Đặt vấn đề Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi, nằm trong vùng Đông Bắc bộ, trung tâm tỉnh lỵ cách thủ đô Hà Nội 80 km về phía Bắc, có tổng diện tích tự nhiên 3533,1891 ha, dân số là 1.991 ngƣời với nhiều dân tộc anh em cƣ trú trên địa bàn 180 xã, phƣờng, thị trấn, thuộc 7 huyện, 2 thành phố. Nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên có truyền thống yêu nƣớc, đoàn kết, cần cù lao động và có tinh thần cách mạng kiên cƣờng. Rừng Thái Nguyên gắn bó với lịch sử vẻ vang trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm giải phóng dân tộc, là nơi đầu nguồn của các con sông nhƣ: sông Công, Sông Chợ Chu, sông Cầu … cung cấp nƣớc cho các hồ đập thủy lợi lớn nhƣ: Hồ Núi Cốc, hồ Bảo Linh, hồ Suối Lạnh v.v… Bên cạnh những giá trị kinh tế, bảo vệ môi trƣờng cảnh quan, bảo vệ nguồn gen động thực vật quý hiếm, còn có giá trị về mặt lịch sử văn hóa và nghiên cứu khoa học. Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 (sau đây gọi tắt là Nghị định 99) của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng (DVMTR) bắt đầu thực hiện từ ngày 01/01/2011.
Đây là một chính sách tạo ra cơ chế dịch vụ chi trả giữa những ngƣời sử dụng các DVMTR và những ngƣời cung ứng DVMTR, nhằm xã hội hóa công tác bảo vệ rừng và phát huy các giá trị kinh tế của môi trƣờng rừng trong hoàn cảnh nguồn tài nguyên gỗ rừng tự nhiên đã cạn kiệt và vốn ngân sách Nhà nƣớc đầu tƣ cho bảo vệ rừng rất hạn chế. Trong những năm qua chính sách chi trả DVMTR đã mang lại những hiệu quả thực tế và quan trọng cho việc bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, bồi lắng lòng hồ, sông, suối; c 2 điều tiết duy trì nguồn nƣớc sạch cho sản xuất và đời sống xã hội; hấp thụ và lƣu giữ cacbon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính; bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng; cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nƣớc từ rừng cho nuôi trồng thủy sản. Bên cạnh đó cũng góp phần tăng thu nhập cho những ngƣời dân sống trong vùng rừng. Xuất phát từ thực tiễn trên, nghiên cứu: “Đánh giá công tác chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” rất có ý nghĩa trong công tác chi trả dịch vụ môi trƣờng góp phần nhìn nhận một cách chi tiết về công tác chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng đã đƣợc triển khai trong những năm qua trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Mục tiêu đề tài 1. Mục tiêu tổng quát Khái quát lên điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Thái Nguyên và khái quát quá trình thực hiện công các chi trả DVMTR trong những năm qua tại tỉnh Thái Nguyên. Mục tiêu cụ thể — Đánh giá đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên. — Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng khu vực có chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
— Đánh giá quá trình thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. — Đánh giá kết quả đạt đƣợc của chính sách chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng tại tỉnh Thái Nguyên. — Đánh giá chung về công tác chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nhằm chỉ ra những thành tựu, thuận lợi, khó khăn và c 3 phƣơng pháp khắc phục khó khăn góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách. Yêu cầu đề tài Nắm vững các quy định của Nhà nƣớc đối với công tác chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng.
Hiểu và vận dụng tốt các quy định, quy phạm, văn bản pháp luật về công tác chi trả dịch vụ môi trƣờng. Các số liệu điều tra, thu thập chính xác, đầy đủ phản ánh trung thực, khách quan về công tác công tác chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng trên địa bàn nghiên cứu. Đƣa ra những khuyến nghị phù hợp với thực tế và mang tính khả thi cao. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Tổng hợp khái quát hóa các cơ sở lý thuyết và thực tiễn các thông tin liên quan về rừng, môi trƣờng và công tác chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng. Ý nghĩa thực tiễn - Khái quát lên hiện trạng tài nguyên rừng tỉnh Thái Nguyên cũng nhƣ khu vực có hoạt động chi trả DVMTR. - Đánh giá công tác chi trả dịch vụ môi trƣờng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên để tìm ra những hạn chế và tồn tại. Đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn đang tồn tại.
c 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở pháp lý cho chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng Căn cứ Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng. Nghị định 147/2016/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 99/2010/NĐ-CP chính sách chi trả dịch vụ môi trƣờng. Thông tƣ số 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10 tháng 6 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng.
Thông tƣ số: 80/2011/TT-BNNPTNT Hƣớng dẫn phƣơng pháp xác định tiền chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng. Thông tƣ liên tịch số: 62/2012/TTLTBNNPTNT-BTC Hƣớng dẫn cơ chế quản lý sử dụng tiền chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng. Khái niệm về rừng “Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khi quyển. Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý” (Morozov, 1930)[19].
“Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hƣởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài” (M. “Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu” (I. Mê lê khôp, 1974)[20].
c 5 Khái niệm: Rừng là quần xã sinh vật trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu. Quần xã sinh vật phải có diện tích đủ lớn. Giữa quần xã sinh vật và môi trƣờng, các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác. Vai trò của rừng đƣợc đánh giá theo các vai trò chính nhƣ sau: Là hệ sinh thái đa dạng và giàu có nhất trên cạn, đặc biệt là rừng ẩm nhiệt đới.
Năng suất trung bình của rừng trên thế giới đạt 5 tấn chất khô/ha/năm, đáp ứng 2 - 3% nhu cầu lƣơng thực phẩm cho con ngƣời. Rừng có vai trò to lớn về môi trƣờng và phát triển, là nguồn cung cấp nguyên vật liệu cần thiết cho con ngƣời. Rừng cung cấp lƣơng thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, dƣợc liệu, du lịch, giải trí. Rừng là "lá phổi xanh" hấp thụ CO2, tái sinh oxy, điều hòa khí hậu cho khu vực.
Rừng tạo nên khoảng 16 tấn oxy/ha/năm (rừng thông 30 tấn, rừng trồng 3 - 10 tấn). Mỗi ngƣời một năm cần 4.000kg O2 tƣơng ứng với lƣợng oxy do 1.000 m2 cây xanh tạo ra trong năm. Rừng giúp giảm nhẹ Hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu trên toàn cầu. Nhiệt độ không khí rừng thƣờng thấp hơn nhiệt độ đất trống khoảng 3 – 5oC, Rừng bảo vệ và ngăn chặn gió bão, giảm thiểu lũ lụt, gió bão, hạn hán,.
Phân loại rừng ở Việt Nam: Phân loại rừng theo chức năng gồm: rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Phân loại rừng theo trữ lƣợng gồm: rừng rất giàu trữ lƣợng cây đứng trên 300 m³/ha, rừng giàu trữ lƣợng cây đứng từ 201– 300 m³/ha, rừng trung c 6 bình trữ lƣợng cây đứng từ 101–200 m³/ha và rừng nghèo trữ lƣợng cây đứng từ 10 đến 100 m³/ha. Phân loại rừng theo nguồn gốc hình thành gồm: rừng tự nhiên và rừng nhân tạo. Phân loại rừng theo điều kiện lập địa gồm: rừng núi đất, rừng núi đá, rừng ngập nƣớc, rừng ngập mặn, rừng trên đất phèn, rừng ngập nƣớc ngọt, rừng trên đất cát.
Phân loại rừng theo loài cây gồm: rừng gỗ, rừng tre nứa, rừng cau dừa, rừng hỗn giao gỗ và tre nứa. Khái niệm về dịch vụ môi trường rừng “Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực vật, động vật, vi sinh vật, nƣớc, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên. Môi trƣờng rừng có các giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con ngƣời, gọi là giá trị sử dụng của môi trƣờng rừng, gồm: bảo vệ đất, điều tiết nguồn nƣớc, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ và lƣu giữ cacbon, du lịch, nơi cƣ trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác” (Chính phủ, 2010)[2]. Dịch vụ môi trường rừng (Forest environmental services) là công việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trƣờng rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân bao gồm các loại dịch vụ đƣợc quy định tại khoản 2 điều 4 nghị định 99 về chính sách chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng.
Trong đó giá trị môi trƣờng rừng đƣợc hiểu là giá trị mà rừng làm lợi cho môi trƣờng, do bản thân các khu rừng tạo ra nhƣng không chỉ đƣợc sử dụng bởi những ngƣời quản lý, bảo vệ phát triển rừng mà còn toàn xã hội. Với việc xem xét đến các dịch vụ môi trƣờng rừng thì các giá trị này đƣợc xem xét nhƣ một loại hàng hóa công cộng, có thể do cả xã hội sử dụng mà c 7 ngƣời làm rừng không quản lý và điều tiết đƣợc quá trình khai thác và sử dụng chúng. Khái niệm chi trả dịch vụ môi trường Chi trả dịch vụ môi trường rừng (Payment for environmental services) đƣợc xem là cơ chế nhằm thúc đẩy việc tạo ra và sử dụng các dịch vụ sinh thái bằng cách kết nối ngƣời cung cấp dịch vụ và ngƣời sử dụng hệ sinh thái.