phần mở đầu và phần bố cục, kết cấu luận văn bao gồm 4 chƣơng sau: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về công tác kiểm tra thuế tại Cơ quan thuế Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng công tác kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội Chƣơng 4: Các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện công tác kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ TẠI CƠ QUAN THUẾ 1. Tổng quan nghiên cứu: 1. Các nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới, có một số bài viết nghiên cứu về việc hoạt động quản lý thuế nói chung và hoạt động kiểm tra tài chính đối với ngƣời nộp thuế nói riêng, đặc biệt đã có một số bài nghiên cứu về các hành vi trốn thuế, những bất cập trong luật pháp về thuế ở một số nƣớc. Cụ thể: Petrascua (2014) & Tieanub (2014) đã đƣa ra các vấn đề liên quan đến việc kiểm tra thuế, tác động của các cuộc kiểm tra này đối với ngƣời nộp thuế và phân tích những nguy cơ thể xảy ra trong quá tr nh kiểm tra thuế.
Đặc biệt, tác giả đặt ra những câu hỏi về thực hiện luật thuế ở Rumani và những bất cập trong việc kiểm tra tài chính, xử phạt đối với hành vi vi phạm của ngƣời nộp thuế trong luật pháp về thuế tại Rumani.[P1][HHHHH(-H2] Harju và cộng sự (2019) đã nghiên cứu sự trốn thuế liên quan đến xe hơi bằng cách theo dõi cách mà ngƣời dân phản ứng và thực hiện các hành vi trốn thuế. Tác giả sử dụng dữ liệu thống kê và kỹ thuật phân tích đối chiếu dữ liệu từ hệ thống thuế và dữ liệu quản lý xe hơi để phân tích sự trốn thuế dựa trên việc giảm số dặm đã đi (miles traveled) hoặc thông tin không chính xác về việc sử dụng xe hơi tại Phần Lan. Ngoài ra, bài viết đã chỉ ra những tác động của sự trốn thuế đối với ngân sách nhà nƣớc và hệ thống thuế liên quan đến hơi nhằm cung cấp cho ch ng ta mọt các nh n sâu rộng hơn vào hiện tƣợng trốn thuế liên quan đến xe hơn, từ đó chỉ ra cách ứng phó, xử lý đối với t nh trạng trốn thuế nêu trên. Lahiri (2021) & Ali (2021) đã tập trung việc nghiên cứu và phân tích việc kiểm tra thuế thông qua các khoản thanh toán không chính thức, và việc nộp thuế của các doanh nghiệp.
Đây là một nghiên cứu nhằm xem xét phản ứng của các doanh nghiệp khi bị kiểm tra về thuế, bao gồm cả việc sử dụng các khoản thanh toán không chính thức. Nghiên cứu này cho thấy việc đƣa hối lộ đã làm giảm nghĩa 4 vụ thuế và phí đối với các doanh nghiệp thông qua việc giảm số lƣợng các cuộc kiểm tra, do đó dẫn đến tác động gián tiếp đến việc giảm thuế và phí phải nộp của doanh nghiệp. Qua việc phân tích những tác động tiêu cực trong hoạt động kiểm tra doanh nghiệp, bài viết cũng đã đƣa ra một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra đối với doanh nghiệp ở một số quốc gia cụ thể, đồng thời đã chỉ ra đƣợc mối liên hệ giữa các khoản thanh toán không chính thức và công tác kiểm tra thuế. Các nghiên cứu trong nước Nguy n Thị Quỳnh Hƣơng (2014) đã đƣa ra kinh nghiệm thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế TP Hà Nội.
Nghiên cứu đã cung cấp những số liệu liên quan đến kết quả hoạt động kiểm tra tại Cục Thuế TP Hà Nội, từ đó, r t ra đƣợc một số kinh nghiệm trong công tác kiểm tra thuế. Trong đó, con ngƣời đƣợc xem là yếu tố quan trọng trong việc quyết định chất lƣợng của công tác quản lý thuế nói chung và công tác thanh tra, kiểm tra thuế nói riêng. B i Văn Nam & Lê Thị Chinh (2017) đã đƣa ra những cơ sở lý luận về việc quản lý thuế và đánh giá hiệu quả quản lý thuế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế ở Việt Nam.
Trong đó, nghiên cứu cũng đƣa ra giải pháp quản trọng là việc hoàn thiện cơ chế quản lý thuế nhằm đảm bảo nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác quản lý thuế theo những chu n mực quốc tế về thuế. Hoài Thu (2020) đã nêu bật đƣợc các kết quả đạt đƣợc thông qua công tác thanh tra, kiểm tra thuế. Đồng thời, cũng chỉ ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra và thu hồi nợ đọng thuế sau thanh kiểm tra, đặc biệt trong đó là giải pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế, cần tập huấn đầy đủ quy tr nh, cách thức cũng nhƣ nội dung thanh tra, kiểm tra. Hồ Huệ (2021) đề cập đến công tác kiểm tra thuế thông qua ứng dụng cổng thông tin điện tử của ngành thuế.
Đây là giải pháp hữu hiệu để hạn chế tối đa việc tiếp x c giữa ngƣời nộp thuế và công chức kiểm tra thuế, giảm bớt đƣợc thời gian 5 thanh tra kiểm tra thuế tại trụ sở ngƣời nộp thuế, đây đƣợc xem là tiền để để thực hiện kiểm tra thuế điện tử. Việt Dũng (2022) đã chỉ ra những thủ đoạn liên quan đến gian lận hoàn thuế và đƣa ra các giải pháp đồng bộ, quyết liệt nhằm phát hiện các trƣờng hợp doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro và tiến hành các biện pháp nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra. Trong đó, ch trọng đến việc xây dựng và triển khai toàn Ngành áp dụng Bộ tiêu chí và chỉ số phân tích giải quyết hồ sơ hoàn thuế, lựa chọn các doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro để lựa chọn, xây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra. Khoảng trống nghiên cứu Nghiên cứu về đề tài "Kiểm tra Thuế" có thể tập trung vào nhiều khía cạnh khác nhau, bao gồm cả các phƣơng pháp, chiến lƣợc, và hiệu quả của quá tr nh kiểm tra thuế.
Dƣới đây là một số khoảng trống có thể đƣợc nghiên cứu: Các nghiên cứu trên cho thấy trên thế giới chƣa có công tr nh nghiên cứu cụ thể đối với hoạt động kiểm tra thuế tại cấp Chi cục. Các công tr nh nghiên cứu chỉ tập trung vào việc nghiên cứu những khía cạnh nhất định trong công tác kiểm tra thuế nói riêng và chủ yếu tập trung đi sâu vào hoạt động quản lý thuế, chƣa chỉ ra đƣợc những hạn chế chính của công tác kiểm tra thuế. Đồng thời, các công tr nh nghiên cứu cũng chỉ mới đƣa ra một vài giải pháp cụ thể đối với vấn đề nâng cao chất lƣợng công tác quản lý thuế nói chung và công tác kiểm tra nói riêng ở một số nƣớc điển h nh. [P3] Ở nƣớc ta các nghiên cứu thƣờng tập trung vào thực trạng công tác kiểm tra thuế tại cơ quan, địa bàn để chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân và các tác giả cũng đề xuất ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với phạm vi nghiên cứu đã chọn.
Về mặt lý luận các đề tài nghiên cứu trên đã đề cập ít nhiều đến vai trò, mục đích và ý nghĩa của công tác kiểm tra thuế. Về mặt thực ti n, các đề tài nghiên cứu đã khảo sát, đánh giá thực trạng công tác kiểm tra thuế nhằm đƣa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra thuế tại địa phƣơng nghiên cứu. Tuy nhiên, tại Chi cục Thuế quận Tây Hồ không có đề tài nghiên cứu nào về công tác kiểm tra thuế nhằm đƣa ra những giải pháp, kiến nghị 6 góp phần nâng cao chất lƣợng công tác kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế quận Tây Hồ. V vậy, với đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu riêng biệt nên đề tài nghiên cứu này sẽ không tr ng lắp với các đề tài nghiên cứu đã có.
Cơ sở lý luận về công tác kiểm tra thuế tại cơ quan thuế 1. Khái niệm, mục đích và vai trò của kiểm tra thuế 1. Các khái niệm cơ bản a. Các khái niệm về thuế Đến thời điểm hiện tại cũng không có một định nghĩa chính xác cho thuật ngữ thuế.
Mỗi nhà kinh tế học khác nhau đều có những quan niệm khác nhau đối với định nghĩa thuế. Cụ thể: Lê Nin đã đƣa ra định nghĩa về thuật ngữ thuế nhƣ sau: “Thuế là cái mà nhà nƣớc thu của dân nhƣng không b lại và Thuế cấu thành nên nguồn thu của Chính phủ, nó đƣợc lấy ra từ sản ph m của đất đai và lao động trong nƣớc, xét cho c ng th thuế đƣợc lấy ra từ tƣ bản hay thu nhập của ngƣời chịu thuế”. Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze (1998) đã đƣa ra định nghĩa về thuế nhƣ sau: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nƣớc thông qua con đƣờng quyền lực nhằm b đắp những chi tiêu của Nhà Nƣớc”. Theo Luật Quản lý thuế 2019, Thuế đƣợc cụ thể nhƣ sau: “Thuế là một khoản nộp ngân sách nhà nƣớc bắt buộc của tổ chức, hộ gia đ nh, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của các luật thuế”.
Theo từ điển tiếng Việt th : Thuế đƣợc thể hiện là khoản tiền hay hiện vật mà ngƣời dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp buộc phải nộp cho nhà nƣớc theo mức quy định. Trên khía cạnh phân phối thu nhập th thuế đƣợc định nghĩa là: H nh thức phân phối, phân phối lại tổng sản ph m xã hội và thu nhập quốc dân nhằm h nh thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nƣớc để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc. 7 Từ các khái niệm và quan điểm về thuế nêu trên, ta có thể r t ra đƣợc một số đặc điểm cụ thể của thuế nhƣ sau: - Thứ nhất: Các nội dung kinh tế thuế đƣợc đặc trƣng bằng các mối quan hệ tiền tệ đƣợc h nh thành dƣới dạng nhà nƣớc và các pháp nhân hoặc các chủ thể trong xã hội. - Thứ hai: Mọi mối quan hệ dƣới dạng tiền tệ đều xuất phát một cách khách quan và tuân theo các quy luật cụ thể.
- Thứ ba: Việc chuyển thu nhập có tính chất bắt buộc theo lệnh của nhà nƣớc đƣợc biểu hiện dƣới dạng các văn bản quy phạm pháp luật đƣợc ban hành. - Thứ tư: Theo khía cạnh pháp luật, “Thuế là một khoản phải nộp cho nhà nƣớc đƣợc pháp luật quy định cụ thể”.