Đặt vấn đề Sắn (Manihot esculenta Crantz) là cây lương thực ăn củ hàng năm, có thể sống lâu năm, thuộc họ thầu dầu Euphorbiaceae. Có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của châu Mỹ La tinh và được trồng cách đây khoảng 5. Cây sắn là cây lương thực, thực phẩm chính của hơn 500 triệu người, là cây lương thực đứng thứ sáu trên thế giới và là một trong 15 cây trồng chiếm diện tích lớn nhất trong sản xuất nông nghiệp của loài người (Đinh Thế Lộc, 1997) [3]. Ngoài ra sắn còn được sử dụng làm thức ăn trong chăn nuôi, là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến: bột ngọt, rượu, cồn, bánh kẹo, mì ăn liền.Và là cây có giá trị xuất khẩu cao.
Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực, thức ăn gia súc quan trọng sau lúa và ngô, đồng thời sắn là nguồn nguyên liệu chính cho công nghiệp chế biến bột ngọt, bio- ethanol, mì ăn liền, bánh kẹo, siro, nước giải khát, bao bì, ván ép, phụ gia dược phẩm, màng phủ sinh học và chất giữ ẩm cho đất. Năm 2017, diện tích gieo trồng sắn của cả nước đạt 532.501 ha, năng suất đạt 19 tấn/ ha, sản lượng đạt 10. [18] Những năm gần đây sắn nước ta đang chuyển đổi nhanh chóng từ cây lương thực thành cây công nghiệp có lợi thế cao, có thể cạnh tranh ở thị trường trong nước và trên thế giới. Sắn là nguồn nguyên liệu chính cung cấp cho các nhà máy chế biến tinh bột, thức ăn chăn nuôi với sản phẩm khá đa dạng và phong phú.
Công nghiệp chế biến sắn đã và đang ngày càng đa dạng hóa sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng tốt hơn của người dân. Để đáp ứng nguồn nguyên liệu hiện nay thì giống tốt cho năng suất cao, chất lượng tốt và thích ứng rộng đóng vai trò rất quan trọng. Chính vì vậy, các nhà khoa học trong và ngoài nước rất quan tâm đến công tác chọn lọc giống m 2 sắn mới có năng suất cao, chất lượng tốt nhằm đáp ứng nhu cầu hiện nay cũng như sau này. Xuất phát từ thực tế đó, em tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của tập toàn giống sắn năm 2019 tại Thái Nguyên ’’ 1.2 Mục đích - Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của tập đoàn giống sắn tại Thái Nguyên góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, phục vụ công tác học tập, nghiên cứu và chọn tạo giống sắn cho năng suất cao, phẩm chất tốt đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa.3 Yêu cầu - Theo dõi khả năng sinh trưởng của các giống sắn tham gia nghiên cứu.
- Theo dõi đặc điểm sinh học và đặc điểm thực vật học của các giống sắn tham gia nghiên cứu. - Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng của các giống tham gia nghiên cứu.4 Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu về chọn giống, là cơ sở khoa học khẳng định được một số giống sắn cho năng suất cao, chất lượng tốt và thời điểm thu hoạch thích hợp với điều kiện canh tác tại tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh miền núi phía bắc.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Xác định được các giống sắn có năng suất và chất lượng cao để đưa vào sản xuất đại trà, đáp ứng nhu cầu sản xuất hiện nay. m 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài 2.
Cơ sở khoa học của đề tài Để đánh giá các giống sắn cần dựa vào các đặc điểm sinh trưởng và phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất: Số lượng củ/gốc; chiều cao cây; tổng số lá; tuổi thọ trung bình của lá; khả năng phân cành, chỉ số diện tích lá, tỷ lệ chất khô, chỉ số thu hoạch, năng suất củ khô, năng suất sinh học, năng suất tinh bột. Trong đó, năng suất sinh học, chỉ số thu hoạch được coi là chỉ tiêu chính để chọn lọc. Sắn là loại cây trồng có khả năng thích ứng rộng, song việc chọn lọc được một số giống sắn mới có khả năng cho năng suất cao ở tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp là một vấn đề khó khăn. Do yếu tố môi trường thay đổi đã tạo nên sự tương tác gen với môi trường, trong đó tính trạng năng suất củ tươi dưới tác động của môi trường khác nhau (khí hậu, đất đai, điều kiện canh tác.) thì năng suất củ tươi bị ảnh hưởng rất lớn.
Nên việc đánh giá năng suất của các dòng ưu tú vào các giai đoạn cuối của chọn lọc là cơ hội để xác định được giống thích hợp nhất cho từng vùng sản xuất. Cơ sở thực tiễn của đề tài Thái Nguyên là một tỉnh Trung du miền núi phía Bắc có tổng diện tích là 356.282 ha, đất đã sử dụng là 246. Theo Tổng cục thống kê sơ bộ năm 2017 diện tích đất trồng sắn tại Thái Nguyên là 2,9 nghìn ha, sản lượng đạt 4,1 nghìn tấn. Tuy nhiên người dân địa phương chủ yếu trồng theo phương thức quảng canh, do đó năng suất thấp, đồng thời đất bị rửa trôi bạc màu hoang hóa.
Mặt khác nhiều diện tích đất chưa được tận dụng để sản xuất gây lãng phí tư liệu. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới và trong nước 2. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới Tính đến năm 2017 sản lượng sắn trên toàn thế giới đạt 291,992 triệu tấn, trong đó tại châu Phi đạt 177,947 triệu tấn, châu Mỹ 28,037 triệu tấn và châu Á 85,762 triệu tấn. Hiện nay sắn được trồng trên 100 quốc gia trong đó 64,8% được trồng ở châu Phi, châu Á chiếm 21% và châu Mỹ 14%.
Với tổng sản lượng toàn thế giới năm 2017 đạt 291,992 triệu tấn giảm 3,251 triệu tấn so với năm 2015 (295,243 tr.tấn), diện tích 2017 (26,3 triệu ha) tăng 0,32 triệu ha so với năm 2015. Mức tiêu thụ sắn bình quân thế giới khoảng 18kg/người/năm. Sản lượng sắn của thế giới được tiêu dùng trong nước khoảng 85% (lương thực 58%, thức ăn gia súc 28%, chế biến công nghiệp 3%, hao hụt 11%), còn lại 15% được xuất khẩu dưới dạng sắn lát khô, sắn viên và tinh bột (CIAT,1993)[12]. Sắn chiếm tỷ trọng cao ở khu vực châu Phi bình quân 96 kg/người/năm do nhu cầu lương thực ở cả dạng củ tươi và sản phẩm chế biến.
Buôn bán sắn trên thế giới năm 2006 ước đạt 6,9 triệu tấn sản phẩm, tăng 11% so với 2005, và giảm 14,8% so với 2004. Trung Quốc là nước nhập khẩu sắn nhiều nhất thế giới để làm cồn sinh học (bio ethanol), tinh bột biến tính (modify starch), thức ăn gia súc và dùng trong công nghiệp thực phẩm dược liệu. Năm 2005, Trung Quốc đã nhập khẩu 1,03 triệu tấn tinh bột, bột sắn và 3,03 triệu tấn sắn lát, sắn viên. Năm 2006, Trung Quốc đã nhập khẩu 1,15 triệu tấn tinh bột, bột sắn và 3,40 triệu tấn sắn lát và sắn viên.
Thái Lan chiếm trên 85% lượng xuất khẩu sắn, thị trường chủ yếu xuất sang các nước Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và châu Âu với tỷ trọng xuất khẩu sắn khoảng 40% bột và tinh bột sắn, 25% là sắn lát và sắn viên.1: Tình hình sản xuất sắn trên thế giới giai đoạn 2014-2018 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tấn /ha) (triệu tấn) 2014 25,547 11,388 290,942 2015 25,969 11,282 293,010 2016 25,035 11,523 288,497 2017 24,566 11,369 279,304 2018 24,590 11,297 277,808 (Nguồn : FAOSTAT,2020) Qua số liệu bảng 2.1 cho thấy diện tích trồng sắn trên thế giới có sự thay đổi qua các năm. Năm 2014 - 2016, diện tích trồng sắn giảm nhẹ 512 triệu ha, đến năm 2018 diện tích trồng sắn có xu hướng tiếp tục giảm từ 25,035 – 24,590 triệu ha. Năng suất cũng có biến động tăng - giảm qua từng năm. Trong đó, ta thấy rõ năng suất thấp nhất là năm 2015 với 11,282 tấn/ha, cao nhất là năm 2016 với 11,532 tấn/ha , đến năm 2017 và năm 2018 năng suất sắn trên thế giới lại có xu hướng giảm nhẹ.
Viện nghiên cứu chính sách lương thực thế giới (IFPRI), ước tính sản lượng sắn toàn cầu đến năm 2020 ước đạt 275,10 triệu tấn , mức tiêu thụ sắn ở các nước đang phát triển dự báo đạt 254,60 triệu tấn so với các nước đã phát triển là 20,5 triệu tấn. Tình hình sản xuất tại Việt Nam Sắn là cây lương thực quan trọng thứ ba sau ngô, lúa (Phạm Văn Biên,1998)[1] và đang có xu hướng tăng ở vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, vùngnúi và trung du Bắc Bộ do đặc tính đa năng của nó. Cây sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân nghèo do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh thái và điều kiện kinh tế nông hộ .2 : Diện tích trồng sắn cả nước tính đến 12/2018 (nghìn ha) Miền bắc Miền nam Tổng 15/12/2018 154.2 Tăng /giảm so với cũng kì 0.8 tháng trước(%) Tăng/giảm so với cùng kì năm -9.5 trước(%) (Nguồn: Bộ Nông Nghiệp và PTNT, 2019)[2] Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Thống kê tính đến hết tháng 12/2018 tổng diện tích gieo trồng sắn trên cả nước đạt 515 nghìn ha, giảm 3,5% so với năm 2017 tương đương mức giảm khoảng 18,7 nghìn ha. Chỉ có khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ có sự tăng trưởng dương về diện tích trong khi các vùng khác đều được ghi nhận sụt giảm khá mạnh từ 7,4-31,2% so với năm trước do người dân chuyển qua các loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn.
Tây Ninh và Gia Lai là 2 địa phương dẫn đầu cả nước về diện tích gieo trồng sắn với con số ước tính đạt khoảng 70. Trong đó, diện tích trồng mới của Tây Ninh tăng rất mạnh trong tháng 11 và tháng 12 do điều kiện thời tết thuận lợi. Theo tin từ thương nhân cho biết, do giá mía năm 2019 giảm mạnh nên người dân có xu hướng phá mía trồng mì khiến diện tích mì trồng mới vụ đông xuân tại Tây Ninh tăng rất mạnh, thậm chí tại 1 số vùng diện tích có thể tăng gấp đôi so với năm trước. Trong khi đó các tỉnh miền Bắc miền Trung và Tây Nguyên do đang trong thời điểm thu hoạch sắn rộ vụ nên diện tích trồng mới gần như chưa có(Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)[2].3: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2014-2018 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (nghìn/ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2014 552,7 18,47 10,20 2015 567,9 18,90 10,74 2016 569,2 19,16 10,90 2017 532,5 19,20 10,26 2018 513,1 19,19 9,85 (Nguồn: FAOSTAT, 2020)[18] Qua bảng số liệu 2.3 cho thấy sản xuất sắn của Việt Nam có xu hướng tăng dần từ 2014 - 2016.
Từ 2016 đến năm 2017 diện tích trồng sắn giảm mạnh từ 569.