳ này khái niệm kết hôn cũng chưa được quy định một cách rõ ràng. Cho tới khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đến nay, Nhà nước ta đã lần lượt ban hành 04 đạo luật đề điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình, bao gồm: Luật HN&GD năm 1959; Luật hôn HN&GD năm 1986; Luật HN&GD năm 2000 và Luật HN&GD năm 2014. Trong đó, Luật HN&GD năm 1959 và Luật HN&GD năm 1986 chưa đưa ra khái niệm về kết hôn, mà khái niệm này chỉ được giải thích trong phan giải nghĩa một số danh từ: “Kế? hôn là việc nam nữ lấy nhau thành vợ thành chong theo quy định của pháp luật”. Đến khi Luật HN&GD năm 2000 ra đời thì khái niệm kết hôn mới chính thức đưa tại khoản 2 Điều 8 như sau: “Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chong theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” [19].
Theo đó, quan hệ hôn nhân phải đảm bảo hai yếu tố là thé hiện ý chí của cả nam và nữ là mong muốn được kết hôn với nhau và quan hệ đó được Nhà nước thừa nhận. Định nghĩa về kết hôn này được Luật HN&GD năm 2014 tiếp tục kế thừa và ghi nhận tại khoản 5 Điều 3: “Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn va đăng ký kết hôn” [20]. Như vậy, thuật ngữ kết hôn trong Luật HN&GD năm 2014 đã phan ảnh được toàn diện, đầy đủ bản chất của quan hệ hôn nhân trong xã hội hiện nay. Kết hôn được hiểu là việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng và được Nhà nước thừa nhận và để được Nhà nước thừa nhận, hai bên nam nữ khi xác lập quan hệ vợ chồng phải tuân thủ các quy định của pháp luật về kết hôn, cụ thể là về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.
Dưới góc độ pháp lý, kết hôn phải thỏa mãn hai yếu tố sau: Thứ nhất, khi quyết định việc kết hôn, hai bên nam nữ phải thể hiện ý chí mong muốn kết hôn với nhau, xác lập quan hệ vợ chồng với nhau, mặt ý chí phải thống nhất với hành vi thể hiện của nam nữ là phải hoàn toàn tự nguyện, không bị cưỡng ép, lừa dối, nhằm lẫn. Day là cơ sở dé đảm bảo cho nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiễn bộ được tuân thủ và đo đó, khi kết hôn, người kết hôn phải bày tỏ ý chí tự nguyện kết hôn trước cơ quan Nhà nước có thâm quyền. Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, cơ quan có thâm quyền đăng ký kết hôn sẽ tiếp nhận Tờ khai đăng ký kết hôn và giải quyết việc đăng ký kết hôn. Khi đó, hai bên nam, nữ phải thé hiện ý chí của mình rằng họ hoàn toàn mong muốn được kết hôn với nhau, găn bó với nhau trong quan hệ vợ chồng và cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đăng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững, sự tự nguyện của nam nữ trong việc kết hôn vừa là điều kiện dé dam bao cho hôn nhân có giá trị pháp lý và vừa là cơ sở xây dựng gia đình bền vững.
Trong trường hợp khi tiến hành đăng ký kết hôn, phát hiện thay có dấu hiệu của sự lừa dối, cưỡng ép hoặc kết hôn giả tao, cơ quan có thầm quyền sẽ từ chối việc đăng ký kết hôn. Trường hop đã đăng ký kết hôn mà phát hiện thay các dấu hiệu vi phạm sự tự nguyện kết hôn thì việc kết hôn có thé bị hủy khi có yêu câu. 10 Thứ hai, việc kết hôn phải được Nhà nước thừa nhận và chỉ được Nhà nước thừa nhận khi việc xác lập quan hệ hôn nhân tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Nhà nước thực hiện chức năng quản lý bằng việc đưa ra các quy định đề điều chỉnh vấn đề kết hôn, do ảnh hưởng của phong tục, tập quán, truyền thống lịch sử, văn hóa của từng vùng mién, địa phương khác nhau, vì vậy quy định của pháp luật về kết hôn cũng mang những nét đặc thù riêng biệt của từng Nhà nước, từng quốc gia.
Ví dụ: theo quy định của Luật Gia đình của Cộng hòa Liên bang Đức thì người chưa thành niên và người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự muốn kết hôn thì phải được sự đồng ý của người đại diện, người giám hộ; một số nước trên thế giới hiện nay do ảnh hưởng của Hồi giáo vẫn thừa nhận chế độ đa thê, như: Iran cho phép một người chồng được phép lấy bốn người vợ; hôn nhân đồng giới cũng đã được cho phép và công nhận hợp pháp tại một số quốc gia trên thế giới như Hà Lan (2001), Bi (2003), Áo (2019). Ngoài ra, nam nữ kết hôn buộc phải đáp ứng quy định về đăng ký kết hôn. Tại Điều 9 Luật HN&GD năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyên thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc hôn nhân không được đăng kỷ theo quy định tại khoản này thì không có giả trị pháp lý” [20].
Khác với các nghi lễ về cưới hỏi, dạm ngõ, tô chức hôn lễ tại nhà thờ,. thuộc về phong tục, tập quán, tín ngưỡng của từng dân tộc, từng địa phương, đăng ký kết hôn là một thủ tục pháp lý, là cơ sở dé luật pháp bảo vệ quyền lợi và sự ràng buộc về nghĩa vụ của môi người trong quan hệ vợ chong. Ở Việt Nam, theo quy định tại Điều 17 Luật Hộ tịch năm 2014 thì cơ quan có thẩm quyền về đăng ký kết hôn là UBND cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ thực hiện đăng ký kết hôn. Về thủ tục đăng ký kết hôn, để đảm bảo việc kết hôn phù hợp hơn với các quy định của pháp luật, UBND xã sau khi nhận hồ sơ đăng ký kết hôn phải tiến hành điều tra, xác minh về những van dé mà các bên nam nữ đã khai.
Nêu những điêu mà các bên nam nữ đã khai là đúng và phù hợp với các điêu 11 kiện kết hôn thì UBND xã có trách nhiệm tiến hành đăng ký việc kết hôn cho họ theo đúng quy định của pháp luật.