CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Sự cần thiết của đề tài Mua lại cổ phần đã được xem là một chiến lược tài chính rất quan trọng đối với các Công ty ở các nước phát triển như Mỹ, Châu Âu (Barclay and Smith, 1988, Grullon and Michaely, 2002). Theo số liệu từ Compustat, giữa năm 1984 và 2000 các công ty Mỹ đã dành khoảng 26% tổng thu nhập hàng năm của họ vào việc mua lại, hơn 90% trong số này đã tiến hành chương trình mua lại trên thị trường mở. Tại Châu Âu, công bố mua lại cổ phần lên tới 47,2 tỷ Euro trong năm 1997 so với 14,2 tỷ Euro trong năm 1996 (Lasfer, 2011).
Và theo thống kê của các nghiên cứu trước đây, có khoảng 1159 chương trình mua lại cổ phần trong giai đoạn 1989 – 1997 tại thị trường Canada (Ikenberry, Lakonishok, 2000), 264 chương trình mua lại cổ phần trong giai đoạn 1985 – 1998 tại Anh (Mermaelen and Rau, 2002), 452 chương trình mua lại cổ phần từ năm 1995 đến năm 1998 tại Nhật Bản (Hatakeda and Isagawa, 2003), 336 chương trình mua lại cổ phần trong giai đoạn 1994 – 2000 tại Hàn Quốc (Park and Jung, 2005), 800 chương trình mua lại cổ phần từ 1993 – 1997 tại Hong Kong (Zhang, 2005). Thị trường chứng khoán phản ứng tích cực với những việc mua lại cổ phần và những thông báo mua lại này tạo ra tỷ suất sinh lợi bất thường trung bình từ 3% đến 5% xung quanh ngày thông báo (Chang, Chen, & Chen, 2010; Ikenberry et al., 1995; Lie, 2005; Rau & Vermaelen, 2002; Zhang, 2002). Hơn nữa còn có sự gia tăng đáng kể của giá cổ phiếu mua lại trong những năm sau, ngụ ý rằng thị trường phản ứng chậm với thông tin mua lại cổ phần trong ngắn hạn. Nhưng tại sao các công ty mua lại cổ phần của mình? Lý thuyết về tài chính cũng như các bằng chứng thực nghiệm tại các thị trường chứng khoán trên thế giới đã đưa ra 3 giả thuyết chính làm động cơ của việc mua lại cổ phần trên thị trường mở.
Thứ nhất, các công ty mua lại cổ phần do giá cổ phiếu trên thị trường bị định giá thấp (giả thuyết định giá thấp). Thứ hai, giả thuyết tín hiệu khẳng định rằng quyết định mua lại đưa ra thông tin quan trọng về viễn cảnh tương lai tốt hơn (thu nhập, 2 khả năng sinh lợi, hiệu quả hoạt động). Thứ ba, các công ty mua lại cổ phần để giảm chi phí đại diện, chi phí đại diện cao ngụ ý một dòng tiền tự do cao và cơ hội đầu tư thấp (giả thuyết dòng tiền tự do). Mặc dù việc mua lại cổ phần đã rất phổ biến trên thế giới nhưng chỉ mới phổ biến ở Việt Nam trong vài năm trở lại đây, đặc biệt là từ khi xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 đến nay.
Chương trình IPO thành công trước năm 2008 đã giúp các công ty tích lũy được lượng tiền mặt lớn từ thặng dư vốn cổ phần và lợi nhuận giữ lại. Chính điều này đã tạo thêm điều kiện thuận lợi cho các công ty tại Việt nam đẩy mạnh việc tiến hành mua lại cổ phần. Quy định pháp lý của Mỹ và Châu Âu bắt buộc các công ty mua lại cổ phần phải công bố chi tiết giao dịch hàng quý; các nước như Thụy Điển, Canada, Hong Kong, Singapore thì buộc các công ty mua lại cổ phần phải công bố chi tiết giao dịch đã mua lại hàng ngày; ở Việt Nam, các công ty chỉ phải công bố kết quả mua lại cổ phần trong vòng 10 ngày sau kể từ ngày kết thúc chương trình mua lại cổ phần thực tế. Ngoài ra, quy trình tiến hành chương trình mua lại cổ phần ở các thị trường chứng khoán cũng có sự khác biệt lớn.
Ở Mỹ, chương trình mua lại cổ phần do Hội đồng quản trị của công ty quyết định và thực hiện mà không cần phải thông qua Đại hội đồng cổ đông như các nước Châu Âu, hay xin Tòa án kinh tế như Thụy Điển. Tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Hội đồng quản trị được quyền quyết định mua lại cổ phần không quá 10% cổ phần phổ thông trong 12 tháng mà không cần Đại hội đồng cổ đông phê duyệt. Sự khác biệt lớn này khiến cho phản ứng của nhà đầu tư đối với các thông báo mua lại cổ phần khác nhau, kỳ vọng vào cơ hội đầu tư cũng khác nhau, ảnh hưởng đến hành vi giá cổ phần phản ứng lại với thông báo mua lại trên thị trường. Do đó, sự khác biệt về thể chế, quy mô và sự trưởng thành của thị trường chứng khoán đặc biệt là các quy định pháp lý về mua lại cổ phần, quy định về công bố thông tin nên các kết quả nghiên cứu trước đây không thể áp dụng và so sánh một cách cứng nhắc với thị trường đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng.
3 Vấn đề đặt ra rằng, với quy mô, thể chế, sự trưởng thành và các quy định pháp lý của thị trường chứng khoán Việt Nam, liệu việc mua lại cổ phần của các công ty niêm yết tại Việt Nam có tác động đến giá cổ phiếu như kết quả nghiên cứu ở các nước phát triển trên thế giới hay không? Động cơ nào thúc đẩy một chương trình mua lại cổ phần của công ty và nhà đầu tư có tiếp nhận những tín hiệu mà công ty đang báo hiệu trong chương trình mua lại cổ phần hay không? 2. Mục tiêu nghiên cứu Tôi tiến hành bài nghiên cứu này với dữ liệu là các chương trình mua lại cổ phần của tất cả các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam từ năm 2008 đến hết tháng 6/2014 nhằm đạt được 3 mục tiêu nghiên cứu: Thứ nhất, hành vi giá cổ phần xung quanh ngày thông báo chương trình mua lại cổ phần; Thứ hai, thành quả giá trong dài hạn của chương trình mua lại cổ phần (24 tháng sau tháng thông báo mua lại cổ phần); Thứ ba, kiểm tra các giả thuyết làm động cơ của việc mua lại cổ phần của các công ty niêm yết. Bài nghiên cứu này của tôi khác với bài nghiên cứu trước đây ở thị trường chứng khoán Việt Nam (Hạ Tấn Minh, 2013, Tác động của việc mua lại cổ phần lên giá cổ phiếu – Bằng chứng ở Việt Nam) ở điểm: Thứ nhất, tôi tập trung phân tích thành quả giá cổ phần trong 24 tháng sau tháng thông báo mua lại và mở rộng mẫu nghiên cứu đến hết năm 2013 và nửa đầu năm 2014 do đó tập dữ liệu sử dụng sẽ dài hơn và gần hiện tại hơn (bài nghiên cứu trước đây chỉ trong vòng 18 tháng và dữ liệu dừng tại năm 2012). Tôi hi vọng khi nghiên cứu với dữ liệu dài hơn và gần với hiện tại hơn, kết quả của bài nghiên cứu sẽ cung cấp bằng chứng thực nghiệm thiết thực cho các giả thuyết về các tác động của việc mua lại cổ phần của các công ty niêm yết tại Việt Nam.
4 Thứ hai, tôi tập trung vào nghiên cứu các giả thuyết (định giá thấp, hiệu quả hoạt động trong tương lai, dòng tiền thặng dư) làm động cơ cho các công ty mua lại cổ phần trên thị trường với các biến và dữ liệu khác (bài nghiên cứu trước tập trung vào nghiên cứu giả thuyết định giá thấp và tỷ lệ cổ phần mua lại so với vốn chủ sở hữu). Câu hỏi nghiên cứu Để đạt được ba mục tiêu nghiên cứu nêu trên, tôi tiến hành nghiên cứu các thông báo chương trình mua lại cổ phần trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2008 đến tháng 6 năm 2014 để trả lời ba câu hỏi sau: - Giá cổ phần xung quanh ngày thông báo chương trình mua lại cổ phần tăng hay giảm? - Thị trường phản ứng ngay lập tức hay phản ứng chậm với các thông báo mua lại cổ phần, giá cổ phần sẽ tăng hay giảm sau thông báo mua lại? - Động cơ nào là quan trọng nhất thúc đẩy các nhà quản lý tiến hành một chương trình mua lại cổ phần? Trong phần tiếp theo của bài nghiên cứu, tôi sẽ trình bày lý thuyết tài chính về việc mua lại cổ phần và các giả thuyết làm động cơ kinh tế của việc mua lại cổ phần, các kết quả nghiên cứu trước đây. Chi tiết về dữ liệu thống kê và phương pháp nghiên cứu được trình bày trong phần 3 và kết quả thực nghiệm trình bày trong phần 4 của bài nghiên cứu. Cuối cùng là phần tóm tắt kết quả nghiên cứu, thảo luận và đưa ra hạn chế của bài nghiên cứu.
5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Các tài liệu lý thuyết tài chính đưa ra 3 giả thuyết chính giải thích vì sao các công ty mua lại cổ phần của họ (Grullon & Michaely, 2004; Ikenberry & Vermaelen, 1995; Kahle, 2002; Nohel & Tarhan, 1998): giả thuyết định giá thấp, giả thuyết tín hiệu và giả thuyết dòng tiền tự do 2.1 Giả thuyết định giá thấp Giả thuyết này đưa ra lập luận rằng công ty tiến hành chương trình mua lại cổ phần của họ vì giá cổ phần trên thị trường bị định giá quá thấp. Khi công bố chương trình mua lại cổ phần, các nhà quản lý chỉ ra rằng họ đang làm như vậy để phản ứng lại với việc định giá sai (theo Vermaelen, 1981). Theo Ikenberry and Vermaelen (1996), nếu các nhà quản lý nhận thấy giá cổ phần được giao dịch dưới giá trị nội tại của nó, việc mua lại cổ phần sẽ cung cấp một cơ hội để chuyển giao tài sản từ nhà đầu tư ngắn hạn sang nhà đầu tư dài hạn. Khi các nhà quản lý tin rằng cổ phiếu các công ty của họ đang bị định giá thấp trên thị trường, họ có thể xem một chương trình mua lại cổ phần thị trường mở là một dự án có NPV dương (Lie, 2005).
Giả thuyết định giá thấp cũng dựa trên giả thiết rằng bất đối xứng thông tin giữa những người trong nội bộ công ty (nhà quản lý) và cổ đông sở hữu có thể làm cho công ty bị định giá sai. Nếu nhà quản lý cho rằng giá cổ phần bị định giá thấp, công ty có thể mua lại cổ phần như một tín hiệu cho thị trường hoặc đầu tư vào cổ phiếu của họ và đạt được lợi ích từ phần chênh lệch do định giá thấp đó. Giá cổ phiếu phản ứng tích cực với việc công bố chương trình mua lại cổ phần có thể hiệu chỉnh sự định giá sai.