Tổng quan luận án

Biến đổi khí hậu toàn cầu và sự suy giảm tài nguyên nước cả về số lượng lẫn chất lượng đang tạo ra những thách thức lớn đối với công tác quản lý, khai thác công trình thủy lợi (CTTL) phục vụ sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam. Để đáp ứng mục tiêu phát triển của ngành thủy lợi đến năm 2020 (bảo đảm nước tưới cho 7,6 triệu ha lúa, 1,2 triệu ha cây vụ đông và màu, 0,65 triệu ha nuôi trồng thủy sản, cùng 100% nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho nông thôn), cơ chế chính sách quản lý thủy lợi đã có những bước chuyển biến lớn. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2008/NĐ-CP và sau đó là Nghị định số 67/2012/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ-CP) quy định chính sách miễn, giảm thủy lợi phí (TLP).

Tuy nhiên, quá trình thực thi chính sách đã bộc lộ nhiều điểm bất cập: mức thu trượt giá 2,31 lần chưa sát thực tế; cấp bù tạo nguồn tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long phát sinh nguy cơ chuyển vốn sang xây dựng cơ bản; mức thu nuôi cá lồng bè 8–10% giá trị sản lượng quá cao; các trạm bơm tưới nhiều bậc (từ 2 bậc trở lên) không được bù đắp thỏa đáng chi phí điện năng; chi phí vật tư, điện, xăng dầu tăng 20–25% làm tăng chi thường xuyên của các công ty khai thác; tình trạng chậm giao kinh phí cấp bù ảnh hưởng tiến độ duy tu sửa chữa; sự phối hợp giữa chính quyền cơ sở và đơn vị khai thác còn lỏng lẻo; thậm chí xuất hiện hiện tượng khai khống diện tích tưới tại một số địa phương (Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Nội, Hưng Yên). Đặc biệt, khi chuyển sang cơ chế Nhà nước cấp bù kinh phí thay cho việc thu phí trực tiếp từ người dân, mối liên hệ ràng buộc giữa công ty thủy nông và hộ dùng nước suy giảm, dẫn đến lo ngại về việc giảm chất lượng dịch vụ (CLDV) tưới và giảm ý thức tiết kiệm nước, bảo vệ CTTL của người dân. Khoảng trống nghiên cứu lớn nhất được tác giả xác định là: các nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở mức đánh giá định tính; chưa có công trình nào đánh giá định lượng, đa chiều đồng thời cả chất lượng dịch vụ tưới và ý thức của người dùng nước trong điều kiện miễn giảm TLP.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 4 nội dung:

  1. Nghiên cứu tác động của chính sách TLP đến các đối tượng hưởng lợi, hiệu quả sử dụng nước, năng suất cây trồng, kinh phí nhà nước;
  2. Đánh giá CLDV tưới nông nghiệp;
  3. Đánh giá sự hài lòng (SHL) của nhà quản lý thủy lợi về ý thức sử dụng nước và bảo vệ CTTL của hộ dùng nước khi không phải trả phí;
  4. Đề xuất, kiến nghị các biện pháp nâng cao hiệu quả tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp một cách phù hợp trong điều kiện thực tế quản lý khai thác CTTL của vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chính sách TLP của Việt Nam theo Nghị định 67/2012/NĐ-CP; sản phẩm dịch vụ tưới nông nghiệp của các đơn vị cung cấp dịch vụ; các bên liên quan đến hoạt động quản lý khai thác và bảo vệ CTTL.
  • Phạm vi không gian: 11 tỉnh, thành phố thuộc vùng ĐBSH (Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình).
  • Phạm vi thời gian và địa bàn chuyên sâu: Đánh giá hiệu quả sử dụng nước trước và sau miễn giảm TLP trong 5 năm tại Bắc Ninh, Nam Định và Hà Nội; phân tích chuỗi số liệu năng suất và tài chính 10 năm (2004–2014); thực nghiệm ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý TLP và đánh giá CLDV trực tuyến tại Hà Nội.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Vấn đề chính sách TLP và chất lượng dịch vụ cấp nước đã được nhiều tác giả quốc tế khảo sát:

  • Easter, K. Johnson III và Ahmad, B. (2002) chỉ ra rằng ở hầu hết các quốc gia, mức thu TLP chỉ bù đắp được khoảng 20–70% chi phí vận hành và bảo dưỡng (O&M); tỷ lệ hoàn vốn đầu tư xây dựng ban đầu rất thấp (ngay cả ở Canada hay Italy), nhiều nơi áp dụng chính sách miễn hoàn toàn phí sử dụng nước.
  • William Easter và Yang Liu (2005) khẳng định hai vai trò cốt lõi của TLP: đảm bảo tính bền vững tài chính cho đơn vị quản lý vận hành và tạo động lực kinh tế để hộ dùng nước sử dụng nước tiết kiệm, gia tăng giá trị đầu ra trên một đơn vị nước.
  • Hayretin và cộng sự nghiên cứu hệ thống tưới Bursa–Karacabey (Thổ Nhĩ Kỳ) kết hợp các chỉ tiêu kỹ thuật (hiệu suất tưới, tỷ lệ cấp nước) và chỉ tiêu tài chính (thu TLP, mức tự chủ tài chính, tỷ suất công nhân/ha), song đánh giá mức độ hài lòng của người dân mới dừng ở tỷ lệ phần trăm định tính.
  • Lakmali và cộng sự (2012–2013) tại 3 hệ thống (Batalagoda, Hakwatuna Oya, Kimbulwana Oya) thuộc lưu vực sông Deduru Oya (Sri Lanka) đã xác lập mối liên hệ giữa chất lượng cấp nước tưới với năng suất cây trồng.
  • Mali Sander J. Zwart và Lucie M. Leclert ứng dụng dữ liệu viễn thám Landsat độ phân giải cao tại Mali để phân tích hiệu suất sử dụng nước, tính đồng bộ và cơ cấu sử dụng nước đầu - cuối hệ thống tưới lúa quy mô lớn.
  • Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO 1997, 1999, 2007) đưa ra các khung đánh giá RAP (Rapid Appraisal Procedure) và MASSCOTE nhằm tiếp cận quản lý tưới theo định hướng dịch vụ trong cơ chế thị trường; Barker và Molle (2005) tổng kết các hạn chế trong chuyển giao quản lý tưới có sự tham gia (PIM/IMT) tại Nam Á và Đông Nam Á.

Tại Việt Nam, các công trình trong nước đã ghi nhận hiệu quả khai thác công trình thủy lợi chỉ đạt 60–70% công suất thiết kế:

  • Báo cáo của Tổng cục Thủy lợi (2015) về việc áp dụng bộ 22 chỉ số và 29 thông số theo phương pháp RAP/MASSCOTE cho thấy tính khả thi chưa cao trên diện rộng (chỉ 63% địa phương áp dụng được một phần, thu thập được 44% thông số và tính được 42% chỉ số).
  • Hà Lương Thuần và cộng sự đề xuất 4 nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tưới: hiệu quả công trình, hiệu quả tưới mặt ruộng, hiệu quả môi trường, hiệu quả kinh tế tưới nước.
  • Nguyễn Thế Quảng và Đoàn Doãn Tuấn xây dựng chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động hệ thống gắn với năng suất cây trồng, năng suất lao động, nguồn nước cấp nhưng chưa định hình được bộ tiêu chuẩn xếp loại hoàn chỉnh.
  • Đề tài cấp Bộ do Trường Đại học Thủy lợi thực hiện (2008–2010) thiết lập 8 nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hệ thống tưới cho vùng trung du miền núi phía Bắc.
  • Nguyễn Thành Công (2015) tổng hợp, so sánh 10 mô hình đo lường chất lượng dịch vụ và chứng minh tính ưu việt của mô hình SERVQUAL (Parasuraman, 1988, 1991).

Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Luận án lấp đầy khoảng trống nghiên cứu khi kết hợp cách tiếp cận định hướng dịch vụ (theo Quyết định 784/QĐ-BNN-TCTL ngày 21/04/2014 của Bộ Nông nghiệp và PTNT) với phương pháp định lượng hiện đại (mô hình SERVQUAL hiệu chỉnh). Luận án thực hiện đánh giá hai chiều đồng thời: đo lường CLDV tưới của công ty thủy nông qua cảm nhận của hộ dùng nước và đo lường sự hài lòng của nhà quản lý về ý thức của hộ dùng nước trong điều kiện thực thi chính sách miễn giảm TLP.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng lý thuyết dịch vụ và chất lượng dịch vụ theo các tiêu chuẩn TCVN ISO 8402:1999, TCVN ISO 9000:2000, cùng các quan điểm của Philip Kotler, Philip Crosby, W. Edward Deming và Joseph M. Juran. Luận án ứng dụng tiêu chuẩn RATER và mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ SERVQUAL của Parasuraman và cộng sự (1985, 1988, 1991), trong đó chất lượng dịch vụ được xác định bằng hiệu số giữa mức độ cảm nhận thực tế và giá trị kỳ vọng ($P - E$) thông qua 5 nhân tố: Tính hữu hình (THH), Sự tin cậy (STC), Độ đáp ứng (DDU), Sự bảo đảm (SBD) và Sự đồng cảm (SDC). Đồng thời, luận án vận dụng lý thuyết về sự hài lòng khách hàng (Philip Kotler 2003; Parasuraman 1994; Zeithaml & Bitner 2000; Cronin & Taylor 1992; Lassar et al. 2000) để phát triển khung đánh giá sự hài lòng của nhà quản lý thủy lợi đối với các hành vi sử dụng nước và bảo vệ công trình của người dân.

Mô hình nghiên cứu định lượng của luận án:
+ Mô hình 1 (Đánh giá CLDV tưới từ phía hộ dùng nước):
  CLDV = F(THH, SBD, SDC, DDU, STC)
+ Mô hình 2 (Đánh giá SHL của nhà quản lý thủy lợi):
  SHL = F(CĐTG, STG, THQ) / SHL = F(TCĐ, THQ, TXĐ)

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp kế thừa: Tổng hợp các kết quả nghiên cứu lý thuyết, thể chế chính sách TLP và mô hình quản lý thủy nông trong và ngoài nước.
  • Phương pháp định tính: Phỏng vấn chuyên sâu chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý tại Tổng cục Thủy lợi, các Chi cục Thủy lợi, Phòng Nông nghiệp & PTNT/Kinh tế cấp huyện và các công ty thủy nông để phân tích các tác động đa chiều của chính sách.
  • Phương pháp định lượng: Sử dụng bảng hỏi khảo sát với thang đo Likert 5 mức độ; tiến hành kiểm định độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích ma trận xoay (Rotated Component Matrix) và phân tích hồi quy tuyến tính bội để lượng hóa trọng số của các nhân tố cấu thành CLDV và SHL.
  • Phương pháp phân tích đa chiều và tổng kết thực tiễn: So sánh, đối chiếu số liệu quản lý, tài chính, khí tượng thủy văn và năng suất cây trồng tại 11 tỉnh vùng ĐBSH.
  • Phương pháp mô hình toán: Tính toán mức tưới bình quân thực tế $W_{\text{tưới 1 vụ}}$ (m3/ha/vụ) dựa trên nhật ký vận hành trạm bơm đầu mối; xây dựng các phương trình hồi quy chuẩn hóa để tính toán chỉ số CLDV' và SHL'.
  • Phương pháp chuyên gia và tham vấn cộng đồng: Thẩm định, hiệu chỉnh bảng câu hỏi điều tra và đánh giá tác động thực tế của chính sách.
  • Phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin và viễn thám: Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS), ảnh vệ tinh kết hợp phần mềm trực tuyến để kiểm tra diện tích tưới tiêu và thu thập dữ liệu đánh giá CLDV.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu:

  • Dữ liệu thứ cấp: Số liệu khí tượng thủy văn; số liệu diện tích, cơ cấu mùa vụ, năng suất lúa 10 năm (2004–2014); số liệu tiêu thụ điện năng và nhật ký vận hành máy bơm 10 năm tại 3 đơn vị đại diện: Công ty TNHH MTV KTCTTL Nam Đuống (Bắc Ninh - đại diện vùng đồng bằng), Công ty TNHH MTV KTCTTL Nghĩa Hưng (Nam Định - đại diện vùng triều, địa hình trũng cao xen kẽ) và Xí nghiệp Phú Xuyên thuộc Công ty TNHH MTV ĐTPT thủy lợi Sông Nhuệ (Hà Nội - đại diện vùng ven đô); các báo cáo cấp bù kinh phí TLP toàn quốc và vùng ĐBSH.
  • Dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu điều tra bảng hỏi từ các hộ nông dân dùng nước, cán bộ quản lý công ty thủy nông, cán bộ cơ quan quản lý nhà nước tại 11 tỉnh, thành phố ĐBSH.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 1 trình bày đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng ĐBSH với 11 tỉnh/thành phố, diện tích 21.060 km2 (chiếm 6,4% diện tích cả nước), dân số 20,7 triệu người (chiếm 22,8% cả nước), mật độ dân số cao nhất toàn quốc (983 người/km2, gấp 3,6 lần bình quân chung). Hạ tầng thủy nông toàn vùng có 55 hệ thống vừa và lớn, 448 hồ chứa dung tích từ 50.000 m3 trở lên, 5.415 trạm bơm công suất từ 1.000 m3/h trở lên, 140 đập dâng kiên cố; đảm bảo tưới cho 765.000 ha (580.000 ha lúa mùa, 7.000 ha màu và cây công nghiệp) và tiêu cho 510.000 ha. Chương này điểm lại lịch sử 66 năm (1949–2015) với 7 lần thay đổi chính sách TLP ở Việt Nam, tập trung phân tích những bất cập nảy sinh khi chuyển giao từ Nghị định 143 sang Nghị định 115 và Nghị định 67/2012/NĐ-CP. Tác giả kết luận sự cần thiết phải nghiên cứu định lượng chất lượng dịch vụ tưới và ý thức của người dân nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tưới theo định hướng dịch vụ.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và mô hình áp dụng

Chương 2 thiết lập khung phương pháp luận hoàn chỉnh kết hợp giữa đánh giá định tính tác động chính sách và mô hình toán định lượng. Tác giả xây dựng quy trình nghiên cứu định lượng gồm các bước: thiết lập giả thuyết, xác định quy mô mẫu điều tra tại 11 tỉnh, thiết kế bảng hỏi Likert, thu thập dữ liệu và quy trình xử lý qua phần mềm thống kê (EFA, hồi quy). Chương này cũng chuẩn hóa công thức xác định mức tưới thực tế $W_{\text{tưới 1 vụ}}$ (m3/ha/vụ) cho 1 ha cây trồng từ dữ liệu nhật ký vận hành trạm bơm đầu mối; đồng thời thiết lập hai mô hình phân tích định lượng: Mô hình 1 đo lường CLDV tưới qua 5 nhân tố SERVQUAL và Mô hình 2 đo lường SHL của nhà quản lý qua các biến quan sát về ý thức tiết kiệm nước, sự tham gia quản lý và bảo vệ CTTL.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 tổng hợp các phát hiện nghiên cứu thực nghiệm:

  • Đánh giá tác động chính sách TLP: Phân tích định tính và định lượng đa chiều về tác động của chính sách đến các bên liên quan (Hộ dùng nước, Hợp tác xã, Doanh nghiệp khai thác CTTL - IMC, Cơ quan quản lý nhà nước). Đánh giá biến động lượng nước tưới thực tế qua các giai đoạn 2004–2008 và 2009–2013 tại Nam Đuống, Nghĩa Hưng, Phú Xuyên; phân tích diễn biến kinh phí cấp bù TLP từ ngân sách nhà nước và so sánh năng suất lúa bình quân vùng ĐBSH giai đoạn 2004–2008 với giai đoạn 2009–2014.
  • Kết quả phân tích định lượng Mô hình 1 (CLDV tưới): Trình bày các bảng kiểm định Cronbach's Alpha, thống kê mô tả, kiểm định KMO và Bartlett, phân tích trị số Eigenvalues, ma trận nhân tố xoay. Xác lập phương trình hồi quy thể hiện mức độ tác động của 5 nhân tố: Độ đáp ứng (DDU), Sự bảo đảm (SBD), Sự đồng cảm (SDC), Tính hữu hình (THH), Sự tin cậy (STC); từ đó lượng hóa chỉ số CLDV' của từng hộ, tính giá trị bình quân vùng và lập bảng phân hạng, xếp hạng CLDV cho các công ty và hệ thống thủy nông tại ĐBSH.
  • Kết quả phân tích định lượng Mô hình 2 (SHL nhà quản lý): Trình bày các kết quả phân tích EFA, hệ số hồi quy cho các nhân tố: Chủ động tham gia (CĐTG), Sự tham gia (STG), Tính hiệu quả (THQ) (hoặc Tính chủ động - TCĐ, Tính hiệu quả - THQ, Tính xung đột - TXĐ). Lượng hóa giá trị SHL' theo hệ thống thủy nông, theo đơn vị hành chính và so sánh giữa các đối tượng quản lý trực tiếp và gián tiếp.

Chương 4: Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý tưới

Chương 4 đưa ra hệ thống giải pháp đồng bộ:

  • Đề xuất các biện pháp hạn chế tác động tiêu cực của chính sách miễn giảm TLP: kiểm soát chống lãng phí nước, đảm bảo năng suất cây trồng nhờ tưới hợp lý, quản lý chặt chẽ kinh phí cấp bù, ngăn chặn sai lệch trong nghiệm thu diện tích.
  • Đề xuất các giải pháp cụ thể nâng cao CLDV tưới nông nghiệp bám sát 5 nhân tố: Sự đồng cảm (SDC), Độ đáp ứng (DDU), Sự bảo đảm (SBD), Tính hữu hình (THH), Sự tin cậy (STC).
  • Đề xuất các giải pháp nâng cao ý thức của người dân về sử dụng nước tiết kiệm và bảo vệ CTTL bám sát các nhân tố: Sự tham gia (STG), Chủ động tham gia (CĐTG), Tính hiệu quả (THQ).
  • Phát triển và ứng dụng hệ thống phần mềm quản lý CTTL trên nền ảnh vệ tinh GIS, quản lý TLP và phân hệ khảo sát, đánh giá CLDV tưới trực tuyến (thực nghiệm trên địa bàn Hà Nội với các chức năng phân quyền từ HTX, xí nghiệp, công ty đến cơ quan quản lý nhà nước).
  • Kiến nghị cụ thể đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các công ty khai thác CTTL, các tổ chức hợp tác dùng nước và hộ nông dân.
Nội dung chương Trọng tâm nghiên cứu Phương pháp & Dữ liệu chủ yếu
Chương 1 Tổng quan điều kiện vùng ĐBSH, lịch sử chính sách TLP và các nghiên cứu về CLDV Kế thừa, tổng quan tài liệu, số liệu thống kê hiện trạng thủy nông 11 tỉnh ĐBSH
Chương 2 Khung lý thuyết SERVQUAL, quản lý định hướng dịch vụ, thiết kế 2 mô hình định lượng Phương pháp chuyên gia, thiết kế bảng hỏi Likert, quy trình EFA và hồi quy đa biến
Chương 3 Kết quả tác động chính sách, kiểm định mô hình CLDV và SHL, xếp hạng hệ thống Dữ liệu điều tra sơ cấp 11 tỉnh, nhật ký trạm bơm 10 năm (Nam Đuống, Nghĩa Hưng, Phú Xuyên), SPSS/EFA
Chương 4 Hệ thống giải pháp theo nhân tố mô hình và xây dựng phần mềm quản lý trực tuyến Ứng dụng CNTT, GIS ảnh vệ tinh, chuyển giao giải pháp quản lý thực nghiệm tại Hà Nội

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học:

    • Luận án đã xây dựng phương pháp và mô hình phân tích định lượng đánh giá CLDV tưới nông nghiệp tại vùng ĐBSH dựa trên mô hình SERVQUAL hiệu chỉnh, xác định rõ mức độ ảnh hưởng của 5 thành phần nhân tố (DDU, SBD, SDC, THH, STC) đến chất lượng dịch vụ cảm nhận của người nông dân.
    • Luận án xây dựng phương pháp và mô hình phân tích định lượng đo lường sự hài lòng (SHL) của nhà quản lý thủy lợi đối với ý thức sử dụng nước tiết kiệm, tham gia quản lý và bảo vệ CTTL của hộ dùng nước trong điều kiện thực thi chính sách miễn giảm TLP.
    • Thiết lập khung phương pháp đánh giá định lượng, đa chiều kết hợp giữa các chỉ tiêu kỹ thuật - vận hành thực tế và các chỉ số cảm nhận dịch vụ phù hợp với điều kiện cơ sở hạ tầng thủy lợi tại Việt Nam.
  2. Đóng góp mới về mặt thực tiễn:

    • Đánh giá toàn diện tác động của chính sách miễn giảm TLP (Nghị định 115 và Nghị định 67) tại vùng ĐBSH trên 4 khía cạnh: các bên liên quan, hiệu quả sử dụng nước thực tế qua nhật ký vận hành trạm bơm, cân đối kinh phí ngân sách nhà nước cấp bù, và năng suất lúa trong chuỗi thời gian 10 năm.
    • Lượng hóa và xếp hạng thực trạng CLDV tưới cũng như mức độ hài lòng của nhà quản lý tại 11 tỉnh, thành phố vùng ĐBSH, cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho các đơn vị quản lý nhà nước và công ty khai thác CTTL.
    • Biên soạn tài liệu tổng hợp về các mô hình quản lý và chính sách TLP trên thế giới và Việt Nam phục vụ công tác nghiên cứu thể chế, quy hoạch tài nguyên nước.
    • Xây dựng và thử nghiệm thành công phần mềm hệ thống thông tin quản lý CTTL trên ảnh vệ tinh GIS kết hợp phân hệ quản lý TLP và khảo sát, đánh giá CLDV tưới trực tuyến áp dụng tại Hà Nội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do điều kiện hạ tầng đo đạc và ghi chép vận hành tại nhiều hệ thống thủy lợi vùng ĐBSH còn thiếu đồng bộ, việc tính toán mức tưới thực tế liên tục trong 10 năm mới chỉ thực hiện được tại các hệ thống tưới bằng trạm bơm động lực có nhật ký ghi chép đầy đủ (Nam Đuống, Nghĩa Hưng, Phú Xuyên), chưa thể đo đếm chi tiết toàn bộ các khu vực tưới hoàn toàn bằng tự chảy/trọng lực. Việc triển khai thử nghiệm hệ thống phần mềm quản lý trực tuyến và kiểm tra diện tích qua ảnh vệ tinh GIS mới dừng lại ở phạm vi thành phố Hà Nội.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi thu thập số liệu và kiểm chứng mô hình định lượng CLDV tưới sang các vùng sinh thái nông nghiệp khác trên cả nước (vùng Đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung, Tây Nguyên); nghiên cứu mở rộng thang đo CLDV đối với các loại hình tưới cây trồng cạn, cây công nghiệp và nuôi trồng thủy sản; hoàn thiện và nhân rộng hệ thống phần mềm trực tuyến trên phạm vi toàn quốc.

Giá trị tham khảo

  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Nông nghiệp và PTNT, Tổng cục Thủy lợi, Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Thủy lợi các tỉnh): Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng phục vụ rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật về giá sản phẩm dịch vụ thủy lợi (thay thế cơ chế cấp bù TLP); sử dụng bộ công cụ giám sát, xếp hạng trực tuyến CLDV tưới giữa các địa phương và đơn vị quản lý.
  • Các doanh nghiệp quản lý khai thác CTTL (công ty thủy nông) và Hợp tác xã nông nghiệp: Tham khảo các nhóm giải pháp cải thiện 5 nhân tố chất lượng dịch vụ (Độ đáp ứng, Sự bảo đảm, Sự đồng cảm, Tính hữu hình, Sự tin cậy) nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ, cải thiện mối quan hệ phối hợp với người dân và chính quyền địa phương.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước, Kinh tế & Quản lý thủy lợi: Tài liệu tham khảo về phương pháp luận kết hợp định tính - định lượng, quy trình ứng dụng mô hình SERVQUAL và kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá EFA trong quản lý tài nguyên nước.

Câu hỏi thường gặp

1. Những bất cập chính của chính sách miễn giảm thủy lợi phí theo Nghị định 115/2008/NĐ-CP và Nghị định 67/2012/NĐ-CP được luận án chỉ ra là gì?
Luận án chỉ ra các bất cập chính gồm: mức thu trượt giá 2,31 lần chưa phù hợp thực tế; kinh phí cấp bù tạo nguồn cho ĐBSCL quá lớn dễ dẫn đến việc chuyển sang xây dựng cơ bản; mức thu nuôi cá lồng bè 8–10% giá trị sản lượng quá cao; diện tích bơm tưới từ 2 bậc trở lên không được bù đắp đủ tiền điện; công trình người dân tự đầu tư không được miễn phí gây mất công bằng; các hồ đập đa mục tiêu chỉ được cấp bù theo diện tích tưới nên thiếu kinh phí trả lương và tu sửa; chi phí điện và vật tư tăng 20–25% làm tăng gánh nặng chi thường xuyên; chậm giao kinh phí ảnh hưởng thời vụ sửa chữa; và phát sinh hiện tượng khai khống diện tích tại một số địa phương.

2. Mô hình định lượng đánh giá chất lượng dịch vụ (CLDV) tưới trong luận án gồm những nhân tố nào?
Mô hình định lượng CLDV tưới được xây dựng dựa trên mô hình SERVQUAL của Parasuraman, gồm 5 nhân tố: Tính hữu hình (THH - cơ sở vật chất, kênh mương, máy móc, trang thiết bị), Sự tin cậy (STC - cung cấp nước đúng cam kết, đúng lịch, chính xác), Độ đáp ứng (DDU - sẵn sàng giải quyết vướng mắc, xử lý khiếu nại nhanh chóng), Sự bảo đảm (SBD - năng lực chuyên môn, thái độ phục vụ tạo niềm tin) và Sự đồng cảm (SDC - sự quan tâm, lắng nghe và chia sẻ khó khăn với hộ dùng nước).

3. Sự hài lòng của nhà quản lý thủy lợi được đo lường thông qua những khía cạnh nào?
Sự hài lòng của nhà quản lý thủy lợi được đo lường dựa trên việc so sánh giữa kỳ vọng quản lý với thực tế hành vi của hộ dùng nước khi không phải đóng phí, bao gồm: ý thức sử dụng nước tiết kiệm (dựa trên định mức và khối lượng nước sử dụng thực tế) và sự tham gia quản lý, bảo vệ CTTL (đo lường qua mức độ đóng góp ngày công lao động, vật liệu, kinh phí tu sửa kênh mương nội đồng và tính chủ động tham gia ngăn chặn các hành vi vi phạm công trình).

4. Luận án đã lựa chọn những hệ thống thủy nông cụ thể nào để thu thập dữ liệu 10 năm liên tục phục vụ đánh giá hiệu quả sử dụng nước?
Luận án lựa chọn 3 hệ thống đại diện có đầy đủ sổ nhật ký vận hành máy bơm đầu mối và dữ liệu liên tục 10 năm (2004–2014) gồm: Công ty TNHH MTV KTCTTL Nam Đuống (Bắc Ninh - đại diện vùng đồng bằng), Công ty TNHH MTV KTCTTL Nghĩa Hưng (Nam Định - đại diện vùng triều, địa hình trũng cao xen kẽ) và Xí nghiệp Phú Xuyên thuộc Công ty TNHH MTV ĐTPT thủy lợi Sông Nhuệ (Hà Nội - đại diện vùng ven đô).

5. Giải pháp công nghệ thông tin được đề xuất trong luận án bao gồm những nội dung gì?
Tác giả đã thiết kế và xây dựng hệ thống phần mềm gồm: cơ sở dữ liệu quản lý CTTL trên nền ảnh vệ tinh GIS (kiểm tra diện tích tưới, tiêu trực quan), phân hệ quản lý kinh phí TLP và phân hệ khảo sát, đánh giá CLDV tưới trực tuyến (cho phép tạo bảng hỏi, nhập liệu phân quyền từ cấp HTX, xí nghiệp, công ty đến cơ quan quản lý nhà nước và xuất báo cáo tự động theo từng đơn vị hành chính).


Kết luận

Luận án tiến sĩ kỹ thuật của tác giả Đỗ Văn Quang đã giải quyết vấn đề quản lý tưới trong điều kiện miễn giảm thủy lợi phí tại vùng Đồng bằng sông Hồng thông qua việc tiếp cận định hướng dịch vụ. Tác giả đã phân tích toàn diện các tác động nhiều mặt của chính sách TLP và xây dựng thành công hai mô hình định lượng đo lường chất lượng dịch vụ tưới cùng sự hài lòng của nhà quản lý thủy lợi. Các giải pháp đề xuất gắn liền với việc ứng dụng công nghệ thông tin và ảnh vệ tinh GIS, mang lại giá trị khoa học và cơ sở thực tiễn phục vụ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế thủy lợi tại Việt Nam.