CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ CẤP TỈNH 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về nhân lực và quản trị nhân lực 1. Khái niệm nhân lực Khái niệm nhân lực được đề cập vào đầu những năm 1900 và được biết đến rộng rãi hơn vào những năm 1980 của thế kỷ XX khi có sự chuyển biến cơ bản về cách thức quản trị và sử dụng con người trong nền kinh tế thị trường. Với phương thức quản lý nhân lực thời gian trước có các đặc trưng chủ yếu coi nhân lực như nô lệ, là công cụ để thi hành mệnh lệnh và người chủ tìm mọi cách vắt kiệt sức lao động của họ để nâng cao năng suất đồng thời cắt giảm chi phí đến mức tối thiểu.
Cách thức quản lý như vậy dẫn đến hậu quả là người lao động ngày càng bất mãn, làm việc với hình thức chống đối ngầm và năng suất lao động ngày một giảm đi. Chứng kiến kết quả doanh thu ngày một đi xuống, chủ lao động càng ra sức áp bước bốc lột người lao động hơn nữa. Tức nước vỡ bờ, theo đúng như lời cụ Mác từng nói: “nơi nào có áp bức, nơi đó có đấu tranh”, vì không thể chịu đựng thêm nữa chế độ bóc lột tàn ác của giai cấp tư sản, các cuộc đấu tranh đình công, bãi công của công nhân trên toàn thế giới đã bùng lên mạnh mẽ với đòi hỏi bức thiết là tăng lương, giảm giờ làm. Tiếp theo đó là sự ra đời của tổ chức công đoàn, cơ quan đại diện cho giai cấp công nhân.
Các nhà quản lý bắt đầu nhận thức được sự cực đoan trong công tác quản trị và sử dụng lao động của mình. Bắt đầu từ những năm 1980 đến nay, họ đã thay đổi phương thức quản trị nhân lực một cách công bằng và khoa học, với tính chất mềm dẻo và linh động hơn, người sử dụng lao động tạo điều kiện và môi trường làm việc thuận lợi để người lao động phát huy khả năng, sở trường của mình để họ an tâm cống hiến sức lực và tinh thần cho công việc nhằm đạt được hiệu quả lao động tối ưu nhất. Hiệu quả lao động tối ưu nhằm mục đích hài hòa lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động đồng thời đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của tổ chức. Nếu như lợi ích của một trong hai bên không được thỏa đáng thì khả năng giải thể tổ chức 10 chỉ còn phụ thuộc vào thời gian.
Chính vì vậy, có thể nói rằng sự xuất hiện của thuật ngữ “nhân lực” là một trong những cột mốc quan trọng đánh dấu ưu thế phát triển vượt trội của phương thức quản trị nhân lực mới thay thế cách thức quản lý nhân lực lúc trước. Thuật ngữ “nhân lực” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau như: - Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) [8], “Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người đang trong độ tuổi lao động và đồng thời có khả năng tham gia lao động”. Nguồn nhân lực được giải thích là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển xã hội, bao gồm lực lượng dân số trong độ tuổi lao động, nguồn lực này có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội. Tức là để tham gia vào quá trình lao động cần đáp ứng đủ các yêu cầu về thể lực và trí lực cũng như các kỹ năng nghề nghiệp cần thiết.
- Trong báo cáo của Liên Hợp quốc (UN) [9] đã đưa ra khái niệm: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”. Như vậy, nguồn lực con người đang đề cập đến được xem như một nguồn vốn trong số các nguồn tài nguyên vật chất khác: Vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. - Trong giáo trình Quản trị nhân lực – Đại học kinh tế quốc dân 2007 của tác giả Nguyễn Ngọc Quân [10] có đề cập đến khái niệm nhân lực: “Nguồn nhân lực bao gồm tập thể người lao động làm việc trong một tổ chức, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người, mà nguồn lực này bao gồm cả trí lực và thể lực.” + Trí lực thể hiện khả năng tư duy lập luận, năng lực phân tích đánh giá, nhận thức của não bộ, khả năng ghi nhớ và tiếp thu kiến thức của con người. + Thể lực thể hiện sức mạnh cơ bắp, sức bền, khả năng lao động sản xuất bằng chân tay của con người.
+ Trí lực và thể lực ở mỗi người đều khác nhau, năng lực này mạnh hay yếu phụ thuộc vào di truyền, độ tuổi, giới tính và các yếu tố môi trường sống. 11 Theo tác giả Niclolas Henry [11] (Quản trị công và Chính sách công, tái bản lần thứ 10 năm 2007) đã đưa ra khái niệm như sau: “Nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia, khu vực, thế giới”. Như vậy, nhân lực trong phát biểu trên được hiểu như một nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần cấu thành nguồn lực phục vụ cho sự phát triển chung của các tổ chức. Chúng ta có thể kết luận nhân lực là yếu tố then chốt đóng vai trò quyết định đến sự sống còn của một tổ chức.
Chính vì thế mà nhà quản lý phải quan tâm phát triển nguồn lực con người nhằm đảm bảo duy trì sự tồn tại ổn định, bền vững và phát triển của tổ chức ở cả hiện tại và tương lai. - Vị trí, vai trò của nhân lực đối với tổ chức Nhân lực là nguồn lực không thể thiếu có vai trò quan trọng nhất đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở bất cứ nơi đâu. Vai trò đó được thể hiện ở những khía cạnh cụ thể như sau: Trước hết, nhân lực là yếu tố quyết định thúc đẩy sự phát triển của tổ chức, có vai trò điều chỉnh nền kinh tế, thay đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh, hỗ trợ phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Tiếp theo, nhân lực là điều kiện cần trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Quá trình đồng bộ hóa nền kinh tế thế giới đang diễn ra và tiếp tục phát triển nhanh về quy mô lẫn hình thức, việc này có tác động ngày một phức tạp đan xen nhiều cơ hội lẫn khó khăn thách thức. Vì lẽ đó, công tác phát triển nhân lực chất lượng cao trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của các quốc gia. Kế đến là, xã hội liên tục đổi mới và tiến lên, các tổ chức phải không ngừng thay đổi để tồn tại và phát triển, trong những nguồn lực cốt lõi thì khả năng phát triển nguồn lực con người là vô tận. Do đó nếu như biết khai thác và sử dụng hợp lý, nguồn nhân lực có 12 thể sản xuất ra nhiều của cải, vật chất cho xã hội, đáp ứng nhu cầu cuộc sống ngày một nâng cao của con người.
Cuối cùng, như Cụ Mác từng khẳng định “Cạnh tranh là động lực cho sự phát triển”, từ đó ta có thể nhận định rằng cùng với khoa học - công nghệ, vốn đầu tư, nhân lực đóng vai trò là nguồn lực quyết định đến sự thành bại trong công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Nhà nước ta đang xây dựng. Tóm lại, nhìn lại toàn bộ lịch sử phát triển của con người, trải qua quá trình tiến hóa hàng triệu năm con người đã tích lũy cho nòi giống mình những kỹ năng ưu việt, từ việc săn bắt, hái lượm đến kỹ năng lao động sản xuất. Như vậy, có thể khẳng định rằng con người là nhân tố quan trọng bậc nhất quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội. Khái niệm về Quản trị nhân lực Quản trị nhân lực là một hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng nhằm thu hút, đào tạo – phát triển và duy trì nguồn lực con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cho tổ chức và con người của tổ chức đó.
Xét về nội dung hoạt động thì quản trị nhân lực là việc chiêu mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng và cung cấp tiện nghi cho nhân lực thông qua tổ chức nhằm thu hút, xây dựng và phát triển, sử dụng, bảo toàn và giữ gìn một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu của tổ chức cả về chất và lượng. Xét về bản chất thì quản trị nhân lực là công tác quản lý con người trong phạm vi nội bộ một tổ chức, là cách thức ứng xử của tổ chức đối với nhân lực. Nói cách khác, nhà quản trị chịu trách nhiệm đưa con người vào tổ chức, giúp con người thực hiện công việc, chi trả thù lao tương xứng với sức lao động của họ và xử lý những vấn đề liên quan. Theo nhận định của giáo sư Felix Migro [12] cho rằng: “Quản trị nhân lực là một nghệ thuật chọn lựa nhân viên mới và sử dụng các nhân viên cũ sao cho năng suất và chất lượng công việc của mỗi người đều đạt mức tối đa có thể.” 13 Tóm lại, quản trị nhân lực là hệ thống những triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo và phát triển con người của một tổ chức nhằm mục đích đạt được kết quả tối ưu cho nhân lực lẫn tổ chức.
Kết quả tối ưu được nói đến không phải hiệu quả tuyệt đối về mặt kinh tế mà là điểm cân bằng hài hòa giữa lợi ích và chi phí, phụ thuộc vào pháp luật và thỏa thuận giữa hai bên. Trong khi đó hiệu quả tuyệt đối về mặt kinh tế ám chỉ lợi ích là cao nhất và chi phí là thấp nhất. Quản trị nhân lực trong Ban QLDA sự nghiệp công lập Ban QLDA sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, Ban QLDA này hoạt động tuân theo quy định của pháp luật hiện hành, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công phục vụ nhân dân, hỗ trợ quản lý nhà nước.