Chương 1 “Giới thiệu” đề cập đến tính cấp thiết của dự án, dựa vào bối cảnh thực tế và bối cảnh nghiên cứu. Trong chương này cũng đưa ra vấn đề, mục tiêu và phạm vi của nghiên cứu. Thêm vào đó, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu cũng được đề cập một cách khái quát. Cuối cùng, Chương này cũng nêu lên được ý nghĩa của nghiên cứu, bao gồm ý nghĩa về mặt lý thuyết và thực tiễn.
Để làm cơ sở cho việc đưa ra khung lý thuyết và khung phân tích. Chương 2 “Tổng quan tài liệu nghiên cứu” giới thiệu những nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu đã được các tác giả trong và ngoài nước thực hiện, liên quan đến phân tích CGT và phân tích HQSX để tìm ra những điểm nghẽn trong nghiên cứu, là cơ sở vững chắc cho việc đề xuất khung phân tích chung cho luận án. Chương 3 “Phương pháp nghiên cứu” giới thiệu các công cụ phân tích được sử dụng trong phân tích CGT và SFA. Nội dung của Chương này là nền tảng cho việc phân tích để đưa ra những kết quả nghiên cứu một cách có khoa học, dựa vào những lý thuyết được trình bày.
13 Chương 4 “Phân tích chuỗi giá trị cá tra ở ĐBSCL” trong chương này, luận án sẽ sử dụng một số công cụ phân tích CGT như: mô tả sơ đồ CGT, phân tích kinh tế CGT, phân tích rủi ro, phân tích mô hình PEST, phân tích mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Porter để phát hiện những điểm nghẽn trong hoạt động thị trường của các tác nhân tham gia. Cuối cùng, nội dung của Chương này sẽ chỉ ra được những thuận lợi và khó khăn bên trong và bên ngoài của các tác nhân tham gia trong CGT, làm cơ sở cho việc xây dựng các giải pháp nâng cấp CGT và HQSX của các hộ nuôi. Chương 5 “Phân tích HQSX của các hộ nuôi cá tra ở ĐBSCL” trong chương này, phương pháp SFA sẽ được sử dụng để đo lường và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến HQSX của các hộ nuôi. Chương 6 “Giải pháp nâng cấp CGT và nâng cao HQSX của các hộ nuôi cá tra ở ĐBSCL” dựa vào kết quả có được ở các chương trước đó, những giải pháp để nâng cấp CGT và nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNCBXK và HQSX của các hộ nuôi cá tra ở ĐBSCL được xây dựng, sử dụng công cụ phân tích ma trận SWOT.
Chương 7 “Kết luận và Kiến nghị” dựa vào mục tiêu nghiên cứu cụ thể, nội dung của Chương này sẽ tóm tắt những kết quả nghiên cứu đạt được ứng với các mục tiêu đề ra. Đồng thời, Chương này cũng đề xuất những kiến nghị cụ thể cho từng tổ chức/đơn vị và các tác nhân tham gia trong CGT cần can thiệp/hỗ trợ như thế nào để thực thi được các giải pháp đã được đưa ra ở Chương 6. 14 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. KHÁI NIỆM CHUỖI GIÁ TRỊ Có nhiều định nghĩa khác nhau về CGT đã được đưa ra bởi những tác giả và tổ chức trên thế giới.
Cụ thể, theo Raikes & et al (2000), CGT của một sản phẩm mô tả một luồng dịch vụ và nhập lượng vật chất trong khâu sản xuất để tạo ra một sản phẩm cuối cùng (một sản phẩm hay dịch vụ). Trong khi đó, Kaplinsky và Morris (2001) và Hellin và Meijer (2006) cho rằng, CGT là một loạt các hoạt động được đòi hỏi để mang một sản phẩm từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng thông qua nhiều khâu hoặc công đoạn khác nhau. Những tác nhân tham gia trong CGT đơn giản có thể bắt đầu từ những nhà cung cấp giống, nông dân, những trung gian mua bán, nhà chế biến, nhà xuất - nhập khẩu, những người bán lẻ và cuối cùng là người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong thực tế có những CGT phức tạp hơn.
Có nghĩa là có nhiều kênh phân phối hơn và được phân phối cho nhiều đối tượng người mua khác nhau. Nhìn chung, khái niệm CGT về mặt bản chất là không khác nhau, tuy nhiên tùy vào mục tiêu nhấn mạnh của từng tác giả về các vấn đề có liên quan sẽ đưa ra những khái niệm tương đối khác nhau. Tóm lại, có thể chia làm 3 nhóm khái nhiệm chính: (i) CGT được xem là tập hợp của các hoạt động: nhóm khái niệm này nhấn mạnh đến việc mô tả các hoạt động khác nhau được thực hiện trong một CGT. Khái niệm này được đưa ra và áp dụng bởi Ngân hàng Thế giới - World Bank (2010), Tổ chức Lương Nông Thế giới (Food and Agriculture Organization -FAO, 2007), Viện Phát triển và Môi trường Quốc tế (International Institute for Environment and Development - IIED 2008), GTZ (2008) và Tổ chức Lao động Thế giới (International Labour Organization - ILO 2009); (ii) CGT được xem là tập hợp các tác nhân tham gia trong CGT.
Khái niệm này nhấn mạnh đến hoạt động của các tác nhân và cơ chế phối hợp giữa các tác nhân với nhau trong quá trình hoạt động. Khái niệm này được đề xuất và áp dụng bởi Trung tâm Cà Thế giới (International Potato Center CIP, 2006) và Tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên Hiệp Quốc United 15 Nations Industrial Development Organisation – UNIDO, 2011); và (iii) CGT được xem là một mạng lưới chiến lược. Khái niệm này nhấn mạnh đến việc đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, thông qua các hoạt động tạo thêm giá trị cho sản phẩm, bên cạnh sự hỗ trợ thúc đẩy của các tổ chức, đơn vị bên ngoài chuỗi. Khái niệm này được đề xuất và ứng dụng bởi Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (The International Center for Tropical Agriculture – CIAT, 2007) và DFID (2008).
Tóm lại, có thể mô tả một cách tổng quát CGT của một sản phẩm nông nghiệp qua Hình 2.1 dưới đây: Cung Sản Thu Sơ chế Thương Tiêu cấp đầu xuất gom chế mại dùng vào biến Giống Làm đất Thu gom Làm sạch Bán sỉ Hoạt động Phân bón Gieo rau Vận chuyển Đóng gói Bán lẻ Thuốc Chăm sóc Trong BVTV Thu hoạch nước Lao động nghèo Các nhà cung Nông dân, Tổ Người thu Nhà sơ chế, Người bán sỉ, Tác nhân cấp đầu tư HT, HTX gom chế biến người bán lẻ đầu vào Xuất khẩu Chính quyền địa phương, ngân hàng, các Sở/ngành liên quan,… Nguồn: Thiết kế của tác giả Hình 2. Sơ đồ chuỗi giá trị của một sản phẩm Ghi chú: Các giai đoạn sản xuất/khâu: Các tác nhân chính thực hiện các khâu trong chuỗi: Người tiêu dùng cuối cùng: Nhà hỗ trợ chuỗi giá trị: 16 2. PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ Theo Kaplinsky và Morris (2001), không có cách thức nào được gọi là tuyệt đối để thực hiện một phân tích CGT. Nói cách khác, CGT rất linh động, tùy thuộc vào vấn đề được đặt ra cho người nghiên cứu.
Tuy nhiên, có 4 đặc điểm quan trọng chung của một phân tích CGT trong lĩnh vực nông nghiệp, bao gồm: 1) Phân tích CGT phải vẽ ra được một cách có hệ thống những tác nhân tham gia trong toàn CGT. 2) Phân tích CGT phải đánh giá được đặc điểm của các tác nhân tham gia, cấu trúc lợi nhuận và chi phí, dòng sản phẩm đi qua chuỗi, lao động tham gia trong các khâu của CGT và các kênh phân phối trong chuỗi. Phân tích CGT phải xác định được phân phối lợi nhuận giữa các tác nhân tham gia trong CGT. Đồng thời phải chỉ ra được các tác nhân trong chuỗi hưởng lợi được từ sự hỗ trợ của các tổ chức hoặc đơn vị thúc đẩy nào.
3) Phân tích CGT phải chỉ ra được vai trò của việc nâng cấp CGT, dính líu đến việc đổi mới hoặc cải tiến sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm, tạo sản phẩm giá trị gia tăng, cải thiện phân phối thu nhập giữa các tác nhân hoặc (cải thiện hệ thống kênh phân phối), đầu tư, đổi mới công nghệ và tạo thêm việc làm, cắt giảm chi phí sản xuất. 4) Phân tích CGT phải lồng ghép đánh giá tác động của các yếu tố bên ngoài và bên trong CGT để đến hoạt động của CGT. Nói cách khác, mục tiêu cuối cùng của phân tích CGT là để tìm ra những điểm nghẽn và thuận lợi trong các khâu của CGT để đề xuất những giải pháp nâng cấp CGT. Trong thực tế nhiều năm qua, kể cả trong và ngoài nước, thông qua phân tích CGT, sử dụng những công cụ phân tích định tính và định lượng khác nhau, các tác giả đã đưa ra được những giải pháp khác nhau để nâng cao lợi nhuận của CGT.
Những giải pháp này hướng đến việc cải thiện hoạt động của các tác nhân trong các khâu của CGT, tạo điều kiện nâng cao lợi nhuận của toàn CGT. Những giải pháp này tập trung vào việc đề xuất các hộ sản xuất nói chung và hộ nuôi thủy sản nói riêng nên chủ động tìm kiếm nguồn thức ăn có chi phí thấp để cắt giảm được chi 17 phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhiều nhất như có thể. Đồng thời, các giải pháp được đưa ra cũng khuyến cáo hộ sản xuất nên cải thiện việc sử dụng dư thừa các yếu tố đầu vào, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh (Khoi, L.D & et al, 2008; Võ Thị Thanh Lộc, 2009; Nguyễn văn Thuận và Võ Thành Danh, 2014). Bên cạnh nhóm giải pháp hướng đến việc cắt giảm chi phí sản xuất, các tác giả cũng đã đề xuất những giải pháp liên quan đến vấn đề cải thiện và đổi mới chất lượng sản phẩm.
Các tác giả thực hiện nghiên cứu CGT thủy sản đã khuyến cáo những hộ sản xuất thủy sản nên kích thích và đáp ứng nhu cầu cho khách hàng mạnh mẽ và hiệu quả hơn để duy trì và thúc đẩy những thị trường hiện tại, qua việc duy trì chất lượng sản phẩm ổn định (MacAlister Elliott & Partners LTD, 1999; Arie Pieter Duijn và et al, 2012). Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng đã đề xuất các tổ chức nông dân nuôi thủy sản nên tạo mối quan hệ tốt và thường xuyên với các cơ quan xúc tiến thương mại tại địa phương để tăng cường các hoạt động quảng bá sản phẩm trên cả thị trường nội địa và thị trường thế giới, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất và kinh doanh và phát triển thương hiệu của sản phẩm (MacAlister Elliott & Partners LTD, 1999; Khoi, L.P, 2012; Ahmed, 2006; Merino & et al, 2011; Mustafa Tolga Tolon, 2017; Hung L.