Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn xã Vĩnh Nhuận, An Giang

Luận văn phân tích thực trạng chính sách giảm nghèo bền vững tại xã Vĩnh Nhuận, An Giang. Đánh giá và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực tiễn.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

80
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Luận văn giảm nghèo bền vững xã Vĩnh Nhuận Tổng quan

Bài viết phân tích sâu sắc nội dung luận văn thạc sĩ kinh tế về chính sách giảm nghèo bền vững tại xã Vĩnh Nhuận, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Đây là một tài liệu nghiên cứu quan trọng, cung cấp cái nhìn toàn diện về thực trạng đói nghèo và nỗ lực của chính quyền địa phương trong giai đoạn 2016-2020. Nghiên cứu này không chỉ hệ thống hóa cơ sở lý luận mà còn đi sâu vào thực tiễn, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất các giải pháp giảm nghèo khả thi. Xã Vĩnh Nhuận, một xã thuần nông với những đặc thù về địa lý và dân cư, là một trường hợp điển hình cho thấy những thách thức và cơ hội trong công cuộc xóa đói giảm nghèo ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Việc phân tích luận văn giúp làm rõ vai trò của chính quyền địa phương trong việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, từ đó rút ra những kinh nghiệm giảm nghèo quý báu. Luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng sinh kế bền vững và đảm bảo an sinh xã hội cho hộ nghèo và cận nghèo, xem đây là nền tảng để thoát nghèo một cách thực chất và lâu dài, tránh tình trạng tái nghèo. Các dữ liệu được sử dụng trong luận văn, từ cơ cấu kinh tế, dân số, lao động đến kết quả giảm nghèo qua các năm, đều là những bằng chứng xác thực để xây dựng một bức tranh tổng thể, làm cơ sở cho các đề xuất chính sách trong tương lai.

1.1. Đặc điểm kinh tế xã Vĩnh Nhuận và bối cảnh nghiên cứu

Xã Vĩnh Nhuận là một xã thuần nông của huyện Châu Thành, An Giang, với trên 82% dân số làm nông nghiệp. Kinh tế chủ yếu dựa vào trồng lúa, với diện tích đất nông nghiệp chiếm 3.451 ha trên tổng số 3.802 ha. Giai đoạn 2016-2020 chứng kiến sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế tích cực, thu nhập bình quân đầu người tăng từ 38,5 triệu đồng (2016) lên 41,9 triệu đồng (2019). Tuy nhiên, so với mặt bằng chung của tỉnh, Vĩnh Nhuận vẫn là xã có thu nhập trung bình thấp. Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân (2021) ra đời trong bối cảnh cần có một nghiên cứu chuyên sâu, cụ thể về địa bàn này để tìm ra các giải pháp phù hợp, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 2016-2020, thời điểm triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững theo cách tiếp cận đa chiều.

1.2. Mục tiêu chính của khóa luận tốt nghiệp về giảm nghèo

Mục đích chính của khóa luận tốt nghiệp này là phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại xã Vĩnh Nhuận. Từ đó, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp giảm nghèo chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác này. Nhiệm vụ cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng triển khai chính sách, và xây dựng các giải pháp khả thi. Luận văn có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách và cán bộ làm công tác giảm nghèo, không chỉ tại Vĩnh Nhuận mà còn ở các địa phương có điều kiện tương tự. Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về chủ đề này tại địa bàn xã, có tính cấp thiết và không trùng lặp.

II. Thách thức lớn từ thực trạng đói nghèo tại xã Vĩnh Nhuận

Mặc dù đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, thực trạng đói nghèo tại xã Vĩnh Nhuận vẫn còn nhiều thách thức. Luận văn chỉ rõ, dù tỷ lệ hộ nghèo giảm đều qua các năm nhưng nguy cơ tái nghèo vẫn hiện hữu. Các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói rất đa dạng, bao gồm cả yếu tố chủ quan từ bản thân người dân và yếu tố khách quan từ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội. Một trong những rào cản lớn nhất là thiếu vốn và tư liệu sản xuất, đặc biệt là đất đai. Nhiều hộ nghèo và cận nghèo có rất ít hoặc không có đất canh tác, khiến việc tạo ra sinh kế bền vững trở nên vô cùng khó khăn. Bên cạnh đó, trình độ học vấn và kỹ năng lao động hạn chế cũng là một thách thức. Lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhưng chủ yếu là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo, khó tiếp cận việc làm có thu nhập ổn định. Tác động của biến đổi khí hậu như hạn hán, lũ lụt cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, gây rủi ro cho người dân. Nhận thức của một bộ phận người nghèo còn trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước cũng là một yếu tố cản trở quá trình vươn lên thoát nghèo.

2.1. Phân tích số liệu hộ nghèo và cận nghèo giai đoạn 2016 2020

Theo số liệu của luận văn, năm 2016, xã Vĩnh Nhuận có 120 hộ nghèo (chiếm 6,9%) và 216 hộ cận nghèo (12,43%). Nhờ nỗ lực triển khai các chính sách giảm nghèo, đến cuối năm 2020, số hộ nghèo giảm xuống còn 42 hộ (2,41%) và hộ cận nghèo còn 163 hộ (9,38%). Kết quả này cho thấy tỷ lệ hộ nghèo đã giảm hơn một nửa trong 5 năm, thể hiện hiệu quả bước đầu của các chương trình can thiệp. Tuy nhiên, số lượng hộ cận nghèo vẫn còn ở mức cao, cho thấy tính bền vững của kết quả giảm nghèo chưa thực sự vững chắc. Việc phân tích các chỉ số thiếu hụt theo chuẩn nghèo đa chiều cũng được đề cập, giúp nhận diện rõ hơn các khía cạnh cần ưu tiên cải thiện như y tế, giáo dục, nhà ở, và nước sạch.

2.2. Các nguyên nhân đói nghèo và rào cản trong phát triển

Luận văn đã chỉ ra hai nhóm nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo. Nguyên nhân chủ quan bao gồm: thiếu kỹ thuật sản xuất, lười lao động, chi tiêu không kế hoạch, và mắc tệ nạn xã hội. Nguyên nhân khách quan gồm: thiếu đất sản xuất, thiếu vốn đầu tư, trình độ dân trí thấp, hạ tầng cơ sở chưa đồng bộ, và ảnh hưởng từ thiên tai. Trong đó, thiếu vốn và kinh nghiệm làm ăn được xác định là nguyên nhân chiếm tỷ lệ cao nhất. Điều này cho thấy việc cải thiện khả năng tiếp cận nguồn vốn và tổ chức đào tạo nghề cho lao động nông thôn là hai nhiệm vụ cấp bách để giải quyết gốc rễ của vấn đề đói nghèo tại địa phương.

III. Hướng dẫn thực thi chính sách giảm nghèo bền vững hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo, luận văn đã hệ thống hóa các phương pháp và nội dung thực thi chính sách một cách bài bản. Trọng tâm của việc thực thi là sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, từ việc xây dựng nghị quyết, kế hoạch đến tổ chức triển khai và giám sát. Vai trò của chính quyền địa phương được nhấn mạnh là yếu tố then chốt, quyết định sự thành công của các chương trình. UBND xã Vĩnh Nhuận đã ban hành Kế hoạch số 29/KH-UBND, cụ thể hóa các mục tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020. Quá trình thực hiện đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành, đoàn thể như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên trong việc tuyên truyền, vận động và hỗ trợ trực tiếp các hộ nghèo và cận nghèo. Công tác rà soát, bình xét hộ nghèo hàng năm phải được thực hiện công khai, minh bạch để đảm bảo chính sách đến đúng đối tượng. Việc lồng ghép các chính sách giảm nghèo với chương trình xây dựng nông thôn mới cũng là một hướng đi chiến lược, giúp tối ưu hóa nguồn lực và tạo ra tác động kép, vừa cải thiện hạ tầng, vừa nâng cao đời sống người dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội toàn diện.

3.1. Cơ cấu tổ chức và vai trò của chính quyền địa phương

Vai trò của chính quyền địa phương là trung tâm trong việc điều phối các hoạt động giảm nghèo. Tại Vĩnh Nhuận, Ban chỉ đạo Xóa đói giảm nghèo xã được thành lập do một Phó Chủ tịch UBND xã làm trưởng ban. Ban chỉ đạo có nhiệm vụ tham mưu, xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các chính sách giảm nghèo trên địa bàn. Mỗi thành viên được phân công phụ trách từng ấp để theo dõi, đôn đốc và hỗ trợ người dân. Mặc dù bộ máy đã được kiện toàn, luận văn cũng chỉ ra hạn chế về nhân lực khi chỉ có một cán bộ chuyên trách kiêm nhiệm nhiều việc. Điều này cho thấy cần tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ cơ sở để đảm bảo hiệu quả quản lý và thực thi.

3.2. Áp dụng Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo

Xã Vĩnh Nhuận đã tích cực triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 theo chỉ đạo của cấp trên. Việc áp dụng chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg đã giúp nhận diện nghèo một cách toàn diện hơn, không chỉ dựa vào thu nhập. Các dự án trong chương trình như hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo hiệu quả đã được triển khai. Nguồn vốn từ chương trình được ưu tiên đầu tư cho hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ y tế, giáo dục và tín dụng ưu đãi, tạo điều kiện cho người nghèo cải thiện cuộc sống và vươn lên thoát nghèo.

IV. Top các mô hình giảm nghèo hiệu quả đã triển khai tại An Giang

Luận văn đã phân tích một số mô hình giảm nghèo hiệu quả được áp dụng thực tiễn tại Vĩnh Nhuận, tập trung vào việc tạo ra sinh kế bền vững và nâng cao năng lực cho người nghèo. Các mô hình này không chỉ cung cấp hỗ trợ vật chất mà còn trang bị kiến thức, kỹ năng để người dân tự lực vươn lên. Một trong những giải pháp trọng tâm là cải thiện khả năng tiếp cận nguồn vốn thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội. Các khoản vay ưu đãi đã giúp nhiều hộ có vốn để đầu tư sản xuất, chăn nuôi, buôn bán nhỏ, từng bước cải thiện thu nhập. Bên cạnh đó, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn cũng được chú trọng. Xã đã phối hợp với các trung tâm dạy nghề để mở các lớp đào tạo ngắn hạn về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, sửa chữa máy móc... phù hợp với nhu cầu thực tế. Đặc biệt, việc nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả như trồng cây ăn trái, nuôi lươn không bùn, hay liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị đã mang lại kết quả tích cực. Những mô hình này không chỉ giúp tăng thu nhập mà còn góp phần vào quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế tại địa phương, giảm sự phụ thuộc vào cây lúa độc canh.

4.1. Giải pháp hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn và tín dụng ưu đãi

Chính sách tín dụng ưu đãi là một trong những công cụ giảm nghèo hữu hiệu nhất. Thông qua các chương trình cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội, hàng trăm hộ nghèo và cận nghèo tại Vĩnh Nhuận đã được tiếp cận nguồn vốn với lãi suất thấp. Nguồn vốn này được sử dụng để mua sắm vật tư nông nghiệp, con giống, và phát triển các hoạt động kinh doanh nhỏ. Các tổ chức đoàn thể như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ đứng ra tín chấp, giúp người dân dễ dàng làm thủ tục vay vốn và đồng thời giám sát việc sử dụng vốn đúng mục đích, hiệu quả. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng một số hộ sử dụng vốn sai mục đích hoặc làm ăn thua lỗ, dẫn đến nợ quá hạn.

4.2. Tầm quan trọng của đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là giải pháp mang tính nền tảng. Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg được triển khai nhằm trang bị kỹ năng cần thiết cho người lao động. Các lớp học tập trung vào những nghề gắn liền với phát triển nông nghiệp bền vững và nhu cầu của thị trường. Việc gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm sau đào tạo là yếu tố quyết định hiệu quả. Luận văn chỉ ra rằng, cần có sự liên kết chặt chẽ hơn giữa cơ sở đào tạo, chính quyền và doanh nghiệp để đảm bảo lao động sau khi học nghề có thể tìm được việc làm ổn định hoặc tự tạo việc làm, góp phần tăng thu nhập và thoát nghèo một cách bền vững.

V. Kết quả và kinh nghiệm giảm nghèo từ thực tiễn Vĩnh Nhuận

Qua 5 năm thực hiện, công tác giảm nghèo tại xã Vĩnh Nhuận đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an sinh xã hộiphát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Thành tựu nổi bật nhất là tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu như đường giao thông, điện, trường học, trạm y tế được đầu tư nâng cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt. Người nghèo được tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, luận văn cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế còn tồn tại. Kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, tỷ lệ hộ cận nghèo còn cao và nguy cơ tái nghèo luôn tiềm ẩn. Một số chính sách còn chồng chéo, hiệu quả chưa cao. Công tác tuyên truyền đôi khi chưa thay đổi được tư tưởng ỷ lại của một bộ phận người dân. Từ thực tiễn này, nhiều kinh nghiệm giảm nghèo quý báu đã được rút ra, làm cơ sở để điều chỉnh và hoàn thiện chính sách trong giai đoạn tiếp theo.

5.1. Thành tựu cải thiện an sinh xã hội và giảm tỷ lệ nghèo

Thành tựu lớn nhất là việc giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 6,9% (2016) xuống còn 2,41% (2020). Song song đó, các chính sách an sinh xã hội được thực hiện tốt: 100% người thuộc hộ nghèo, cận nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí; học sinh nghèo được miễn giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập. Nhiều hộ nghèo được hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà ở. Những hỗ trợ này đã giúp giảm gánh nặng chi tiêu, cải thiện chất lượng cuộc sống và tạo điều kiện để người nghèo có thêm nguồn lực tập trung cho phát triển sản xuất, từng bước vươn lên.

5.2. Những hạn chế và bài học kinh nghiệm giảm nghèo cần khắc phục

Bài học kinh nghiệm giảm nghèo quan trọng nhất được rút ra là cần trao "cần câu" thay vì "con cá". Các chính sách cần tập trung hơn vào việc tạo động lực và nâng cao năng lực tự vươn lên của người nghèo. Cần khắc phục tình trạng chính sách còn dàn trải, thiếu nguồn lực. Việc xác định đối tượng thụ hưởng cần chính xác hơn để tránh bỏ sót hoặc hỗ trợ sai đối tượng. Đồng thời, phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách ở cơ sở. Đặc biệt, cần có giải pháp để giải quyết vấn đề thiếu đất sản xuất, vốn là rào cản lớn nhất đối với sinh kế bền vững của người nông dân nghèo.

04/10/2025
Luận văn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn xã vĩnh nhuận huyện châu thành tỉnh an giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẦN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Khái niệm về Xóa đói, giảm nghèo, giảm nghèo bền vững, Khái niệm chính sách và thực hiện chinh sách về giảm nghèo bền vững. Thực trạng đói nghèo trên thế giới đang diễn ra theo chiều hướng rất đáng báo động, là một trong những nguyên nhân đang trực tiếp đe dọa đến sự tồn vong và phát triển của loài người. Do đó, Giảm đói nghèo là một trong những vấn đề quan tâm của toàn cầu trong nhiều thập kỷ qua cũng như trong nhiều năm tới và cũng là một mục tiêu hàng đầu của các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển.

Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu đó phụ thuộc vào trình độ phát triển KTXH, phong tục, tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận. Ở nước ta, đói và nghèo được chia thành hai khái niệm: - Đói: Là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu, thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì sự sống. Là tình trạng con người không có cái ăn, ăn không đủ dinh dưỡng tối thiểu cần thiết hằng ngày và không đủ sức để tái sản xuất sức lao động. Về mặt năng 7 lượng, nếu trong một ngày, con người chỉ được thõa mãn mức 1500 cal/ngày thì đó là thiếu đói, dưới mức đó là gay gắt.

- Nghèo: Là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thõa mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống, có mức sống thấp hơn trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Họ phải vật lộn với mưu sinh hằng ngày và kinh tế vật chất, trực tiếp nhất ở bữa ăn; họ không thể vươn tới các nhu cầu về văn hóa – tinh thần, hay phải cắt giảm tới mức tối thiểu nhất hoặc gần như không có. Điều này đặc biệt rõ ở nông thôn Việt nam với hiện tượng trẻ em bỏ học, thất học, các hộ nông dân nghèo không có khả năng để hưởng thụ văn hóa, y tế chữa bệnh khi ốm đau, không đủ nhu cầu mặc, nhà ở. phần tích lũy hầu như không có.

- Xóa đói: là làm cho bộ phận dân cư nghèo từng bước nâng cao mức sống đến mức tối thiểu và có thu nhập đủ để đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. - Giảm nghèo: chính là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ đánh giá và số lượng người nghèo giảm xuống, nói cách khác, là một quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn. - Giảm nghèo bền vững: là kiên quyết không để tái nghèo, là tình trạng dân cư đạt được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập cao hơn chuẩn nghèo và duy trì được mức độ thỏa mãn những nhu cầu đó ngay cả khi gặp các cú sốc hay rủi ro, trong đó tập trung vào các hoạt động hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo có tư liệu và phương tiện sản xuất, cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (như y tế, giáo dục, nước sạch…), bảo đảm an ninh lương thực ở cấp hộ gia đình, nâng cao thu nhập để tự vượt qua nghèo đói; giảm thiểu rủi ro do thiên tai, bão lụt và tác động tiêu cực của quá trình cải cách kinh tế, bảo đảm thoát nghèo bền vững hay không 8 tái nghèo.

- Chính sách: là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa do chủ thể là cơ quan quyền lực hoặc cơ quan quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nhất định trong chiến lược phát triển của một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp. theo định nghĩa khác, Chính sách là chuỗi những hoạt động mà chính quyền chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến người dân. Như vậy, phân tích khái niệm cho thấy “chính sách” là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra. Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế, nhắm đến một mục đích nhất định; nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó.

- Thực hiện các chính sách về giảm nghèo bền vững: là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực nhà nước tới các hoạt động giảm nghèo,cụ thể như hoạt động ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về giảm nghèo; hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình, kế hoạch, dự án giảm nghèo; huy động mọi nguồn lực tài chính để đầu tư cho các chương trình dự án giảm nghèo; hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát, tổng kết, đánh giá việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo. Qua đó, góp phần giúp người nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo và vươn lên thoát nghèo bền vững. Về cơ bản, giải quyết đói nghèo cần đảm bảo cả về số lượng lẫn chất lượng, số lượng giảm nghèo sẽ tuyệt đối hộ nghèo giảm được trong một thời gian (theo từng giai đoạn từ 1- 5 năm). Chất lượng giảm nghèo là khái niệm chỉ thực chất của kết quả giảm nghèo, mà vấn đề cần đạt được là đời sống người nghèo được nâng lên sau khi có tác động hỗ trợ, thu hẹp khoảng cách thu nhập với các nhóm dân cư khác, khi gặp rủi ro, bất trắc sẽ không bị rơi lại 9 vào tình trạng nghèo đói.

Hay nói cách khác, chất lượng giảm nghèo phản ánh tính bền vững của quá trình giảm nghèo. Theo các nhà nghiên cứu, chuyên gia về kinh tế - xã hội, lao động - việc làm: để giảm nghèo bền vững cần hỗ trợ phát triển kinh tế hạ tầng, hỗ trợ đào tạo nghề cũng như các điều kiện tiếp cận cơ hội phát triển kinh tế dựa vào các nguồn lực sẳn có của địa phương, của cộng đồng để người nghèo, hộ nghèo có thể tự vươn lên thoát nghèo. Theo PGS, TS Trần Đình Thiên: “không thể giúp người nghèo bằng cách tặng nhà, tặng phương tiện sống. Đây là cách giảm nghèo, xóa nghèo nhanh nhưng chỉ tức thời, không bền vững; muốn giảm nghèo bền vững thì Nhà nước, cơ quan chức năng cần phải cấp cho người nghèo một phương thức phát triển mới mà tự họ không thể tiếp cận và duy trì.

Bên cạnh đó là sự hỗ trợ, ngăn ngừa, loại trừ các yếu tố gây rủi ro chứ không chỉ là sự nỗ lực khắc phục hậu quả sau rủi ro… Đặc biệt, sự hỗ trợ giảm nghèo này phải được xác lập trên nguyên tắc ưu tiên cho các vùng có khả năng, điều kiện thoát nghèo nhanh và có thể lan tỏa sang các vùng lân cận”. Khái niệm trên có nghĩa rằng, chúng ta tặng “cần câu” thay vì tặng “con cá”, và tạo ra động lực thúc đẩy để người dân người dân chủ động trong việc thoát nghèo bằng chính năng lực của mình chứ không chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ của các nhà hảo tâm, cộng đồng. Bên cạnh đó, việc xây dựng các chính sách hỗ trợ, xây dựng các biện pháp để phòng ngừa các rủi ro không mong muốn từ các yếu tố con người, xã hội, tự nhiên mang lại, việc này đóng vai trò cực kì quan trọng để giúp cho người nghèo có thể chuyển đổi phương thức sản xuất khi phương thức cũ không còn phù hợp, có thể tìm được việc làm mới, tạo ra được nguồn thu nhập bổ sung. Ngoài ra, những chương trình giảm nghèo đặc thù cho những đối tượng cụ thể, một số vùng nhằm tạo sức lan tỏa là hết sức cần thiết trong điều kiện nguồn lực hạn chế của chúng ta hiện nay.

Do vậy, quan điểm giảm 10 nghèo bền vững ở nước ta chính là cần nắm bắt các xu hướng và đặc điểm vận động của các nhân tố tác động đến chất lượng của giảm nghèo và giải quyết đồng thời tất cả những vấn đề, bất cập nêu trên. Chính sách XĐGN là sự cụ thể hóa Nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng bằng những quyết định, quy định của nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề về đói nghèo. Nó phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng, của các nhóm xã hội nhằm tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến bộ phận dân cư nghèo đói, đảm bảo quyền con người và an toàn xã hội cho người nghèo, tạo sự phát triển bình thường cho người nghèo cũng như cho toàn xã hội. Chính sách XĐGN được thiết kết theo một cấu trúc cụ thể: Phạm vi và đối tượng của chính sách; mục tiêu của chính sách; giải pháp của chính sách; nguyên tắc chỉ đạo thực hiện chính sách; nguồn vốn thực hiện chính sách, cơ quan quản lý và thực hiện chính sách; thời gian triển khai chính sách.

Các tiêu chí đánh giá hộ nghèo Theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020. Theo đó, chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo được xác định như sau: - Hộ nghèo ở nông thôn: là hộ có mức thu nhập bình quân từ 700.000đ/ người/tháng (từ 8.000đ/năm) trở xuống; - Hộ nghèo ở thành thị: là hộ có mức thu nhập bình quân từ 900.000đ/người/ tháng (từ 10.000đ/năm) trở xuống; - Hộ cận nghèo ở nông thôn: là hộ có mức thu nhập bình quân từ 700.000đ/người/tháng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; - Hộ cận nghèo ở thành thị: là hộ có mức thu nhập bình quân từ 11 900.000đ/người/tháng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Theo Thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH ngày 28/6/2016 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, theo đó hộ thoát nghèo bao gồm: - Hộ thoát nghèo và trở thành hộ cận nghèo; - Hộ thoát nghèo vượt qua mức chuẩn hộ cận nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ mức sống trung bình trở lên (tiêu chí xác định mức sống trung bình theo quy định tại Khoản 3 Điều 2 Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ