Luận án tiến sĩ kỹ thuật: Nghiên cứu biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý tưới vùng đồng bằng sông Hồng

Nghiên cứu toàn diện biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý tưới vùng Đồng bằng Sông Hồng. Phân tích các giải pháp tiết kiệm nước, tăng năng suất nông nghiệp và

Trường đại học

Trường Đại học Thủy Lợi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ kỹ thuật

2016

256
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý tưới và thủy lợi phí vùng đồng bằng sông Hồng

Đồng bằng sông Hồng là vùng nông nghiệp trọng điểm phía Bắc Việt Nam. Diện tích canh tác lớn, mật độ dân số cao, nhu cầu tưới tiêu rất quan trọng. Hệ thống thủy lợi vùng này được xây dựng từ nhiều thập kỷ, phục vụ hàng triệu héc-ta đất nông nghiệp. Chính sách miễn giảm thủy lợi phí được áp dụng từ năm 2008 theo Nghị định 115/2008/NĐ-CP, tạo ra thay đổi lớn trong cơ chế quản lý vận hành công trình thủy lợi. Trước khi miễn giảm, người dùng nước trả phí trực tiếp, tạo động lực tiết kiệm nước. Sau khi miễn giảm, ngân sách nhà nước cấp bù cho các công ty thủy nông. Điều này làm thay đổi ý thức sử dụng nước của nông dân và hiệu quả vận hành hệ thống. Nghiên cứu của tác giả Đỗ Văn Quang tập trung phân tích tác động của chính sách này lên hiệu quả quản lý tưới. Mục tiêu là đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả trong bối cảnh mới. Đây là luận án tiến sĩ kỹ thuật có giá trị thực tiễn cao cho ngành thủy lợi Việt Nam.

1.1. Chính sách miễn giảm thủy lợi phí và bối cảnh áp dụng

Chính sách miễn giảm thủy lợi phí được ban hành nhằm giảm gánh nặng chi phí cho nông dân. Nhà nước cấp kinh phí thay thế nguồn thu phí từ hộ dùng nước. Giai đoạn trước miễn giảm (2004-2008), các công ty thủy nông thu phí trực tiếp, tạo nguồn vận hành ổn định. Giai đoạn sau miễn giảm (2009-2013), ngân sách cấp bù theo diện tích tưới. Sự thay đổi cơ chế tài chính này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ cung cấp nước tưới và trách nhiệm của các đơn vị quản lý thủy nông.

1.2. Đặc điểm hệ thống tưới vùng đồng bằng sông Hồng

Hệ thống tưới đồng bằng sông Hồng phân chia theo ba vùng địa hình. Vùng cao có cốt đất trên 2m, tưới hoàn toàn bằng động lực. Vùng vàn có cốt đất từ 1 đến 2m, kết hợp trọng lực và động lực. Vùng trũng có cốt đất từ 0,2 đến 0,5m, chủ yếu dùng trọng lực có hỗ trợ động lực. Tại vùng trũng, việc đo lưu lượng nước thực tế gặp nhiều khó khăn. Lưu lượng thực tế chủ yếu tính theo máy bơm. Đặc thù địa hình này tạo ra thách thức lớn trong quản lý và đo đếm nước tưới.

II. Phân tích hiện trạng hiệu quả quản lý tưới sau miễn giảm thủy lợi phí

Sau khi áp dụng chính sách miễn giảm thủy lợi phí, hiệu quả sử dụng nước tưới có xu hướng giảm. Ý thức tiết kiệm nước của nông dân suy giảm rõ rệt khi không còn phải trả phí trực tiếp. Lượng nước sử dụng bình quân trên một héc-ta tăng so với giai đoạn trước. Chất lượng dịch vụ cung cấp nước tưới trở thành chỉ tiêu đánh giá quan trọng. Các công ty thủy nông chịu áp lực đảm bảo chất lượng trong khi nguồn thu thay đổi. Đánh giá hiệu quả dựa trên nhiều yếu tố: ý thức sử dụng nước, mô hình quản lý, nhu cầu tưới cây trồng và hiệu suất công trình tưới. Mô hình quản lý khác nhau giữa công ty thủy nông và hợp tác xã dẫn đến kết quả vận hành khác biệt. Hiệu suất công trình tưới phụ thuộc vào chất lượng hạ tầng và công tác bảo trì thường xuyên. Nghiên cứu quốc tế từ Thổ Nhĩ Kỳ và Sri Lanka cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa chất lượng dịch vụ cấp nước và năng suất cây trồng. Đây là căn cứ khoa học quan trọng để đánh giá thực trạng tại Việt Nam.

2.1. Đánh giá mức độ hài lòng của hộ dùng nước

Mức độ hài lòng của hộ dùng nước là chỉ tiêu phản ánh chất lượng dịch vụ thủy nông. Phương pháp đánh giá kết hợp định tính và định lượng. Các yếu tố đánh giá gồm: tính kịp thời cấp nước, đủ lưu lượng, áp lực ổn định và thái độ phục vụ. Nghiên cứu tại hệ thống tưới Bursa-Karacabey (Thổ Nhĩ Kỳ) đã kết hợp chỉ tiêu kỹ thuật với đánh giá định lượng mức hài lòng. Tại Việt Nam, cần phát triển bộ chỉ số đánh giá phù hợp điều kiện địa phương để đo lường hiệu quả một cách khách quan và toàn diện.

2.2. Phân tích tổng lượng nước sử dụng theo giai đoạn

So sánh tổng lượng nước sử dụng trung bình giữa hai giai đoạn cho thấy sự thay đổi rõ rệt. Giai đoạn trước miễn giảm (2004-2008), lượng nước được kiểm soát chặt chẽ hơn. Giai đoạn sau miễn giảm (2009-2013), lượng nước sử dụng tăng do ý thức tiết kiệm giảm. Mức tưới bình quân thực tế tính theo đơn vị m3/ha/vụ là chỉ số quan trọng. Công thức tính tổng lượng nước tưới thực tế dựa trên đề xuất chuyên gia và điều kiện quản lý vận hành thực tế tại Việt Nam, phù hợp với đặc thù từng hệ thống.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tưới trong điều kiện miễn giảm thủy lợi phí

Nâng cao hiệu quả quản lý tưới đòi hỏi tiếp cận đa chiều. Cần cải thiện đồng thời cơ chế quản lý, hạ tầng kỹ thuật và ý thức người dùng nước. Về cơ chế quản lý, cần xây dựng hệ thống giám sát chất lượng dịch vụ thủy nông rõ ràng. Các công ty thủy nông phải chịu trách nhiệm cụ thể về chỉ tiêu cấp nước. Cơ chế thưởng phạt gắn với kết quả thực hiện tạo động lực nâng cao chất lượng. Về kỹ thuật, đầu tư hiện đại hóa hệ thống đo đếm nước là ưu tiên hàng đầu. Lắp đặt đồng hồ đo lưu lượng tại các điểm cấp nước quan trọng. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý vận hành hệ thống tưới. Về nâng cao ý thức, cần tổ chức tuyên truyền thường xuyên về tiết kiệm nước. Xây dựng mô hình quản lý có sự tham gia của cộng đồng nông dân. Hợp tác xã dùng nước hoạt động hiệu quả là chìa khóa thành công lâu dài tại các địa phương vùng đồng bằng sông Hồng.

3.1. Cải thiện mô hình quản lý vận hành công trình thủy lợi

Mô hình quản lý ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả cấp nước tưới. Hai mô hình chính là công ty thủy nông và hợp tác xã quản lý có ưu nhược điểm khác nhau. Công ty thủy nông có tính chuyên nghiệp cao nhưng xa cơ sở. Hợp tác xã gần dân nhưng năng lực kỹ thuật còn hạn chế. Cần xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả giữa hai mô hình này. Giao khoán quản lý kênh nội đồng cho hợp tác xã, công ty thủy nông quản lý công trình đầu mối là hướng đi phù hợp thực tiễn hiện nay.

3.2. Ứng dụng phương pháp xác định nhu cầu tưới khoa học

Xác định nhu cầu tưới chính xác là cơ sở phân phối nước hợp lý. Nhu cầu tưới phụ thuộc yếu tố thời tiết, thời vụ gieo trồng, loại cây trồng, đặc điểm đất đai và thổ nhưỡng. Phương pháp tính toán nhu cầu tưới dựa trên công thức khoa học kết hợp số liệu thực đo. Mức tưới bình quân thực tế tính theo công thức được các chuyên gia đề xuất, phù hợp điều kiện Việt Nam. Áp dụng lịch tưới khoa học giúp giảm lượng nước thất thoát, tăng hiệu suất sử dụng và đảm bảo năng suất cây trồng ổn định.

IV. Kết luận và hướng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Văn Quang đóng góp quan trọng cho ngành quản lý thủy lợi Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học về tác động của chính sách miễn giảm thủy lợi phí. Nghiên cứu đã xây dựng được bộ chỉ số đánh giá hiệu quả quản lý tưới phù hợp điều kiện đồng bằng sông Hồng. Phương pháp đánh giá kết hợp định tính và định lượng mang lại kết quả toàn diện, khách quan. Các biện pháp đề xuất có tính khả thi cao, áp dụng được ngay vào thực tiễn quản lý. Hướng ứng dụng bao gồm: điều chỉnh cơ chế cấp kinh phí thủy lợi theo hiệu quả thực hiện, xây dựng tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ thủy nông quốc gia, đào tạo nâng cao năng lực cán bộ quản lý thủy nông và thúc đẩy tham gia của cộng đồng. Nghiên cứu mở ra hướng tiếp cận mới trong quản lý thủy lợi sau giai đoạn miễn giảm. Kết quả có thể nhân rộng cho các vùng đồng bằng khác trên cả nước, đặc biệt những vùng có đặc điểm địa hình và canh tác tương tự đồng bằng sông Hồng.

4.1. Đóng góp khoa học của luận án cho ngành thủy lợi

Luận án đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn cho ngành quản lý thủy lợi. Về lý luận, xây dựng khung đánh giá hiệu quả quản lý tưới trong điều kiện miễn phí dịch vụ. Về thực tiễn, cung cấp số liệu thực đo tại đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2004-2013. Kết quả phân tích so sánh trước và sau miễn giảm thủy lợi phí có giá trị tham chiếu cao. Các chỉ số đánh giá được kiểm chứng qua thực tế, đảm bảo độ tin cậy và áp dụng được trong công tác hoạch định chính sách thủy lợi quốc gia.

4.2. Kiến nghị chính sách và định hướng nghiên cứu tiếp theo

Cơ quan quản lý nhà nước cần xem xét điều chỉnh cơ chế cấp bù thủy lợi phí gắn với kết quả dịch vụ. Xây dựng tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng dịch vụ cung cấp nước tưới là cấp thiết. Cần nghiên cứu thêm về tác động dài hạn của chính sách miễn giảm đến bền vững hệ thống thủy lợi. Hướng nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào ứng dụng công nghệ số trong quản lý tưới thông minh, tích hợp dữ liệu khí tượng thủy văn để tối ưu hóa lịch tưới và tiết kiệm nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng rõ rệt.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn nghiên cứu các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý tưới trong điều kiện miễn giảm thủy lợi phí vùng đồng bằng sông hồng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và mô hình áp dụng Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 4: Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý tƣới Kết luận và kiến nghị xvi CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan vùng nghiên cứu Vùng ĐBSH bao gồm 11 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Dƣơng, Hải Phòng, Hƣng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình. Toàn vùng có 12 thành phố trực thuộc tỉnh, 19 quận, 6 thị xã, 93 huyện, 433 phƣờng, 119 thị trấn và 1. Vùng ĐBSH có diện tích 21.060 km2, chiếm 6,4% diện tích cả nƣớc. Dân số là 20,7 triệu ngƣời chiếm 22,8% dân số toàn quốc.

Đây là vùng có mật độ dân số cao nhất nƣớc 983 ngƣời/km2 cao gấp 3,6 lần mật độ bình quân cả nƣớc. Bản đồ vùng ĐBSH Theo số liệu điều tra đến năm 2014, toàn vùng ĐBSH có 55 hệ thống thủy nông lớn và vừa, 448 hồ chứa có dung tích từ 50 nghìn m3 trở lên, 5.415 trạm bơm (có công suất từ 1000 m3/h trở lên), 140 đập dâng kiên cố đƣợc xây dựng và đƣa vào khai thác. Hệ 1 thống thuỷ lợi đảm bảo tƣới cho 765.000ha (tƣới lúa mùa khoảng 580.000 ha, màu và cây công nghiệp dài ngày 7.000 ha), diện tích đƣợc tiêu khoảng 510. Hệ thống CTTL thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả to lớn trong phục vụ tƣới, tiêu cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, tạo nguồn cung cấp nƣớc sinh hoạt, công nghiệp, tiêu nƣớc dân cƣ, đô thị và cải tạo môi trƣờng.

Tuy nhiên sau nhiều năm khai thác một số hệ thống đã xuống cấp cụ thể nhƣ sau: kênh mƣơng bị bồi lắng, xuống cấp, khả năng chuyển nƣớc bị hạn chế. Máy móc thiết bị của các trạm bơm hiệu suất thấp, tiêu thụ nhiều điện năng, chi phí sửa chữa bảo dƣỡng lớn, gây lãng phí nƣớc, tốn diện tích đất. Vùng ĐBSH đƣợc lựa chọn là vùng nghiên cứu vì một số lý do sau: - Thứ nhất, đây là vùng đồng bằng châu thổ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của cả nƣớc. Mặc dù diện tích chỉ chiếm có 6,4% nhƣng dân số chiếm tới 22,8%.

Giá trị GDP của vùng chiếm 27% tổng giá trị GDP cả nƣớc. - Thứ hai, hệ thống CTTL đƣợc đầu tƣ xây dựng tƣơng đối hoàn thiện từ công trình đầu mối đến mặt ruộng. Mặc dù chủ yếu phục vụ tƣới tiêu bằng động lực nhƣng các CTTL trong vùng cũng đa dạng và tiêu biểu, bao gồm cả công trình trọng lực (hồ chứa, đập dâng) và công trình động lực (trạm bơm). Ngoài nhiệm vụ chính là tƣới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, nhiều hệ thống công trình trong vùng đã đƣợc khai thác tổng hợp, đa mục tiêu kết hợp với cấp nƣớc sinh hoạt, giao thông thuỷ, phát điện, phòng chống lũ.

- Thứ ba, hệ thống tổ chức QLKT CTTL cũng cơ bản đồng bộ và hoạt động có hiệu quả. Đây là vùng có 100% các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ƣơng có doanh nghiệp QLKT các hệ thống CTTL vừa và lớn. Các CTTL nhỏ, thuỷ lợi nội đồng chủ yếu do các tổ chức là HTX dịch vụ nông nghiệp QLKT (chiếm gần 90% số Tổ chức hợp tác dùng nƣớc). Đây là những đặc trƣng tiêu biểu cho công tác thuỷ lợi (cơ sở hạ tầng, hệ thống tổ chức QLKT và tầm quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội), đồng thời cũng là các yếu tố có mối liên hệ trực tiếp đến chính sách thuỷ lợi.

Do vậy, vùng ĐBSH đƣợc tác giả lựa chọn để thực hiện nghiên cứu này.2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 1.1 Tổng quan về chính sách thủy lợi phí Nói đến chính sách TLP hay còn đƣợc hiểu là các chính sách, quy định liên quan đến xác định giá TLP, phí sử dụng nƣớc của các hộ dùng nƣớc. Đây thực sự là một vấn đề cực kỳ quan trọng đối với các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nƣớc có nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào ngành nông nghiệp. Việc thiết lập mức thu hay miễn, giảm TLP đối với sản xuất nông nghiệp phải dựa vào điều kiện thực tiễn của từng quốc gia, đặc biệt là điều kiện kinh tế xã hội và mức sống của ngƣời dân để quyết định. Theo các công trình nghiên cứu của Easter, K.

Johnson III; Ahmad, B. 2002 [1] [2] [3] [4] cho thấy hầu hết các nƣớc, việc thu TLP chỉ để trang trải chi phí vận hành và bảo dƣỡng hệ thống tƣới tiêu, chỉ bù đắp đƣợc khoảng 20-70% cho phí vận hành và bảo dƣỡng hệ thống, kể cả các nƣớc công nghiệp phát triển, tỷ lệ thu hồi chi phí đầu tƣ cũng rất thấp nhƣ Canada và Italy và một số nƣớc thì gần nhƣ là miễn hoàn toàn phí sử dụng nƣớc. Ngay cả trong cùng một quốc gia thì đặc thù xác định mức thu TLP nhƣ thế nào cũng là một vấn đề phức tạp do sự khác nhau về điều kiện địa lý, xã hội, kinh tế và vai trò của sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế. William Easter and Yang Liu [5] thì TLP có vai trò quan trọng: (i) Đó là nguồn thu để trang trải cho chi phí vận hành, để đảm bảo các dự án, các công ty thủy nông có đƣợc nguồn tài chính bền vững, đồng thời còn là nguồn thu hồi vốn đầu tƣ xây dựng ban đầu, từ đó có thể đầu tƣ cho các HTTL mới trong tƣơng lai; (ii) Phí thủy lợi sẽ khuyến khích các hộ sử dụng nƣớc có ý thức sử dụng nƣớc tiết kiệm hơn trong việc giảm tỷ lệ sử dụng nƣớc trên một đơn vị sản phẩm đầu ra, khuyến khích sự gia tăng giá trị kinh tế cho một đơn vị nƣớc sử dụng hoặc đạt đƣợc đồng thời cả hai mục tiêu trên.

Do đó nghiên cứu về vấn đề TLP luôn là một đề tài hấp dẫn đối với các chuyên gia cũng nhƣ những nhà hoạch định chính sách trên thế giới và Việt Nam. Hiện nay vấn đề phát triển nông thôn gắn liền với lĩnh vực thủy lợi đang là mối quan tâm hàng đầu ở Việt Nam, vì tầm quan trọng trong phát triển nông thôn, tạo công ăn việc làm cho hơn 70% dân số của Việt Nam, hoạt động sản xuất trong lĩnh vực nông 3 nghiệp, hay sự phát triển bền vững và giảm khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn đáp ứng đƣợc yêu cầu trong đời sống của nhân dân, đòi hỏi nông thôn phải có một cơ sở hạ tầng đảm bảo, mà trƣớc hết là thuỷ lợi - một lĩnh vực cơ bản có tính chất quyết định. Thuỷ lợi đáp ứng các yêu cầu về nƣớc, một trong những điều kiện tiên quyết để tồn tại và phát triển cuộc sống cũng nhƣ các loại hình sản xuất, đồng thời thuỷ lợi góp phần không nhỏ cho sự nghiệp phát triển bền vững của đất nƣớc, không ngừng nâng cao đời sống cả về Kinh tế và Văn hoá - Xã hội. Việt Nam là một nƣớc đi lên từ nông nghiệp, do đó ngành thủy lợi có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế của đất nƣớc, công tác thủy lợi là biện pháp quan trọng hàng đầu trong việc khôi phục sản xuất nông nghiệp, mở rộng diện tích canh tác, tăng vụ, thâm canh tăng năng suất cây trồng.

Công tác thủy lợi nƣớc ta căn bản đáp ứng đƣợc yêu cầu của sản xuất nông nghiệp, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai ở các vùng, miền trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Tuy nhiên, trƣớc yêu cầu đòi hỏi ngày một cao của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc và những bất lợi về thời tiết do biến đổi khí hậu toàn cầu gây ra, nhiệm vụ của công tác thủy lợi đang đứng trƣớc nhiều khó khăn, thách thức. Yêu cầu đặt ra là nhà nƣớc cần phải đề ra những chính sách phù hợp để giải quyết các vấn đề liên quan đến công tác thủy lợi, liên quan đến đại bộ phận ngƣời lao động sản xuất nông nghiệp. Chính sách TLP là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nƣớc với mục tiêu giúp công tác thủy lợi đạt hiệu quả cao.

Trải qua 66 năm (1949 - 2015) chính sách TLP ở nƣớc ta đã qua 7 lần thay đổi, gần đây nhất, Chính phủ đã ban hành Nghị định 115 nhằm sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ-CP. Nghị định này đã có sự thay đổi cơ bản về việc miễn, giảm TLP. Chính sách miễn TLP là một chủ trƣơng lớn của Đảng và Nhà nƣớc ta đối với ngƣời nông dân, nhằm giảm gánh nặng, cải thiện đời sống của ngƣời dân, tuy nhiên khi thực thi chính sách miễn giảm TLP còn nhiều bất cập xảy ra và còn là vấn đề gây tranh cãi giữa các nhà khoa học ở nƣớc ta hiện nay. Nghị định 115 thực thi đƣợc 4 năm có những bất cập, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67/2012/NĐ-CP ngày 10/09/2012 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 143/2003/NĐ-CP và thay thế 4 Nghị định 115/2008/NĐ-CP.

Tuy nhiên nghị định 67/2012/NĐ-CP vẫn còn nhiều bất cập đối với đặc thù khác nhau của từng địa phƣơng và loại hình dịch vụ tƣới trong nông nghiệp, có thể trong tƣơng lai gần sẽ tiếp tục phải điều chỉnh. Nghiên cứu về chính sách miễn giảm TLP, đây là một vấn đề lớn, khó khăn và phức tạp. Hiện nay cũng chƣa có nhiều các nghiên cứu đầy đủ nào về đánh giá và đo lƣờng tác động của chính sách miễn giảm TLP.2 Tổng quan về chất lượng dịch vụ tưới và ý thức hộ dùng nước trong quản lý khai thác công trình thủy lợi Để một chính sách thực sự có hiệu quả ta phải đánh giá đƣợc các tác động của chính sách đó đối với các thành phần, đối tƣợng có liên quan trong nền kinh tế. Chúng ta phải có một cái nhìn tổng thể và khách quan nhất đối với chính sách đó.

Với mỗi một chính sách khi đƣợc ban hành đều có những mặt tích cực và hạn chế, chính sách miễn giảm TLP đó là một chính sách của Đảng và Nhà nƣớc với mục đích là “Khoan sức dân”, trợ giúp ngƣời nông dân, đặc biệt đối với tầng lớp lao động có thu nhập thấp hiện nay trong xã hội. Đó là một chủ trƣơng đúng đắn, nhƣng cũng có nhiều đánh giá trái chiều từ các nhà khoa học, nhà quản lý và ngƣời dân về tác động của chính sách thủy lợi, đó là các câu hỏi đƣợc các nhà khoa học, quản lý đặt ra là: liệu khi miễn giảm TLP thì hiệu quả quản lý, hiệu quả tƣới có đƣợc nâng cao, hay nói đúng hơn là CLDV tƣới nông nghiệp tốt hơn không?

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ