CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Lý do chọn đề tài Với một nền kinh tế có quá nhiều doanh nghiệp phá sản, đặc biệt đối với Việt Nam, khi yêu cầu có một môi trường kinh doanh ổn định nhằm thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư từ nước ngoài thì việc có tới hàng chục nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt và tạm dừng hoạt động trong một quý gây ảnh hưởng không nhỏ đến cái nhìn của các nhà đầu tư đối với môi trường kinh doanh trong nước. Mặt khác, khi doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng hoạt động cũng dẫn tới một loạt những hệ lụy về mặt xã hội như người lao động bị mất việc làm, môi trường sinh thái bị ảnh hưởng… Chính vì thế rất cần thiết có một công cụ dự báo để hỗ trợ phần nào cho các chủ doanh nghiệp kịp thời để ra các chính sách, hoạch định để nhận thấy được khả năng rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp mình trước khi lâm vào tình trạng tạm ngừng họat động, giải thể hoặc phá sản, đồng thời cũng giúp cho chủ nợ và nhà đầu tư đánh giá được mức độ rủi ro mình đang phải gánh chịu khi công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính. Các nguyên nhân dẫn đến kiệt quệ tài chính cuối cùng dẫn đến phá sản hoặc giải thể rất phức tạp, nó không chỉ đơn thuần do các yếu tố nội tại doanh nghiệp mà còn do các yếu tố bên ngoài tác động.
Các nghiên cứu trước đây về kiệt quệ tài chính đa phần sử dụng dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính, nguồn dữ liệu này đại diện cho các yếu tố nội tại của công ty và các dữ liệu từ thu thập từ thị trường niêm yết như: giá, tỷ suất sinh lời cổ phiếu, vốn hóa thị trường… để dự báo xác suất kiệt quệ tài chính của các công ty. Bên cạnh việc sử dụng các yếu tố nội tại và yếu tố thị trường trong dự báo xác suất kiệt quệ của công ty, một số nghiên cứu gần đây đã sử dụng kết hợp thêm yếu tố kinh tế vĩ mô. Kết quả nghiên cứu và so sánh khả năng dự báo của các mô hình cho thấy sự kết hợp ba nhóm yếu tố: yếu tố nội tại, yếu tố thị trường và yếu tố kinh tế vĩ mô sẽ góp phần nâng cao độ chính xác trong mô hình dự báo khả năng kiệt quệ tài chính của công ty. Hầu hết các nghiên cứu nổi tiếng về kiệt quệ tài chính đều được thực hiện tại Mỹ và các nước châu Âu.
Tại Việt Nam, chủ đề nghiên cứu này vẫn còn mới và chỉ được 3 thực hiện bởi một số ít các nhà nghiên cứu trong nước. Xuất phát từ những thực tại cấp thiết nói trên, tác giả thực hiện nghiên cứu này nhằm tìm ra một mô hình dự báo kiệt quệ tài chính chính xác và phù hợp cho các công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu về mô hình dự báo kiệt quệ tài chính. Tuy nhiên chúng chỉ sử dụng dữ liệu tài chính hoặc dữ liệu thị trường và sử dụng các mô hình cũng khác nhau gây ra rất nhiều tranh cãi về kết quả và ứng dụng của mô hình.
Bài nghiên cứu của tác giả thực hiện kết hợp các biến kế toán, biến thị trường và biến kinh tế vĩ mô vào một mô hình dự báo kiệt quệ tài chính. Tác giả thực hiện bài nghiên cứu này nhằm đi tìm một bằng chứng thực nghiệm cho thấy tính hiệu quả của việc kết hợp các biến số tỷ số tài chính, biến số thị trường và biến số kinh tế vĩ mô vào mô hình dự báo tình trạng kiệt quệ tài chính. Nghiên cứu này phát triển mô hình dự báo tình trạng kiệt quệ tài chính cho các công ty niêm yết tại SGDCK Tp. Hồ Chí Minh (HOSE) và SGDCK Hà Nội (HNX).
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Tác giả chọn mẫu nghiên cứu là các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở GDCK TPHCM (HOSE) và Sở GDCK Hà Nội (HNX) để xem xét khả năng dự báo tình trạng kiệt quệ tài chính của các công ty thông qua các biến số tỷ số tài chính, chỉ báo kinh tế vĩ mô cũng như các biến số thị trường tại Việt Nam. Bài nghiên cứu này tập trung xem xét các yếu tố tác động đến khả năng kiệt quệ tài chính của 261 doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) và sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) trong khoản thời gian từ năm 2008-2015. Phương pháp nghiên cứu Trong nghiên cứu này, tác giả phân loại các quan sát thành hai loại: những quan sát rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính được gán giá trị biến phụ thuộc là 1, những quan sát không bị kiệt quệ tài chính được gán giá trị biến phụ thuộc là 0. Để giải 4 quyết vấn đề biến phụ thuộc là biến nhị phân, tác giả sử dụng mô hình Logit trong bài nghiên cứu này.
Bố cục bài nghiên cứu Bài nghiên cứu bao gồm 5 phần: Phần 1 – Giới thiệu. Trong phần này, tác giả trình bày tổng quan các vấn đề của bài nghiên cứu như: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bố cục của bài nghiên cứu. Phần 2 – Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây về kiệt quệ tài chính. Tác giả xây dựng phần này với mục đích cung cấp một cái nhìn tổng quan và xuyên suốt về quá trình phát triển của những nghiên cứu thực nghiệm về dự báo tình trạng kiệt quệ tài chính trên thế giới.
Từ đó có một sự định hướng rõ ràng hơn trong việc xây dựng phương pháp nghiên cứu và lựa chọn các biến số trong mô hình dự báo kiệt quệ tài chính cho trường hợp tại Việt Nam. Phần 3 – Phương pháp nghiên cứu. Phần này cung cấp một chi tiết hóa về phương pháp nghiên cứu, dữ liệu cũng như cách xác định các biến số được sử dụng trong bài nghiên cứu của tác giả ngoài ra cũng đưa các kỳ vọng về dấu của các biến số trong mô hình hồi quy. Phần 4 – Kết quả nghiên cứu.
Tác giả cũng tiến hành thống kê mô tả và phân tích tương quan các biến số trong mô hình hồi quy. Cuối cùng, Tác giả trình bày các kết quả từ mô hình hồi quy Logit, các kiểm định liên quan nhằm đánh giá mức độ chính xác trong mô hình dự báo cho các công ty tại Việt Nam. Phần 5 – Kết luận. Phần này tác giả tóm tắt kết quả kết quả nghiên cứu cũng như nêu lên hạn chế của đề tài và những hướng mở rộng tiếp theo.
5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH 2. Tổng quan lý thuyết 2. Các tiếp cận về kiệt quệ tài chính Cùng với thời gian, định nghĩa kiệt quệ tài chính từng bước được thay đổi và củng cố. Trước đây và cho đến tận bây giờ, phá sản (bankruptcy) là một trong những khái niệm phổ biến nhất được dùng cho tình trạng các công ty đang gặp những khó khăn về tài chính và các mô hình dự báo trước đây đều sử dụng định nghĩa kiệt quệ tài chính trên trạng thái cuối cùng mang tính chất pháp lý (tuyên bố phá sản) của doanh nghiệp.
Dần dần, định nghĩa về “kiệt quệ tài chính” thường được hiểu như không thực hiện nghĩa vụ thanh toán (default), thất bại (failure), mất khả năng thanh toán (insolvency) hay phá sản (bankruptcy). Theodossiou (1993) thực hiện nghiên cứu tại Mỹ cho thấy các doanh nghiệp các doanh nghiệp thường mất khả năng thanh toán khoảng 2 năm trước ngày nộp đơn phá sản. Tinoco & Wilson (2013) thực hiện nghiên cứu các công ty tại Anh cho thấy có một khoảng cách về mặt thời gian đáng kể giữa ngày công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính cho đến ngày chính thức phá sản về mặt pháp lý (từ 1.17 năm thậm chí lên đến 3 năm). Ngoài ra, trước khi phá sản các doanh nghiệp còn thực hiện các biện pháp giải cứu hoặc bán tài sản và giải thể chứ không phải là phá sản.
Thuật ngữ “kiệt quệ tài chính” mang một ý nghĩa tiêu cực và hàm chứa là một khoản thời gian, miêu tả tình hình tài chính của công ty đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt thanh khoản tạm thời, từ đó gây ra những khó khăn trong việc thực hiện một phần hay toàn bộ các nghĩa vụ tài chính của công ty theo kế hoạch và có thể dẫn đến phá sản. Chính vì thế, một công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính có thể không chắc chắn dẫn đến việc nộp đơn phá sản. William Beaver (1966) là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên chỉ ra rằng kiệt quệ tài chính có thể xuất hiện dưới các hình thức khác nhau như: phá sản, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán trái phiếu hay không thanh toán cổ tức cổ phần ưu 6 đãi. Andrade & Kaplan (1998) xác định hai hình thức của kiệt quệ tài chính: thứ nhất là không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ, và thứ hai là một nỗ lực cơ cấu lại nợ để ngăn chặn tình trạng vỡ nợ.
Wruck (1990) định nghĩa tình trạng kiệt quệ là tình huống mà dòng tiền của một công ty không đủ để trang trải các nghĩa vụ tài chính hiện tại của nó. Brown, James & Mooradian (1993) phân loại công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính là khi nó thực hiện các biện pháp tái cơ cấu với mục đích để tránh vỡ nợ. Van Gestel cùng với các đồng sự (2006) mô tả kiệt quệ tài chính là kết quả của sự thua lỗ kéo dài mà nguyên nhân là do sự gia tăng không cân xứng về công nợ kèm theo sự sụt giảm trong giá trị tài sản. Aktan (2011) đã đưa ra quan điểm cho rằng một công ty được xem là kiệt quệ tài chính khi: thua lỗ trong 3 năm liên tiếp, hoặc có vốn chủ sở hữu âm, hoặc bán hết tài sản để trả nợ rồi giải thể, hoặc tòa án chấp thuận phá sản.
Ngoài ra, việc nhận biết dấu hiệu kiệt quệ tài chính có thể thực hiện được thông qua việc phân tích các chỉ số tài chính của công ty. Đây là phương pháp được các nhà nghiên cứu sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất, phương pháp này thể hiện tốt trong việc dự báo kiệt quệ tài chính của công ty. Denis & Denis (1995) xác định kiệt quệ tài chính xảy ra khi công ty rơi vào tình trạng hoạt động kinh doanh thua lỗ trong ít nhất 3 năm liên tiếp.