đặt vấn đề như trên, luận văn nghiên cứu nhằm đạt được được 03 mục tiêu cơ bản sau: Thứ nhất: Đánh giá thực trạng hoạt động dịch vụ ngân hàng trên địa bàn TP.HCM trong thời gian 01 năm trước va sau 04 năm gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới, làm cơ sở để đánh giá những tác động của việc gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng. Thứ hai: Đánh giá những tác động tích cực và những tác động ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế đối với hoạt động ngân hàng trên địa bản 2 thành phô Hỗ Chí Minh. Đông thời, nêu bật những tồn tai, hạn chế và nguyên nhân trong hoạt động dịch vụ ngân hàng trên địa bàn, trong tiến trình gia nhập tổ chức thương mại Thế giới. Làm cơ sở để xây dựng cơ chế chính sách và các giải pháp phát triển hoạt động dịch vụ ngân hàng trên địa bàn.
Thứ ba: Xây dựng định hướng và giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng phù hợp với tình hình và yêu cầu thực tế, để hoạt động ngân hàng trên địa bản tiếp tục phát triển bền vững, cạnh tranh trong điều kiện nền kinh tế đất nước là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới. Phạm vi nghiên cứu của Luận văn: Luận văn tập trung nghiên cứu về hoạt động dịch vụ ngân hàng của các TCTD mà chủ yếu là của các NHTM trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp nghiên cứu: - Luận văn sử dụng kết hợp phương pháp định lượng, thống kê để đánh giá, phân tích tác động của việc gia nhập WTO đối với hoạt động ngân hàng trên địa bàn thành phố TP. - Xây dựng hệ thống các chỉ tiêu: định tính và định lượng, sử dụng kết hợp 02 chỉ tiêu này, thông qua phương pháp so sánh để nêu bật những tác động của hội nhập đối với hoạt động ngân hàng (phân tích định tính, bám sát các chỉ tiêu định lượng đề đánh giá).
| _ CHUONG1 _ a CO SO LY LUAN VE DICH VU NGAN HANG VA PHAT TRIEN DICH VU NGAN HANG TRONG QUA TRINH HOI NHAP. Khái niệm về ngân hàng và hoạt động NHTM 1. Khái niệm về ngân hàng: Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng thì Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận. Ngân hàng thương mại (NHTM) là loại Ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tô chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi SỬ dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên.
NHTM là loại Ngân hàng có số lượng lớn và rất phố biến trong nền kinh tế. Sự có mặt của NHTM trong hầu hết các hoạt động của nền kinh tế xã hội đã chứng minh rằng: Ở đâu có hệ thống NHTM phát triển, thì ở đó có sự phát triển với tốc độ cao của nền kinh tế - xã hội. Luật Ngân hàng nhiều nước trên thế giới đều cho rằng: NHTM là những tổ chức tài chính trung gian với nhiệm vụ thường xuyên là nhận tiền gửi của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác, và sử dụng nguồn lực đó trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính. Như vậy, có thể nói rằng NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường.
Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội được huy động, tập trung lại, đồng thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân để phát triển kinh tế xã hội. Hoạt động của ngân hàng thương mại: Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) khẳng định: “Ngân hàng là loại hình TCTD có thể được thực hiện tất cả các hoạt động của Ngân hàng theo quy định của Luật các TCTD” (Theo khoản 2 Điều 4 Luật các TCTD). Trong đó, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: - Nhận tiền gửi: là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trá đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thoa thuận. - Cấp tin dụng: là việc thoả thuận đề tô chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
- Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản: là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, uỷ nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng. Những vấn đề cơ bản về dịch vụ ngân hàng: 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng và phân biệt sự khác nhau của dịch vụ ngân hàng và nghiệp vụ ngân hàng. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng: Ta thấy rằng, hoạt động huy động vốn và hoạt động tín dụng đã mang lại những hiệu quá to lớn cho nền kinh tế - xã hội.
Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, thì chưa đủ, các NHTM cần đáp ứng tất cả các nhu cầu của khách hàng có liên quan đến hoạt động ngân hàng. Đó là việc cung ứng dịch vụ ngân hàng. 5 Dịch vụ Ngân hàng thực chât là tât cả hoạt động của NHTM. Tuy nhiên, theo truyền thống, người ta vẫn có sự phân biệt giữa hoạt động tín dụng với dịch vụ ngân hàng.
Dịch vụ ngân hàng chia làm 02 loại: a. Dịch vụ ngân hàng truyền thống: Dịch vụ ngân hàng truyền thống là những dịch vụ đã được các ngân hàng thực hiện từ những lợi thế cơ bản của ngân hàng, và đã tồn tại từ rất lâu và phát triển hoàn thiện dần cùng với sự phát triển của hệ thống ngân hàng. Những dịch vụ này bao gồm: - Huy động vốn: nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn của cá nhân tô chức kinh tế và tổ chức phi kinh tế. -- Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: mở tài khoản, thanh toán trong nước và quốc tế, chuyển tiền, thu chỉ hộ.
- Tín dụng vốn lưu động, cho vay đầu tư tải sản cố định, tín dung tai trợ dự án, bảo lãnh ngân hàng. - Tín dụng tiêu dùng thông qua các loại hình cho vay như mua nhà, xây-sửa nhà, mua xe,. - Tín dụng hỗ trợ kinh doanh bất động sản, kinh doanh chứng khoán. - Dịch vụ khác: bảo quản vật có giá, ủy thác và đại lý, tư vấn tài chính.
Dịch vụ ngân hàng hiện đại: © Khái niệm: Dịch vụ ngân hàng hiện đại là những dịch vụ được ngân hàng cung cấp cho khách hàng dựa trên nền tảng công nghệ tin học hiện đại, tức dựa trên công nghệ điện tử, vì vậy, những loại dịch vụ này được gọi chung là dịch vụ ngân hàng điện tử. Dịch vụ ngân hàng điện tử cho phép khách hàng có thể truy nhập từ xa vào một ngân hàng nhằm nắm bắt các thông tin có liên quan đến hoạt động ngân hàng, thực hiện các giao dịch với ngân hàng thông qua phương tiện thông tin hiện đại mà không cần phải đến quầy giao dịch như trước đây. Nói cách khác, dịch vụ ngân hàng điện tử là một hệ thống phần 6 mem vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu, năm bất thông tin tài chính ngân hàng, hoặc thực hiện hoặc được cung cấp các dịch vụ tải chính ngân hàng có liên quan, thông qua việc kết nối hệ thống máy tính của mình với hệ thống máy tính của ngân hàng, hoặc thông qua các phương tiện truyền thông hiện đại kết nối không dây khác. Dịch vụ ngân hàng hiện đại có hai đặc tính: - Không hoàn toàn thay thế cho các dịch vụ truyền thống mà mang tính kế thừa và cải tiễn từ các dịch vụ này.
- Gắn liền với sự phát triển, và tiến bộ của công nghệ thông tin hiện đại. e _ Các dịch vụ ngân hàng hiện đại: Dịch vụ ngân hàng hiện đại còn được gọi là dịch vụ ngân hàng điện tử (e-banking), nhờ sự phát triển với tốc độ cao của công nghệ thông tin. Hiện nay ở nhiều nước trên thế giới, dịch vụ ngân hàng điện tử đã phát triển rất phổ biến. Các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng điện tử gồm các loại sản phẩm chủ yếu sau đây: - Homebanking: Với dịch vụ ngân hàng tại nhà (homebanking), khách hàng giao dịch với ngân hàng qua mạng nhưng là mạng nội bộ (Intranet) do ngân hàng xây dựng riêng.
Các giao dịch được tiến hành tại nhà thông qua hệ thống máy tính nối với hệ thống máy tính của ngân hàng. Thông qua dịch vụ homebanking, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch về chuyển tiền, liệt kê giao dịch, tỷ giá, lãi suất, báo Nợ, báo Có. Để sử dụng được dịch vụ homebanking khách hàng chỉ cần có máy tính (tại nhà hoặc trụ sở) kết nối với hệ thống máy tính của Ngân hàng thông qua modem, đồng thời khách hàng phải đăng ký số điện thoại và chỉ những số điện thoại này mới được kết nối với hệ thống homebanking của Ngân hàng. - Internet banking: Dịch vụ Internet banking giúp khách hàng chuyển tiền trên mạng thông qua các tài khoán cũng như kiểm soát các hoạt động của các tài khoản này.
Để tham gia, khách hàng truy cập vào website của ngân hàng và thực hiện 7 giao dich tai chính, truy cập thông tin cân thiết. Thông tin rất phong phú, đến. từng chỉ tiết giao dịch của khách hàng cũng như những thông tin khác về ngân hàng. Khách hàng cũng có thể truy cập vào các website khác để mua hàng và thực hiện thanh toán với ngân hàng.
Tuy nhiên, khi kết nối internet thì ngân hàng phải có hệ thống bảo mật đủ mạnh để đối phó với rủi ro trên phạm vi toàn cầu. Đây là trở ngại lớn vì đầu tư hệ thống bảo mật rất tốn kém. - Phone banking: Đây là loại sản phẩm cung cấp thông tin ngân hàng qua điện thoại hoàn toàn tự động.