CHƯƠNG 1 Trong chương này nghiên cứu đã trình bày về: sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp tiếp cận, kết cấu của luận văn, ý nghĩa của đề tài và lý do lựa chọn vấn đề nghiên cứu. Các nội dung này làm cơ sở cho các chương tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ 2. Giới thiệu tổng quan về Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 2.
Lịch sử hình thành và phát triển Ngày 30 tháng 10 năm 1962, Ngân hàng Ngoại Thương được thành lập theo Quyết định số 115/CP do Hội đồng Chính phủ ban hành trên cơ sở tách ra từ Cục quản lý Ngoại hối trực thuộc Ngân hàng Trung ương. Ngày 01 tháng 04 năm 1963, chính thức khai trương hoạt động NHNT như là một ngân hàng đối ngoại độc quyền. Ngày 14 tháng 11 năm 1990, NHNT chính thức chuyển từ một ngân hàng chuyên doanh, độc quyền trong hoạt động kinh tế đối ngoại sang một NHTM Nhà nước hoạt động đa năng theo Quyết định số 403-CT ngày 14 tháng 11 năm 1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Ngày 21 tháng 09 năm 1996, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ra Quyết định số 286/QĐ-NH5 về việc thành lập lại NHNT trên cơ sở Quyết định số 68/QĐ-NH5 ngày 27 tháng 3 năm 1993 của Thống đốc NHNN.
Theo đó, NHNT được hoạt động theo mô hình Tổng công ty 90, 91 quy định tại Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 07 tháng 03 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ với tên giao dịch quốc tế: Bank for Foreign Trade of Viet Nam, tên viết tắt là Vietcombank. Ngày 31/12/2008, Sở giao dịch chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh đã có thông báo về việc nhận hồ sơ đăng ký niêm yết lần đầu của Vietcombank. Ngày 31/03/2013, Vietcombank chính thức ra mắt hệ thống nhận diện thương hiệu mới. Ngày 01/04/2013, Vietcombank đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập và đón nhận Huân chương Độc lập Hạng Nhất do Đảng, Nhà nước trao tặng.
Năm 2017, cùng với sự thành công to lớn của ngành Ngân hàng về điều hành chính sách tiền tệ, hoạt động kinh doanh của Vietcombank tiếp tục tạo nên nhiều dấu mốc mới. Tổng tài sản đã vượt qua mốc 1 triệu tỷ đồng, là ngân hàng đầu 7 tiên chinh phục đỉnh cao lợi nhuận trên 10 nghìn tỷ đồng (đạt 11. Năm 2017, Vietcombank đã tiếp tục xử lý nợ xấu hiệu quả, đưa tỷ lệ nợ xấu về mức thấp nhất so với các TCTD lớn tại Việt Nam. Tầm nhìn, sứ mệnh và định hướng phát triển Đề án cơ cấu lại hệ thống Vietcombank đến năm 2020 đã chính thức được Thống đốc NHNN Việt Nam phê duyệt với tầm nhìn và sứ mệnh trở thành ngân hàng số 1 Việt Nam, một trong 100 ngân hàng lớn nhất khu vực; một trong 300 tập đoàn tài chính ngân hàng lớn nhất thế giới và được quản trị theo các thông lệ quốc tế tốt nhất.
Mạng lưới hoạt động Tính đến hết năm 2017, bên cạnh Trụ sở chính, Vietcombank hiện có 101 Chi nhánh với 397 phòng giao dịch hoạt động tại hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước. Bên cạnh đó là mạng lưới rộng khắp với 2.105 ngân hàng đại lý tại 131 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới. Tình hình kinh doanh của Vietcombank Đến cuối năm 2017 thì tổng tài sản đạt 1.293 tỷ đồng (tăng 31,39% so với năm 2016), vốn chủ sở hữu đạt 52.558 tỷ đồng (tăng 9,16% so với năm 2016), còn lợi nhuận chưa phân phối đạt 8.1: Kết quả hoạt động huy động tiền gửi và cho vay của Vietcombank Đơn vị : Tỷ đồng Năm Năm Năm Năm Năm Chỉ tiêu 2013 2014 2015 2016 2017 Tiền gửi khách hàng 332.520 Dư nợ cho vay 267.321 Nguồn: Báo cáo tài chính của Vietcombank Tín dụng được chuyển dịch theo hướng gia tăng tín dụng bán lẻ và giảm dần tỷ trọng bán buôn; nguồn vốn huy động cũng định hướng phát triển từ bán buôn sang bán lẻ; tỷ lệ nợ xấu khống chế không vượt mức kế hoạch. Tiền gửi của khách hàng là nguồn vốn huy động lớn nhất của Vietcombank chiếm khoảng 77% trong nguồn vốn của ngân hàng.
Thị phần trên thị trường ngân hàng có khuynh hướng gia tăng (hiện ~ 10%). Số dư tiền gửi năm 2017 của Vietcombank theo báo cáo tài 8 chính năm đạt 708. Trong khi tiền gửi khách hàng năm 2016 tăng 17,8% so với năm 2015; tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 22,3% trong giai đoạn 2013 đến 2017. Cơ cấu tiền gửi: Vietcombank có nhiều lợi thế của nguồn vốn giá rẻ: tiền gửi không kỳ hạn chiếm ~28%; 36,2% khách hàng doanh nghiệp và 63,8% khách hàng bán lẻ (KHCN và DNNVV) và tiền gửi VND chiếm ~80%.
Danh mục cho vay của ngân hàng với định hướng mục tiêu đẩy mạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ trên toàn hệ thống. Trong đó dư nợ trung dài hạn chiếm 43% tổng dư nợ, dư nợ VND chiếm 83% và khoảng 50% tổng dư nợ được đảm bảo bằng tài sản. Thị phần của ngân hàng có xu hướng tăng mạnh trong những năm qua, tính đến năm 2017 là khoảng 9,2%, năm này cho vay khách hàng đạt 535.300 tỷ đồng tăng mạnh so với 460.800 tỷ đồng trong năm 2016 tăng 17,9%; tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 18,67% trong giai đoạn 2013 đến 2017. Trong khi đó tỷ lệ nợ xấu năm 2017 đạt mức 1,11% tổng cho vay khách hàng.
Nơ xấu đươc kiểm soát một cách thực chất sau khi đã xử lý thành công toàn bộ nơ xấu tại VAMC trước đó.2: Chất lượng tài sản của Vietcombank Khoản mục 2013 2014 2015 2016 2017 Dư nợ cho vay/HĐV 82,56% 76,58% 77,36% 78,04% 74,78% Tỷ lệ dự phòng/nợ xấu 86,29% 94,98% 120,63% 117,12% 114,68% Tỷ lệ nợ xấu 2,73% 2,31% 1,84% 1,51% 1,11% Hệ số an toàn vốn 13,37% 11,61% 11,04% 11,13% 11,82% Chi phí dự phòng rủi ro/dư 1,37% 1,54% 1,71% 1,51% 1,22% nợ bình quân Nguồn: Báo cáo tài chính của Vietcombank Quy mô khách hàng gia tăng nhanh chóng và uy tín, hình ảnh, thương hiệu của Vietcombank đã được nâng cao mạnh mẽ ở trong nước và quốc tế; danh mục cho vay của NHTMCP Ngoại thương Việt Nam đa dạng và tập trung vào các ngành nghề tăng trưởng tốt, chất lượng tín dụng đảm bảo, quản lý tài sản hiệu quả và cơ cấu, nguồn vốn vững mạnh, triển vọng phát triển tốt. Lợi nhuận của Vietcombank Đơn vị: Tỷ đồng 9 Khoản mục 2013 2014 2015 2016 2017 Thu nhập lãi thuần 10.937 Chi phí hoạt động 6.866 Tổng thu nhập trước thuế 5.341 Tổng lợi nhuận sau thuế 4.110 Nguồn: Báo cáo tài chính của Vietcombank Lợi nhuận trước thuế năm 2017 đạt 11.341 ty đồng (tăng 33,06%) so với năm 2016 và vượt kế hoạch 2017. Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh xuất phát từ hoạt động cho vay và cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Vietcombank đang dẫn đầu thị trường về cung cấp dịch vụ tài trợ thương mại.
Trong đó chiếm thị phần 16,9% đối với nghiệp vụ tài trợ thương mại, nền tảng vững chắc là các khách hàng xuất nhập khẩu hàng đầu Việt Nam.000 ngân hàng đại lý trên toàn thế giới. Thanh toán nội địa phát triển dựa trên nền tảng công nghệ số hàng đầu tại Việt Nam. Hiện là trung tâm thanh toán bù trừ ngoại tệ cho hệ thống ngân hàng Việt Nam. Dẫn đầu thị trường kinh doanh ngoại tệ Việt Nam và đóng góp ~8,8% cho tổng thu nhập từ hoạt động kinh doanh hàng năm của VCB.
Vietcombank hiện là ngân hàng số 1 Việt Nam về cung cấp dịch vụ thẻ, có 30% thị phần về số lượng thẻ tín dụng phát hành, 14% thị phần về số lượng thẻ ghi nợ, 44% thị phần về doanh số thanh toán thẻ Credit. Vietcombank là đối tác chiến lược ở Việt Nam của tất cả các tổ chức thẻ quốc tế. Mạng lưới ATM của Vietcombank được đánh giá là có quy mô lớn nhất với 2.101 POS tại các chi nhánh trên toàn quốc. Kết quả kinh doanh của Vietcombank được giới đầu tư và chuyên gia đánh giá tốt và hiệu suất sinh lời cao.
Thu nhập ngoài lãi cận biên của ngân hàng có xu hướng tăng trưởng ổn định kể từ năm 2014 tỷ lệ này tăng từ 2,4% lên đạt 2,62% trong năm 2016. Năm 2017 chỉ số này tăng nhẹ lên đạt 2,66%. Thu nhập ngoài lãi có xu hướng giảm kể từ năm 2014 song vẫn ở mức cao, năm 2017 chỉ tiêu này đạt 27,39%, tăng so với năm 2016 (25,53%). Hiệu quả sinh lời trên tài sản và vốn chủ sở hữu vẫn giữ ở mức ổn định qua các năm, kể từ năm 2015 ROA của Vietcombank có xu hướng tăng mạnh.
Hiệu quả hoạt động của Vietcombank 10 Khoản mục 2013 2014 2015 2016 2017 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên 2,62% 2,4% 2,57% 2,64% 2,66% Thu nhập ngoài lãi/Thu nhập 30,47% 31,96% 27,11% 25,53% 27,39% hoạt động kinh doanh ROA 0,99% 0,88% 0,85% 0,93% 1% ROE 10,38% 10,65% 12,01% 14,67% 18,09% Nguồn: Báo cáo tài chính của Vietcombank 2. Dịch vụ ngân hàng bán lẻ của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ bán lẻ tại các NHTM 2. Khái niệm Trong hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường, khái niệm bán lẻ được hiểu là việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng, khác với bán buôn là bán cho người trung gian, cho các đại lý phân phối với số lượng lớn.
Tuy nhiên, do đặc thù của lĩnh vực tài chính tiền tệ nên thuật ngữ bán lẻ trong hoạt động ngân hàng cũng được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: Có quan điểm cho rằng: “Dịch vụ bán lẻ là hoạt động ngân hàng mà ở đó các ngân hàng thực hiện các giao dịch trực tiếp với người tiêu dùng, thay vì với các tổ chức kinh tế hoặc các ngân hàng khác” (Tô Ngọc Hưng, 2009). Hoặc theo tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì: “Ngân hàng bán lẻ là nơi mà KHCN có thể đến giao dịch tại những chi nhánh, phòng giao dịch của các ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như: tiền gửi tiết kiệm, kiểm tra số dư tài khoản, thế chấp vay vốn, dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và một số dịch vụ khác đi kèm” (Nguyễn Văn Tiến, 2014). Còn theo các chuyên gia của Học viện Công nghệ Châu Á - AIT thì “Dịch vụ bán lẻ là việc ngân hàng cung ứng các sản phẩm dịch vụ của mình tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh hoặc là KH có thể tiếp cận trực tiếp với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua phương tiện công nghệ thông tin, điện tử viễn thông”.