CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỪ THIỆN XÃ HỘI VÀ TỔNG QUAN VỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP. Một số vấn đề lý luận chung về từ thiện xã hội 1. Khái niệm “Từ thiện xã hội” Từ thiện là một hoạt động thấm đẫm tính nhân văn và thể hiện nét văn hóa truyền thống của người Việt. Từ thiện xã hội (TTXH) thường được huy động qua các kênh chính thức hoặc các tổ chức chính trị - xã hội như Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân.
Các lĩnh vực thường được mọi người hướng tới ủng hộ, như: Xóa đói giảm nghèo, cứu trợ các nạn nhân chịu ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ, cứu trợ trẻ em, người già neo đơn, hỗ trợ người tàn tật, nạn nhân của các vụ bạo hành, lạm dụng hay tổ chức truyền thông, vận động các chiến dịch, tình nguyện viên trong các hoạt động giáo dục, đào tạo, văn hóa, môi trường… Trong cuộc sống thường nhật, “Từ thiện xã hội” được được hiểu là những hoạt động giúp đỡ, cứu trợ những người nghèo khổ, tật bệnh, hoạn nạn, khó khăn trong cuộc sống. Hoạt động này có thể thông qua hình thức quyên góp, hiến tặng bằng tiền, vật phẩm, thời gian hay là cứu trợ nhân đạo, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe,. Việc trợ giúp tinh thần, an ủi, ổn định tâm lý người gặp nạn, hoặc dành thời gian, công sức làm việc cho các tổ chức từ thiện cũng được xem là hành động từ thiện. Bất cứ cả nhân hay tổ chức làm từ thiện cũng đều xuất phát từ tấm lòng và phù hợp với khả năng của mình.
Đối với người Việt, các hoạt động xoay quanh vấn đề từ thiện được xem là căn bản của đạo đức và tính nhân đạo cũng như là một đức tính hay là đức hạnh cần thiết trong nhiều tôn giáo. 12 Từ thiện là một từ Hán Việt. Theo từ điển Hán Việt Thiều Chửu, “Từ thiện” ( 慈 善 ) là kết hợp giữa hai từ: “Từ”- nghĩa là thương yêu, như là nhân từ (thương người), từ “Tâm” – nghĩa là lòng thương và “Thiện” – nghĩa là tốt, lành, hợp với đạo đức. Vậy từ thiện có nghĩa là làm việc tốt, hợp với đạo lý, từ lòng yêu thương người.
Trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” của Viện ngôn ngữ học định nghĩa, “Từ thiện” được định nghĩa là “có lòng thương người, sẵn sàng giúp đỡ người nghèo khó để làm phúc” [48; tr. Có nhiều quan niệm khác nhau về TTXH. Từ điển về xã hội dân sự, từ điển về khu vực phi lợi nhuận đưa ra quan niệm TTXH bao gồm: - Các hoạt động tự nguyện giúp đỡ, bao gồm cả sự giúp đỡ vật chất cho những đối tượng cần trợ giúp; - Cơ quan hay tổ chức làm việc giúp đỡ người có nhu cầu trợ giúp; - Những quan niệm về lòng tốt, sự hào phóng, vị tha và bao dung trong việc đánh giá người khác. Theo nghĩa rộng, từ thiện có thể được hiểu là những cam kết lâu dài và tự nguyện vì lợi ích của cộng đồng, góp phần giải quyết các nguyên nhân sâu xa gây ra của các vấn đề xã hội.
Đối với Phật giáo, hoạt động giúp đỡ mọi người trong cuộc sống là sự thể hiện lòng từ bi và tinh thần nhập thế, sự dấn thân của các vị tăng sĩ và phật tử vào đời sống xã hội. Trong cuốn “Phật học từ điển”, Từ thiện là “vì có lòng từ bi nên ta làm sự lành” [11; tr. Đó chính là sự cứu giúp người nghèo khổ, tật bệnh, hoạn nạn trong đời. Như vậy, mặc dù định nghĩa về “từ thiện” có khác nhau, nhưng tựu chung các quan niệm đều cho rằng, TTXH là những hành động nhân đạo của cá nhân, tổ chức nhằm giúp đỡ người khác vượt qua những khó khăn, cải thiện cuộc sống khi họ lâm vào những hoàn cảnh khó khăn, mất hoặc suy giảm thu nhập hoặc không còn khả năng tự vươn lên.
13 Khi nền kinh tế ngày càng khởi sắc, đất nước ngày càng phát triển, các hoạt động từ thiện (HĐTT) ngày càng phong phú, đóng vai trò vô cùng quan trọng, trợ giúp cho những nhóm yếu thế trong xã hội, như: người nghèo, người tàn tật, người dân tộc thiểu số, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn… 1. Hoạt động từ thiện xã hội và sự đóng góp của nguồn lực tôn giáo - Hoạt động từ thiện xã hội Bản chất của hoạt động từ thiện là việc làm tốt đẹp, tự nguyện cho đi không toan tính với mong muốn mọi người đều được cuộc sống ấm no, bớt khổ thêm vui, hướng tới xã hội tốt đẹp; đồng thời làm an lạc, hạnh phúc cho tâm hồn chính mình. Bởi lẽ đó, tính minh bạch thu – chi trong HĐTT là điều kiện tiên quyết, tạo niềm tin lớn đối với cộng đồng. Trong cuộc sống, người Việt thường có tấm lòng bao dung, nhân ái.
Đó chính là truyền thống “lá lành đùm lá rách” của dân tộc ta. Sự trợ giúp những mảnh đời đang đối mặt với nỗi khốn khó như thiên tai, bão lũ, hạn hán hay bệnh tật hiểm nghèo là việc làm hết sức có ý nghĩa, thể hiện tính nhân văn, đạo đức xuất phát từ trái tim yêu thương. Nghị định số 64/2008/NĐ-CP một cách khá rõ ràng về điều kiện được phép tổ chức vận động đóng góp ủng hộ. Cụ thể: - Việc tổ chức vận động đóng góp ủng hộ khắc phục khó khăn chỉ thực hiện khi thiên tai, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng xảy ra làm thiệt hại lớn về người, tài sản của nhân dân.
- Các tổ chức vận động đóng góp giúp đỡ các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo được thực hiện theo từng trường hợp cụ thể thông qua việc tuyên truyền, kêu gọi ủng hộ của các cơ quan thông tin đại chúng. 14 - Việc đóng góp tiền, hàng khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng; giúp đỡ bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện với lòng hảo tâm. - Các cơ quan, tổ chức không tự đặt ra mức huy động đóng góp tối thiểu để ép buộc người dân thực hiện [40; https://vanban.vn/] Hoạt động quyên góp cứu trợ trong từ thiện thuộc về loại hình giao dịch dân sự. Có thể phân chia ra thành hai loại hình: Hợp đồng tặng cho tài sản và hoạt động kêu gọi, quyên góp cứu trợ trong từ thiện là hợp đồng ủy quyền.
Hoạt động từ thiện xã hội thường tồn tại một số hạn chế phổ biến. Một số cá nhân hay tổ chức tham gia từ thiện không xuất phát từ tâm thiện lành, mà lại vì mục đích khác, như: Đánh bóng tên tuổi, thu lợi cho bản thân… Một số nơi thực hiện thu – chi không minh bạch, làm ảnh hưởng tiêu cực đến HĐTT chung của cộng đồng. Tuy nhiên, phần lớn người dân tham gia với tấm lòng thiện nguyện, đem niềm vui đến cho cộng đồng bởi đó chính là nét đẹp truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam. - Sự đóng góp của nguồn lực tôn giáo Theo công bố của Ban Tôn giáo Chính phủ, Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo và cộng đồng tôn giáo, với 41 tổ chức tôn giáo được công nhận, cấp đăng ký hoạt động thuộc 16 tôn giáo, có trên 26,5 triệu tín đồ (chiếm khoảng 27% dân số cả nước), hơn 54 nghìn chức sắc, 135 nghìn chức việc và 29.658 cơ sở thờ tự [2; Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam].
Các lực lượng tôn giáo là một trong những đối tượng tham gia các HĐTT xã hội khá nhiệt tình. Đó có thể hiểu đó là nhu cầu tự thân, mang tính truyền thống của tôn giáo. Đây được coi là một trong những phương thức hữu hiệu để các tôn giáo hiện thực hóa giáo lý, giáo luật, qua đó, củng cố đức tin, truyền bá và nâng cao vị thế, vai trò, ảnh hưởng của tôn giáo trong cộng đồng xã hội. 15 Tại Đại hội Toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, nội dung của Báo cáo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 đã chỉ rõ, cần tiếp tục kế thừa và phát triển những quan điểm lớn của Đảng về tôn giáo, đặc biệt là phát triển quan điểm mới là phát huy nguồn lực tôn giáo vào các hoạt động cụ thể của xã hội [57; tr.
Tinh thần đó đã định hướng cho cán bộ làm công tác tôn giáo vận dụng trong bối cảnh thực tế. Một trong những lĩnh vực mà nguồn lực tôn giáo được sử dụng khá hiệu quả đó là trong các hoạt động an sinh xã hội, từ thiện, nhân đạo. Theo thông tin của Ban Tôn giáo Chính phủ, hiện nay, cả nước có 300 trường, lớp mầm non, 2.000 lớp học tình thương, 12 cơ sở dạy nghề; 500 cơ sở khám, chữa bệnh do cá nhân, tổ chức tôn giáo thành lập và điều hành; gần 800 cơ sở bảo trợ xã hội đang nuôi dưỡng 12.000 các đối tượng cần trợ giúp [2; tr. Trong những hoàn cảnh đó, nguồn lực tôn giáo đã tự nguyện đóng góp tài lực, cùng nhà nước chăm lo đời sống cho người dân còn khó khăn.
Có thể thấy, các tôn giáo ở Việt Nam đã đóng góp tích cực ở nhiều phương diện của đời sống nhân dân với chủ trương xã hội hóa các hoạt động từ thiện xã hội. Trong Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 được thông qua Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX), Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định, cần phát huy vai trò của các tôn giáo tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện: “Giải quyết việc tôn giáo thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động y tế, văn hóa, xã hội, giáo dục của Nhà nước theo nguyên tắc: khuyến khích các tôn giáo đã được Nhà nước thừa nhận tham gia phù hợp với chức năng, nguyên tắc tổ chức của mỗi tôn giáo và quy định của pháp luật. Cá nhân tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành tham gia với tư cách công dân thì được Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thực hiện theo quy định của pháp luật” [43; https://tulieuvankien. 16 Tiếp đó, đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, điều này tiếp tục được Đảng ta nhấn mạnh: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”; “Phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo vào giữ gìn và nâng cao đạo đức truyền thống xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội” [12; tr.