MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao. Nó có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt và đời sống kinh tế, văn hóa của con người. Cây chè được trồng khá phổ biến trên thế giới, tiêu biểu ở một số quốc gia thuộc khu vực Châu Á như: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam.
Chè là sản phẩm có giá trị xuất khẩu rất lớn, ở nước ta chè là một trong mặt hàng nông sản xuất khẩu mạnh nhất, đem lại nguồn thu ngoại tệ cao. Năm 2020 cả nước xuất khẩu 84.592 tấn chè các loại, thu về 134,88 triệu USD, giá xuất khẩu trung bình 1.594 USD/tấn (Tổng cục Hải quan, 2020) Đối với người nông dân thì cây chè đã mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định, cải thiện đời sống kinh tế văn hóa xã hội, tạo ra công ăn việc làm cho bộ phận lao động dư thừa nhất là ở các vùng nông thôn. Tính đến năm 2020 ngành chè giải quyết 16 triệu lao động trên 34 tỉnh thành trong cả nước. Mặt khác, cây chè có chu kỳ kinh tế dài, nó có thể sinh trưởng, phát triển và cho sản phẩm liên tục khoảng 30 - 40 năm, nếu chăm sóc tốt thì chu kỳ này còn kéo dài hơn nữa (Tổng cục thống kê, 2020).
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi, sản xuất nông lâm nghiệp là chính. Trong sản xuất nông nghiệp thì cây chè được coi là một trong những cây trồng mũi nhọn của tỉnh. Chè được trồng khắp các huyện miền núi của tỉnh như Đại Từ, Định Hóa, Phú Lương, … hiện toàn tỉnh có trên 22.300 ha trồng chè và là tỉnh có diện tích chè phát triển lớn nhất cả nước với năng suất chè búp tươi đạt trên 118 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi hơn 240. Cây chè trở thành cây kinh tế chủ lực, đem lại giá trị kinh tế lớn cho địa phương, giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha bình quân khoảng 300-500 triệu đồng/ha, tại các vùng chè đặc sản có thể đạt từ 500-800 triệu đồng/ha.
(Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Nguyên, 2020) 2 Xã Phúc Trìu là một trong những xã trọng điểm chè của thành phố. Hiện toàn xã Phúc Trìu có 400ha chè, trong đó có 350ha chè kinh doanh với năng suất đạt khoảng 160 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi đạt trên 5. Trung bình mỗi năm toàn xã trồng mới, cải tạo được từ 10-30ha chè cành. Đối với người dân trong xã, cây chè là một trong những cây trồng chủ lực, giải quyết công ăn việc làm, cho thu nhập tương đối cao đã và đang góp phần xoá đói giảm nghèo cho người dân nông thôn.
Năm 2018, thu nhập bình quân đầu người của huyện là 40 triệu đồng/người/năm đến năm 2020 con số đó lên tới 49 triệu đồng/người/năm. Số hộ nghèo giảm từ 26 hộ năm 2018 xuống còn 22 hộ năm 2020 (Báo cáo kết quả sản xuất xã Phúc Trìu, 2020). Vậy cây chè đã đóng góp như thế nào vào thu nhập của nông hộ? Sản xuất chè đã đạt được hiệu quả tối đa hay chưa? Người dân còn tiềm năng để gia tăng giá trị cây chè bằng việc cải thiện hiệu quả hay không? Những nhân tố nào ảnh hưởng đến kết quả sản xuất chè của nông hộ? Xuất phát từ những câu hỏi trên, tôi đã lựa chọn thực hiện nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây chè trên địa bàn Xã Phúc Trìu, thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên” sẽ góp phần trả lời câu hỏi trên. Mục tiêu nghiên cứu 1.
Mục tiêu chung Đánh giá hiệu quả kinh tế cây chè của các hộ gia đình trên địa bàn xã Phúc Trìu, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2018 – 2020 nhằm đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế cho cây chè trên địa bàn xã. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế sản xuất chè 3 - Đánh giá được thực trạng hiệu quả kinh tế sản xuất chè trên địa bàn Xã Phúc Trìu, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. - Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất chè của nông hộ. - Đưa xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè trên địa bàn xã.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu Nghiên cứu tìm hiểu điều kiện kinh tế - xã hội của xã Phúc Trìu là cơ hội cho sinh viên khảo sát thực tế, áp dụng cơ sở lý thuyết vào thực tiễn, học hỏi kinh nghiệm truyền thống của địa phương. Đây cũng là cơ hội tốt và là hình thức học tập và rèn luyện thực tế cho sinh viên trước khi ra trường. + Củng cố kiến thức đã được học và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này.
+ Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập vào thực hiện hoạt động nghiên cứu. + Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin của bản thân trong quá trình nghiên cứu. Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo giúp xã Phúc Trìu xây dựng quy hoạch phát triển sản xuất cây chè. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng là tài liệu tham khảo cho các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội tương tự.
Ngoài ra, các hoạt động nghiên cứu liên quan tiếp theo cũng có thể sử dụng nó như là tài liệu tham khảo. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Một số vấn đề cơ bản về hiệu quả kinh tế 2.
Các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế. Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế. Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng. Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế.
Xuất phát từ góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế. Quan điểm thứ nhất: Trước đây, người ta coi hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế. Ngày nay, quan điểm này không còn phù hợp, bởi vì nếu cùng một kết quả xuất phát từ hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng có cùng một hiệu quả (Bùi Thị Thanh Tâm, 2006). Quan điểm thứ hai: Hiệu quả xác định bằng nhịp độ tăng trưởng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân, hiệu quả kinh tế sẽ cao khi nhịp độ tăng của các chỉ tiêu đó cao.
Nhưng chi phí hoặc nguồn lực được sử dụng tăng nhanh vì sao? Hơn nữa, điều kiện sản xuất hiện tại khác với năm trước, yếu tố bên trong bên ngoài của nền kinh tế bị ảnh hưởng cũng khác nhau. Do đó, quan điểm này chưa thỏa đáng (Bùi Thị Thanh Tâm, 2006). Quan điểm thứ ba: Hiệu quả là mức độ hữu ích của sản phẩm đó được sản xuất ra, tức là giá trị sử dụng chứ không phải là giá trị được đánh giá toàn diện từ ba khía cạnh: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường (Bùi Thị Thanh Tâm, 2006). 5 Từ những quan điểm khác nhau về hiệu quả như trên ta thấy rằng hiệu quả là một phạm trù trọng tâm và rất cơ bản của hiệu quả kinh tế và quản lý.
Hơn nữa việc xác định hiệu quả là vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp về lý luận và cả thực tiễn. Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội. Muốn vậy, sản xuất không ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Quan điểm về hiệu quả trong điều kiện hiện nay là phải thoả mãn vấn đề tiết kiệm thời gian, tài nguyên trong sản xuất mang lại lợi ích xã hội và bảo vệ môi trường.
Chính vì vậy mà hiệu quả của một quá trình nào đó cần được đánh giá toàn diện cả ba khía cạnh: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường. Do đó khi xem xét hiệu quả kinh tế chúng ta phải xem xét trên tất cả các góc độ để có cái nhìn toàn diện, chính xác, tùy theo mục đích và yêu cầu nghiên cứu (Bùi Thị Thanh Tâm, 2006). Nội dung và bản chất hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế chung nhất, có liên qua trực tiếp đến nền sản xuất hàng hóa và tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác. Hiệu quả kinh tế được biểu hiện ở mức đặc trưng quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra.
Một giải pháp kỹ thuật quản lý có hiệu quả kinh tế cao là phương án đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả đem lại và chi phí đầu tư. Từ khái niệm chung đó cần xác định tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế. Đây là phần phức tạp, còn nhiều ý kiến chưa được thống nhất. Tuy nhiên nhiều nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả kinh tế là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các tài nguyên.
Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là các quan điểm, nguyên tắc đánh giá hiệu quả kinh tế trong điều kiện cụ thể, trong giai đoạn nhất định. Việc nâng cao hiệu 6 quả kinh tế là mục tiêu chung và xuyên suốt trong mọi thời kỳ, tiêu chuẩn là lựa chọn đánh giá bằng định lượng theo tiêu chuẩn đã lựa chọn ở từng giai đoạn. Mỗi thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả cũng khác nhau. Mặt khác tùy thuộc vào nội dung của hiệu quả mà có tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế quốc dân và hiệu quả xí nghiệp.
Vì vậy, nhu cầu thì đa dạng, thay đổi theo thời gian tùy thuộc vào trình độ khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất. Mặt khác, nhu cầu còn nhiều loại: nhu cầu tối thiểu, nhu cầu khả năng thanh toán và nhu cầu theo ước muốn chung.