đặt vấn đề nghiên cứu sự thương thỏa giữa các chủ thể trong không gian sống nhằm chỉ ra quá trình dẫn đến biến đổi không gian nhận thức và không gian hình thành KTT. 18 Trong khi bàn về không gian, một tiếp cận được nhiều học giả quan tâm là quan niệm về không gian công (public space) và không gian tư (private space). Bàn về không gian trong xã hội đô thị ở Việt Nam, Lisa Drummond (2000) cho rằng khác với ý niệm về không gian công và không gian tư ở phương Tây. Những thuật ngữ này khó có thể áp dụng một cách cứng nhắc vào Việt Nam.
Ranh giới giữa không gian công và tư uyén chuyền và có thé thường xuyên bị xâm phạm theo cách thức và bối cảnh ở Việt Nam. Drummond cho rang sự phân định giữa không gian công và tư ở các thành phố ở Việt Nam bị làm mờ đi hoặc bị xâm phạm từ cả “bên trong ra” và “bên ngoài vào”. Các gia đình và cá nhân sử dụng không gian công cho hoạt động riêng tư, qua đó biến không gian công thành của tư. Đồng thời, sự can thiệp của nhà nước vào không gian tư mang tính xâm chiếm/xâm lắn thông qua cách tô chức đời sống gia đình nhằm phủ nhận hoặc thoả hiệp một khái niệm về không gian riêng tư (Drummond 2000:2378).
Không gian công trong giai đoạn giành được độc lập ở miền bắc từ 1954 - 1986 nằm trong sự quản lý và giám sát chặt chẽ của nhà nước qua các cơ quan như báo chí hoặc truyền thông khác. Còn không gian tư cho đến trước giai đoạn hậu thực dân ở miền Bắc thì ít chịu sự can thiệp từ nhà nước, mà chủ yếu nằm trong hệ tư tưởng Không giáo với cau trúc vua — cha - con. Trong thời kỳ Pháp thuộc, người Pháp không quan tâm nhiều đến hoạt động tại gia đình, chủ yếu nỗ lực nâng tầm giáo dục phụ nữ lên cao hơn (Drummond 2000:2382). Tuy nhiên, đến thời kỳ nhà nước xã hội chủ nghĩa, có những hoạt động nhằm sắp xếp lại vai trò xã hội và tổ chức lại hộ gia đình, chủ yếu thông qua các chiến dịch vận động.
Không gian tư ở Việt Nam không như phương tây nhằm mục tiêu tái tạo sức lao động. Via hè là một không gian công, người dân đô thị ở Việt Nam hiểu rõ rằng vỉa hè mà họ sử dụng dé buôn bán không phải sở hữu của họ, mặc dù thói quen sử dụng không gian này được bảo vệ chống lại những người tiềm năng sử dụng (Drummond 2000:2384). 19 Nhà nước nỗ lực đưa khái niệm không gian công và tôn trọng không gian công vào cư dân đô thị. Qua đó, thời gian trước, nhà nước VN đã hạn chế được sự lan chiếm của khu vực phi chính thức (informal sector) vào vỉa hè.
Những đối tượng của cái “lạc hậu”, như xích lô, người bán rong, người ăn xin, xe bán đồ ăn hoặc gánh hàng từ các vùng quê lên, và qua đó đã khang định quyền sở hữu đối với không gian của thành phố đối với cư dân đô thị cé thủ (entrenched), (Drummond 2000:2384-2385). Đối với việc xâm lấn không gian tu, sự can thiệp/tham gia/dinh liu của nhà nước vào không gian tư hoặc không gian gia đình chủ yếu nam ở nỗ lực nhằm tô chức quan hệ gia đình, cấu trúc xã hội trong gia đình. Ví dụ, xây dựng gia đình văn hoá, bảo vệ quyền lợi phụ nữ thông gia các nhóm/hội ở địa bàn. Sở di như vậy vi gia đình là đơn vi xã hội trung tâm của chức năng sinh sản và sự tập trung vào giải phóng phụ nữ đã dẫn đến gia đời những hoạt động dịch vụ chăm sóc day-cares, căng tin hay bếp chung.
Điều này tạo ra con người mới xã hội chủ nghĩa (Drummond 2000:2385). Ngoài ra, chế độ hộ khẩu hay chính sách kế hoạch hoá gia đình cũng là những tác động vào đời sống gia đình/riêng tư từ phía nhà nước. Chế độ hộ khâu nhăm ngăn cản những người di cư từ nông thôn ra thành thị, bởi không được cấp gạo, lương thực thực phẩm, công việc, nơi ở và học hành. Mặc dù chế độ này đã bị cham dứt vào cuối thập niên 1980, nhưng nếu không có một số đăng ký cư trú đô thị cũng sẽ ngăn cản người di cư tiếp cận với giáo dục công, việc làm nhà nước và những dịch vụ công khác (Drummond 2000: 2387).
Một loại hình không gian mới được tạo ra ở các khu vui chơi giải trí. Vốn di loại hình nay do nha nước xây dựng nên va quan lý như bảo tàng, công viên, cung thê thao. Đổi mới đã tạo ra những không gian nghỉ ngơi (leisure space) khác như SuperBowl, KFC, Jollibee, Sai Gon Water Park. Những không gian thư giãn này vận hành như thê là những không gian tư, hạn chế tấp cận dựa trên năng lực tài chính và không do Đảng hay Nhà nước vận hành.
Có thể nói về 20 những không gian công cộng giả (pseudo-public space), không gian bán công đang ton tại và phát triển ở Việt Nam (Drummond 2000:2388). Tiếp cận nghiên cứu về thương thoả Nguyễn Thị Phương Châm (2020) nghiên cứu về sự thương thỏa của các chủ thê văn hóa vỉa hè đã xem xét những nhóm xã hội khác nhau tham gia quản lý, sử dụng và hoạt động trên vỉa hè ở Hà Nội. Tác giả chỉ ra sự thương thỏa giữa các chủ thể này diễn ra thường xuyên, đa dạng và có những chiến lược rõ ràng nham đạt sự thỏa mãn của mỗi bên. Chủ nhà mặt phó, người thuê nhà, người bán rong, người thụ hưởng dịch vụ va cả cán bộ chính quyền đều là những chủ thê tham gia vào quá trình thương thỏa sử dụng không gian vỉa hè này (Nguyễn Thị Phương Châm 2020:3).
Khi bàn rộng hơn, Nguyễn Thị Phương Châm cho rằng David Koh (2006) đã có lý khi chỉ ra khó khăn lớn của chính quyền địa phương là không thể tách bạch giữa công và tư trong quá trình làm việc. Họ có vai trò kép, vừa đại diện cho nhà nước lại vừa là một phần của cộng đồng địa phương. Do đó, thương thỏa diễn ra giữa “lý và tình, giữa luật pháp và sự thông cảm, giữa thực hành văn hóa truyền thống và quy định về văn minh đô thị” (Nguyễn Thị Phương Châm 2020:13). Tiếp cận theo hướng nghiên cứu về mối quan hệ giữa chính quyền địa phương va người dân ở Hà Nội, David Koh (2004) đã phân tích chính sách nhà ở tại Việt Nam đồng thời chỉ ra những bat cập khiến cho người dân và chính quyền địa phương có thể áp dụng để lách luật.
Chính điều này đã tạo nên một số lượng lớn nhà ở và công trình xây dựng trái phép tại Hà Nội. Khi bàn về vấn đề này trong các KTT, Koh chỉ ra việc xây dựng trái phép diễn ra hàng loạt trong giai đoạn 1975 đến giữa thập niên 1980 ở các khu tập thể như Nguyễn Công Trứ, Giảng Võ-Thành Công, Trung Tự-Kim Liên. Những khu cơi nới thường được sử dụng làm kho chứa đồ đạc, chăn nuôi, dé xe, bếp hoặc công cụ sản xuất, cửa hàng,. Một cuộc điều tra vào năm 1983 ở khu Trung Tự-Kim Liên chỉ ra rằng 75-83% hộ gia đình sống ở 21 tang 1 và 50% hộ gia đình sống ở tầng trên của các khu tập thé đã coi nới hoặc phá bỏ một số bức tường nhà mà không được phép của cơ quan quản lý (Koh 2004:355).
Phải đến năm 1985 khi Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra nghị quyết bắt buộc chính quyền địa phương ở những nơi này xiết chặt kỷ cương thì việc coi nới mới dan bị hạn chế (Koh 2004:356). Nhìn chung, Koh nhận định răng chính sách pháp luật về nhà ở không đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của người dân, và cán bộ ở cấp phường đã có những du di trong việc quản lý. Sự điều dinh/dan xếp/thương thoả về chế độ nhà ở tác động tới suy nghĩ rằng phải chăng nhà nước nắm quyền quản lý xã hội hay nhà nước và xã hội là hai thực thé tách biệt. Có lẽ rằng, ranh giới giữa nhà nước và xã hội trở nên mơ hé/lu mờ và chịu sự thỏa hiệp ở những bối cảnh cụ thé.
Tuy nhiên, quá trình điều đình, dàn xếp hay thương thoả này diễn ra như thế nào lại không được Koh phân tích cặn kẽ. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm thương thỏa với ý nghĩa và quan điểm tiếp cận địa bàn nghiên cứu là khu tập thê Kim Liên với đối tượng khách thé là các cư dân trong không gian khu tập thé, quá trình tương tác, thích ứng của họ với môi trường sống và các bên liên quan nhằm làm nỗi bật các mối quan hệ giữa các cá nhân, các hộ gia đình, với cộng đồng Và VỚI chính quyền địa phương. Sự thương thỏa diễn ra trong mọi không gian và mang những nét đặc trưng của khu tập thé cũ ở Hà Nội. Cụ thé hon của việc tìm hiểu quá trình thương thỏa trong các không gian như thế nào? Và cách thức các chủ thê trong không gian KTT thương thỏa với nhau nhằm đạt mục tiêu của mình? Ngoài ra, để hiểu rõ hơn về lối sống của cộng đồng cư dân khu tập thê Kim Liên, cũng cần hiểu thêm về khái niệm khu tập thể.
Đặt trong bỗi cảnh lịch sử xã hội Việt Nam sau năm 1954, đặc biệt trong giai đoạn khu tập thé Kim Liên được khởi công xây dựng thì khái niệm “nhà tập thể” và “khu tập thể” có lẽ ra đời ở giai đoạn này. Ý nghĩa và công năng đầu tiên khi các khu tập thể được xây dựng thời kỳ này là một trong các hình thức và biện pháp giải quyết 22 chỗ ở cho cán bộ kháng chiến về thủ đô và lực lượng cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước ngay cảng gia tang sau đó. Nội hàm khái niệm này sẽ được làm rõ hơn trong phan trình bày về lịch sử hình thành khu tập thé Kim Liên trong tiểu mục 1. Một khái niệm tiếp theo sẽ được sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu của luận văn này mà chúng tôi cũng muốn khái niệm hóa ngay từ ban dau, đó là khái niệm lối sống.
Theo Luis Wirth - nhà xã hội học đô thị người Mỹ thuộc trường phái Chicago ngay từ những năm 30 của thé ki XX đã nêu định nghĩa về lối sống đô thị như là các khuôn mẫu của văn hóa va cấu trúc xã hội, đặc trưng ở các đô thị và khác căn bản với văn hóa của các cộng đồng nông thôn.! Nghiên cứu về chủ đề này tại Việt Nam, nhóm tác giả Trương Minh Dục và Nguyễn Sỹ Vịnh (2013)?