Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận Để thuận tiện cho việc tham khảo luận văn này, tôi xin trình bày một số khái niệm có liên quan đến đối tượng nghiên cứu là gốm Lái Thiêu và quan điểm tiếp cận khi nghiên cứu. Các khái niệm Về chất liệu, có các khái niệm như “gốm”, “sành”, “sứ”. Về trang trí thì có “men” và “hoa văn”.
Gốm, sành, sứ Đối với những người làm gốm, các nhà nghiên cứu chuyên môn, dân chơi cổ vật gốm thì sự phân biệt các chất liệu của loại hình này là không có gì khó khăn, nhưng đối với nhiều người không chuyên hay những ai mới bắt đầu tìm hiểu, nghiên cứu thì đây quả là một thử thách đòi hỏi phải có thời gian trải nghiệm và tham khảo nhiều. Khi nói đến thuật ngữ “gốm”, chúng ta thường nghĩ đến những đồ vật được tạo hình từ đất sét đã nung qua lửa. Theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, gốm là “tên gọi chung sản phẩm chế từ đất sét và hỗn hợp đất sét nung, như đồ đất nung, sành, sứ, v.411] Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu cũng phân biệt rõ gốm và sứ: đồ gốm, đồ sành gọi là “đào” (陶) và sứ gọi là “từ” (瓷).660, 359] Thuật ngữ phương Tây có từ ceramic hay pottery chỉ chung cho đồ gốm (tuy nhiên, ceramic mang ý nghĩa học thuật và bao quát hơn [123]) và từ porcelain nghĩa là đồ sứ. Mới khảo qua thuật ngữ “gốm” ở trên, chúng ta thấy trong loại hình này có nhiều chủng loại được phân chia nhỏ hơn với những tên gọi khác nhau như đất nung, sành, sứ.
Để đi đến kết luận thống nhất tên gọi và sự phân chia chủng loại của gốm, chúng ta cần tìm hiểu thêm cách phân loại của các 15 chuyên gia trong nước và ở một số nước trong khu vực. Chẳng hạn, ở Nhật chia gốm làm bốn loại: “doki (thổ khí) – đất nung, toki (đào khí) – đất nung có men, sekki (thạch khí) – sành, jiki (từ khí) – sứ [87, tr.14]; và, Giáo sư Kiều Thu Hoạch cho rằng “gốm cổ Trung Hoa cũng được phân thành bốn loại như trên” [106]. Với hai tác giả người Thái Lan, Pariwat Thammapreechakorn và Kritsada Pinsri trong tác phẩm “Ceramic art in Thailand” [106] cũng chia gốm Thái làm bốn loại dựa trên xương gốm và nhiệt độ nung, đó là terra cotta– đất nung (dưới 850oC), earthenware – sành không men (từ 880o đến 1.150oC), stoneware – sành có men (từ 1.300oC) và porcelain – sứ (từ 1. Đến đây, chúng ta thấy xuất hiện yếu tố khác ngoài chất liệu xương gốm đó là “men” – một chất liệu khoác bên ngoài xương gốm, làm “áo” cho gốm, có tác dụng ngăn thấm nước và trang trí cho gốm thêm lung linh, đẹp mắt.
Ở Việt Nam, cách phân tách các loại gốm theo tiêu chí “gốm” đi kèm với “dòng men gốm” cũng đã được rất nhiều nhà nghiên cứu, học giả sử dụng để gọi các loại gốm theo tiến trình phát triển của lịch sử nước nhà, như: gốm men ngọc, gốm hoa nâu thời Lý - Trần (thế kỷ 11-14) hay gốm hoa lam thời Lê - Nguyễn (thế kỷ 15-19). Nếu dùng tiêu chí “men” để phân chia và đặt tên cho các loại gốm, chúng tôi e rằng việc phân loại dễ trở nên rối rắm vì sự phát triển của “men” diễn tiến rất phức tạp và ngày một phong phú (xin được trình bày rõ hơn ở phần sau). Ứng theo cách phân loại này sẽ có vô vàn dòng gốm: gốm men trắng, gốm men lam, gốm men lam xám, gốm men vàng, gốm men xanh lục, gốm men ba màu (tam thái), gốm men năm màu (ngũ thái), gốm men rạn, gốm men lì, gốm men trổ, v. Hay tổng hợp các cách phân loại trên, có thể chia gốm thành 5 loại: đất nung không men, đất nung có men, sành không men, sành có men và sứ.
Trở lại việc tìm hiểu thêm cách phân loại gốm, họa sỹ Trần Khánh Chương cũng chia gốm làm 5 loại nhưng không lấy tiêu chí dòng men mà chọn xương gốm và nhiệt độ nung để phân loại: trong cuốn “Gốm Việt Nam từ đất nung đến sứ”, 16 ông cho rằng “từ đất nung, gốm đã tiến lên, mang các dạng sành nâu, sành xốp, sành trắng, rồi sứ” [17, tr. Ở Pháp, tác giả Daisy Lion Goldschmidt trong cuốn “Les poteries et porcelaines chinoises” [87, tr.15] lại phân gốm làm ba loại: đất nung, sành và sứ. Song, ở Việt Nam, trong giới học thuật, có thể nói cố giáo sư, họa sỹ Nguyễn Văn Y là người đầu tiên cũng phân tách gốm thành ba loại chính là đất nung, sành và sứ [87, tr.15], đây là cách phân tách gọn gàng nhất dựa theo tiêu chí xương gốm và nhiệt độ nung vì chất liệu tạo thành sản phẩm cũng như nhiệt độ nung của ba loại này khá rõ ràng. Bản thân tác giả luận văn cũng tán thành cách phân chia của Nguyễn Văn Y vì gốm Lái Thiêu - Bình Dương hội đủ các loại ấy.
Như vậy, trong gốm có nhiều chủng loại được chia cấp độ từ thấp đến cao theo tiến trình lịch sử phát triển của gốm và theo xương gốm cùng với nhiệt độ của lò nung: thấp nhất là đất nung, rồi đến sành (các loại) và sứ. Xét về kỹ thuật và lịch sử, đất nung là loại gốm cổ xưa nhất, ra đời cách nay khoảng 10. Ở Việt Nam có thể tìm thấy những hiện vật gốm đất nung thời tiền sơ sử trong “văn hóa Quỳnh Văn phân bố ở vùng ven biển Nghệ Tĩnh và văn hóa Đa Bút ở vùng trung du và đồng bằng ven núi Thanh Hóa, Ninh Bình, có niên đại vào khoảng 6. Nguyên liệu chính để làm ra gốm đất nung là đất sét thường, loại này hầu như có mặt khắp cả nước.
Cách tạo hình và nung sản phẩm khá đơn giản, có thể nung ngoài trời giống như gốm Bàu Trúc của người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận hoặc nung trong lò; nhiệt độ nung thấp, khoảng từ 600o đến dưới 1. Ngày nay, có thể tìm thấy đồ đất nung điển hình nhất trong dòng gốm Lái Thiêu - Bình Dương đó là heo đất (Phụ lục 4. Từ đất nung, tiến lên một bậc là sành do nhiệt độ nung cao hơn, từ 1.200oC, có khi lên đến 1.163] tùy theo nguyên liệu đất chịu lửa cao hay thấp. Đến giai đoạn này, sành đã được nung trong lò nhằm giữ cho nhiệt độ cao hơn.
Sành có thể được làm từ đất sét thường để 17 cho ra loại sành nâu, hoặc từ đất sét trắng để cho ra loại sành trắng hay sành xốp; trong nguyên liệu làm sành, đôi khi có thể có phối liệu thêm cao lanh, trường thạch, thạch anh. Sành được chia làm hai dạng: sành cứng (hay sành mịn) và sành mềm (hay sành xốp mà dân gian miền Bắc gọi là “đồ đàn”). Sành cứng: xương đất có độ kết khối cao, cấu trúc hạt mịn do nhiệt độ nung cao (trung bình có khi lên đến 1.320oC) làm đất chảy bóng, độ hút nước nhỏ (<0,1%) [93, tr.162], đối với chất liệu đất sét thường thì xương gốm chuyển sang màu nâu đen, sản phẩm có độ rắn chắc như đá và “gõ vào cứ nghe như tiếng kim loại” [17, tr.450] và thường dùng cho các sản phẩm chứa đựng nước (Phụ lục 4. Sành mềm: cũng làm từ đất sét trắng nhưng trong nguyên liệu có thành phần đá vôi (6-12%) nên khoảng kết khối không cao, nhiệt độ nung từ 1.200oC, độ xốp lớn và khả năng hút nước lớn hơn 12% [93, tr.
Trong các mặt hàng gốm (đất nung, sành, sứ), sứ là sản phẩm tốt nhất, đẹp nhất. Từ khi sứ xuất hiện, mọi việc dường như trở nên phức tạp hơn. Riêng thuật ngữ “sứ” cũng có nhiều cách lý giải khác nhau. Học giả Vương Hồng Sển vẫn gọi đồ sứ (porcelaine hay porcelain) là đồ sành hay đồ da sành và “có ý để dành chữ “sứ” đó để gọi riêng các món sành quý của các cụ sứ thần đi sứ mang về… tức đồ sành, đồ đất quý bực nhứt (porcelaine diplomatique)” [61, tr.
Tác giả Nguyễn Anh Huy phủ nhận cách giải thích trên, ông cho rằng do chữ “từ” (瓷 – đồ sứ) phát âm là /cí/ gần giống với chữ “sứ” (使 – sứ, đi sứ) có phát âm là /shĭ/ nên có lẽ trong quá trình giao dịch, sứ giả Việt Nam nghe nhầm chữ “từ” sang chữ “sứ” và gọi tên loại hàng ấy là “đồ sứ”. Tuy nhiên, nhiều tác giả khác lại không đồng tình với cách lý giải của Nguyễn Anh Huy, mà ủng hộ ý kiến của cụ Vương. Và, vấn đề thuật ngữ này đã trở thành một đề tài tranh luận của một số nhà nghiên cứu, chúng ta có thể tham khảo nhiều bài tranh luận được tập hợp trong cuốn “Đồ sứ men lam 18 Huế - những trao đổi học thuật” do Trần Đức Anh Sơn (1997) chủ biên. Mặc dù các bài viết trao đổi tuy chưa đạt được “tiếng nói chung” nhưng đã mở ra những chân trời kiến thức bổ ích và thú vị cho độc giả.
Việc chưa thống nhất nguồn gốc tên gọi chữ “sứ” có lẽ do nghệ thuật gốm sứ của Việt Nam ra đời còn non trẻ mà theo cố Giáo sư Trần Quốc Vượng trong cuốn “Văn hóa Việt Nam - tìm tòi và suy ngẫm” thì “Việt Nam không phát triển truyền thống sứ” [92, tr.423], còn họa sỹ Trần Khánh Chương cho rằng “đồ sứ ở Việt Nam chỉ mới ra đời” [17, tr.39] từ khi nhà máy sứ Hải Dương được nước bạn Trung Quốc sang giúp đỡ xây dựng năm 1960; và trong bài viết Về vấn đề nguồn gốc chữ “sứ”, tác giả Nguyễn Anh Huy cũng khẳng định về thời gian ra đời của “chữ “đồ sứ” chỉ mới xuất hiện vào nửa sau thế kỷ 19, gần đây thôi!” [46, tr. Qua những dữ liệu vừa nêu, rõ ràng nghệ thuật gốm sứ của chúng ta ra đời muộn hơn một số nước trên thế giới, nhưng danh tiếng sứ Việt Nam vẫn tồn tại trên thị trường quốc tế và ngày nay ngành công nghiệp gốm sứ vẫn tiếp tục xuất khẩu ra thị trường nhiều nước ở các châu lục, nổi tiếng có gốm sứ Bát Tràng, gốm sứ Minh Long. Như vậy “sứ” là gì, sứ khác đất nung, sành như thế nào? Theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, sứ là “gốm trắng, không thấm nước, chế từ kaolin” [57, tr. Tác giả Daisy Lion Goldschmidt cho sứ là “một dạng khác của gốm đá, thủy tinh hóa đến mức trở thành trong suốt và chế tạo từ cao lanh” [87, tr.
Miêu tả đặc tính của sứ, học giả Vương Hồng Sển giải thích trong cuốn “Hiếu cổ đặc san (số 4): Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa” thì porcelain – tiếng Pháp là porcelaine “nguyên là chữ để gọi một loại ốc biển, vỏ đẹp giống chất sứ… được dùng do chữ porcella là loại ốc xa cừ” [61, tr.