Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khu danh lam thắng cảnh Núi Đôi (hay còn gọi là Núi Cô Tiên) tọa lạc tại thị trấn Tam Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang, nằm trên tuyến Quốc lộ 4C cách thành phố Hà Giang khoảng 40 km. Ngày 15 tháng 01 năm 2010, địa danh này đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trao bằng xếp hạng Di tích Quốc gia danh lam thắng cảnh nhờ những giá trị cảnh quan tự nhiên, địa chất và lịch sử văn hóa độc đáo. Hàng năm, khu di tích thu hút trên 25.000 lượt khách tham quan, kết hợp giữa du lịch văn hóa, lịch sử và du lịch sinh thái.

Sự gia tăng nhanh chóng của lượng khách du lịch cùng các hoạt động dân sinh, sản xuất nông nghiệp của cộng đồng địa phương đã và đang tạo ra sức ép đáng kể lên môi trường sinh thái khu vực. Tuy nhiên, trước thời điểm nghiên cứu, tại khu du lịch Núi Đôi chưa có công trình khoa học nào đánh giá một cách toàn diện và cụ thể về mức độ tác động của hoạt động du lịch đến môi trường tự nhiên. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài "Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường sinh thái tại thị trấn Tam Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang" được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu thực địa và đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể gồm ba nội dung:

  1. Đánh giá được điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng hoạt động du lịch và hiện trạng môi trường tại khu du lịch Núi Đôi.
  2. Đánh giá được các tác động tích cực và tiêu cực của hoạt động du lịch tới môi trường sinh thái.
  3. Đề xuất được một số giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch đến môi trường.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động du lịch của du khách và các hoạt động sinh hoạt, sản xuất của người dân tác động đến môi trường sinh thái tại khu du lịch Núi Đôi.
  • Phạm vi không gian: Khu vực Núi Đôi thuộc địa phận thị trấn Tam Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập số liệu và khảo sát thực địa trong giai đoạn từ tháng 01/2018 đến tháng 04/2018.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:

  • Về mặt khoa học: Đề tài bổ sung nguồn dữ liệu thực nghiệm về tác động môi trường du lịch vùng cao nguyên đá, tạo tiền đề khoa học cho các nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo tại huyện Quản Bạ.
  • Về mặt thực tiễn: Đề tài phản ánh đúng thực trạng ô nhiễm cục bộ và công tác quản lý chất thải tại khu di tích, làm cơ sở để chính quyền địa phương và ban quản lý áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường, phát triển du lịch sinh thái bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống lý luận dựa trên các khái niệm nền tảng về môi trường, du lịch (theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới - UNWTO và Luật Du lịch Việt Nam 2005), đặc trưng của ngành du lịch (tính đa ngành, đa thành phần, đa mục tiêu, liên vùng, mùa vụ và chi phí), cũng như mối quan hệ tương hỗ hai chiều giữa phát triển du lịch và môi trường sinh thái. Khung đánh giá tham khảo các báo cáo tổng quan của Hội đồng Du lịch Thế giới (WTTC) về các tác động tiềm tàng của du lịch lên đất, nước, không khí, động thực vật và chuyên đề "Bảo vệ môi trường du lịch" của PGS. Phạm Trung Lương (2010).

Hệ thống cơ sở pháp lý được áp dụng bao gồm:

  • Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13.
  • Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12.
  • Luật Bảo vệ và phát triển rừng số 24/2004/QH11.
  • Nghị định số 80/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
  • Quyết định số 187/NQ-HĐND ngày 07/07/2015 của HĐND tỉnh Hà Giang về quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Hà Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
  • Quyết định số 2188/QĐ-UBND ngày 03/10/2013 của UBND tỉnh Hà Giang về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Hà Giang đến năm 2020.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa nghiên cứu bàn giấy, khảo sát xã hội học và quan trắc phân tích môi trường:

  • Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Tổng hợp các tài liệu thống kê kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất từ UBND thị trấn Tam Sơn và số liệu chuỗi quan trắc chất lượng nước định kỳ của Trung tâm Quan trắc Môi trường tỉnh Hà Giang (giai đoạn 2015 - 2017).
  • Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: Tiến hành điều tra bảng hỏi (phiếu phỏng vấn) trên 70 đối tượng, bao gồm: 10 cán bộ ban quản lý khu du lịch, 30 khách du lịch và 30 hộ dân sinh sống tại thị trấn Tam Sơn. Khảo sát thực địa về thói quen tiêu dùng tài nguyên, sử dụng phân bón và hiện trạng xả rác.
  • Phương pháp quan trắc và phân tích: Áp dụng hệ thống Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN), Phương pháp Tiêu chuẩn Kiểm tra Nước và Nước thải (SMEWW), Phương pháp phân tích HACH và AOAC cho các thông số môi trường không khí (TCVN 7878-1:2008, TCVN 5067:1995, TCVN 6137:2009, TCVN 5971:1995), nước mặt (TCVN 6663-6:2008, SMEWW 5210D, SMEWW 5220C...), nước ngầm và đất.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đánh giá chất lượng các thông số môi trường nước mặt sông Miện bằng cách đối chiếu trực tiếp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08-MT:2015/BTNMT (cột A2).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài, vị trí cảnh quan và giá trị của danh thắng Núi Đôi, xác định mục tiêu nghiên cứu (3 mục tiêu), ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của khóa luận tốt nghiệp.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về môi trường và du lịch sinh thái; phân tích mối tương tác giữa các hoạt động du lịch và các thành phần môi trường (không khí, nước, đất, hệ sinh thái); trích dẫn nhận định của WTTC về các tác động tiềm tàng của ngành du lịch trên thế giới; điểm qua các nghiên cứu bảo vệ môi trường du lịch tại Việt Nam và phân tích thực trạng phát triển du lịch sinh thái tại tỉnh Hà Giang cùng hệ thống văn bản pháp lý liên quan.

Phần 3: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể đối tượng nghiên cứu là hoạt động của khách du lịch và cộng đồng dân cư; phạm vi không gian tại khu danh lam thắng cảnh Núi Đôi (thị trấn Tam Sơn) trong thời gian từ tháng 01 đến tháng 04/2018. Thiết lập 4 nhóm nội dung nghiên cứu và chi tiết hóa phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp, điều tra xã hội học (70 phiếu phỏng vấn), phương pháp quan trắc hiện trường và các quy trình phân tích trong phòng thí nghiệm đối với không khí, nước mặt, nước ngầm, đất theo tiêu chuẩn TCVN/SMEWW.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này tập trung vào các kết quả phân tích thực chứng và thảo luận chuyên sâu qua các nhóm nội dung:

1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội thị trấn Tam Sơn:

  • Tự nhiên: Thị trấn có khí hậu nhiệt đới với 2 mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình 22,4°C, lượng mưa trung bình 1.800 mm/năm (80% tập trung vào các tháng 7, 8, 9), độ ẩm trung bình 84%. Địa hình Núi Đôi có chu vi gần 1.000 m, diện tích khoảng 3,6 ha, được hình thành từ quá trình vận động tạo sơn cách đây khoảng 400 triệu năm. Sông Miện là nguồn cung cấp nước mặt chính cho khu vực.
  • Kinh tế - xã hội: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 15,3%/năm; GDP bình quân đầu người đạt 1,4 triệu đồng; cơ cấu kinh tế Nông nghiệp - Công nghiệp - Thương mại dịch vụ lần lượt là 85% - 5% - 10%; thu ngân sách đạt 255,579 tỷ đồng/năm. Dân số năm 2017 có 1.604 nhân khẩu với 411 hộ (bình quân 4 người/hộ), mật độ dân số 55 người/km². Lực lượng lao động có 753 người (chiếm 48% dân số), trong đó lao động nông nghiệp chiếm 85% (658 người), phần lớn chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật.

2. Hiện trạng sử dụng đất và chất lượng môi trường sinh thái:

  • Hiện trạng đất đai năm 2017: Tổng diện tích tự nhiên là 2.945,29 ha. Đất nông nghiệp chiếm 2.763,96 ha (93,81%), trong đó đất rừng đặc dụng chiếm ưu thế tuyệt đối với 2.527,96 ha (85,83% tổng diện tích), đất sản xuất nông nghiệp có 232,65 ha (7,89%). Đất phi nông nghiệp chiếm 128,10 ha (4,34%) và đất chưa sử dụng còn 53,23 ha (1,80%).
  • Chất lượng nước mặt sông Miện: Dữ liệu quan trắc 3 năm liên tiếp (2015 - 2017) cho thấy các chỉ tiêu hóa lý và kim loại nặng đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 08-MT:2015/BTNMT (cột A2). Nguồn nước đạt tiêu chuẩn cấp cho sinh hoạt (có xử lý), bảo tồn thủy sinh và tưới tiêu nông nghiệp.
Thông số quan trắc Đơn vị Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 QCVN 08:2015/BTNMT (Cột A2)
pH - 7,55 8,14 7,89 6 - 8,5
Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) mg/l 3,0 1,6 2,2 50
Nhu cầu oxy sinh học ($BOD_5$) mg/l 2,54 5,84 5,56 6
Nhu cầu oxy hóa học ($COD$) mg/l 10,3 12,8 10,9 15
Oxy hòa tan ($DO$) mg/l 5,79 6,01 6,40 $\ge 5$
Sắt ($Fe$) mg/l 0,01 0,03 0,02 1
Asen ($As$) mg/l 0,000040 0,00038 0,00051 0,02
Độ đục NTU 2,8 3,2 2,7 -
  • Hiện trạng rác thải và tài nguyên:
    • Định mức phát sinh rác thải du lịch tại Núi Đôi là 0,5 kg/người/ngày. Với tổng số 20.672 lượt khách đăng ký trong năm 2017, lượng rác phát sinh ước tính là 10,336 tấn/năm. Ngày thường có dưới 100 khách/ngày (50 kg rác), ngày cao điểm đón tới 3.000 khách/ngày (1.500 kg rác).
    • Cơ cấu thành phần chất thải rắn: Chất hữu cơ dễ phân hủy chiếm 68%; chất hữu cơ khó phân hủy 6%; túi nilon chiếm 5,68%; gốm sứ thủy tinh 2%; kim loại 1%; các loại khác 23%.
    • Tần suất thu gom rác còn thấp (1 lần/tháng vào ngày thường, 2 lần/tháng vào mùa cao điểm); rác thường xuyên bị đốt lộ thiên ngay trong thùng chứa hoặc tại bãi rác tự phát trên núi.
    • Điều tra 30 hộ dân cho thấy mức tiêu thụ tài nguyên rừng trong 1 tháng là hơn 6.000 kg (gồm >5.500 kg củi khô từ rừng tự nhiên, >150 kg thủy sản, 14 kg thịt thú rừng, 6 kg cây thuốc và 43 kg rau/măng rừng). Tính quy đổi toàn bộ 411 hộ của thị trấn tiêu thụ trên 59.000 kg củi đốt/tháng.

3. Đánh giá tác động của hoạt động du lịch và các hoạt động khác:

  • Tác động tích cực: Khẳng định giá trị di tích, nâng cao nhận thức bảo tồn sinh thái và tạo thêm cơ hội sinh kế dịch vụ cho cộng đồng.
  • Tác động tiêu cực:
    • Du lịch tự do gây suy giảm đa dạng sinh học: Tiếng ồn và sự xáo trộn làm các loài động vật hoang dã (khỉ, sóc, chồn, các loài chim lớn) từng xuất hiện cách đây 7 - 10 năm nay đã di chuyển nơi cư trú khác, hiện chỉ còn một số loài chim nhỏ như chìa vôi, chích bông, bói cá.
    • Ô nhiễm cục bộ do rác thải và khói đốt rác; nguy cơ cháy rừng cao do du khách cắm trại, nướng thức ăn, vứt tàn thuốc lá bừa bãi.
    • Dịch vụ lưu trú chưa phát triển, chỉ có 20 quán hàng tự phát bán đồ lưu niệm, thổ cẩm, nước giải khát.
  • Kết quả phỏng vấn 70 đối tượng: 5/10 cán bộ cho rằng du lịch ảnh hưởng nhiều đến cảnh quan; phần lớn du khách chưa nhận thức rõ tác động của mình lên hệ động thực vật; đa số người dân địa phương chưa ý thức được đầy đủ hoặc cho rằng tác động chỉ ở mức độ nhỏ.
  • Tác động nông - lâm nghiệp: 30 hộ điều tra canh tác 90.000 m² đất nông nghiệp (trong đó 61.000 m² đất lúa 1 vụ), bón phân không theo công thức khoa học (Đạm urê: 0,05 - 0,07 tạ/sào; Lân supe: 0,08 tạ/sào; Kali sunfat: 0,03 tạ/sào; NPK: 0,3 tạ/sào; Phân chuồng: 5 tạ/sào). Toàn bộ 305 con gia súc, gia cầm (30 trâu, 15 bò, 22 dê, 178 gà, 50 vịt) được chăn thả tự nhiên 100%, gây mất mỹ quan và phát sinh nguy cơ ô nhiễm phân gia súc. Ngược lại, diện tích 100 ha rừng do khu di tích giao khoán cho các hộ tự quản lý được bảo vệ tốt, không xảy ra cháy rừng hay phá rừng.

4. Đề xuất giải pháp:

  • Nhóm giải pháp du lịch: Định hướng phát triển du lịch sinh thái; hoàn thiện thể chế pháp lý môi trường; bồi dưỡng năng lực cán bộ; tuyên truyền nâng cao ý thức du khách; duy trì và nhân rộng mô hình tour du lịch nhặt rác (tổ chức 1 lần/tuần, đã thử nghiệm hiệu quả với du khách quốc tế).
  • Nhóm giải pháp nông nghiệp: Giảm phân bón hóa học, sử dụng phân chuồng ủ hoai mục, tập huấn canh tác theo nguyên tắc "4 đúng" (đúng loại, đúng lượng, đúng lúc, đúng cách).
  • Nhóm giải pháp ngăn chặn khai thác thủy sản trái phép: Tăng cường tuần tra, áp dụng chế tài xử phạt nghiêm việc đánh bắt vào mùa sinh sản; phát triển các làng nghề dệt thổ cẩm truyền thống nhằm tạo việc làm ổn định, giảm sự phụ thuộc kinh tế vào khai thác tự nhiên.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các kết quả đạt được về điều kiện sinh thái, môi trường nước mặt sông Miện, hiện trạng rác thải và nêu kiến nghị tăng cường công tác tuyên truyền, giữ gìn môi trường khu di tích.


Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã định lượng hóa và làm rõ hiện trạng môi trường tại khu du lịch Núi Đôi thông qua hệ thống dữ liệu thực nghiệm:

  • Hiện trạng môi trường nước: Nguồn nước mặt sông Miện giai đoạn 2015 - 2017 duy trì chất lượng tốt, đạt chuẩn A2 theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT, với $BOD_5$ dao động từ 2,54 đến 5,84 mg/l, $COD$ từ 10,3 đến 12,8 mg/l, $DO$ từ 5,79 đến 6,40 mg/l, $TSS$ từ 1,6 đến 3,0 mg/l và $pH$ ổn định từ 7,55 đến 8,14.
  • Hiện trạng chất thải rắn du lịch: Xác định định mức phát thải 0,5 kg/người/ngày, tổng lượng rác phát sinh năm 2017 là 10,336 tấn (tương ứng 20.672 lượt khách), thành phần chủ yếu là chất hữu cơ dễ phân hủy (68%) và túi nilon (5,68%). Hoạt động thu gom còn thưa thớt (1 - 2 lần/tháng), tồn tại việc đốt rác thủ công gây ô nhiễm không khí cục bộ.
  • Sức ép khai thác tài nguyên và sản xuất: Làm rõ mức độ tiêu thụ củi khô (>59 tấn/tháng cho 411 hộ toàn thị trấn), tập quán chăn thả tự nhiên 100% đối với 305 con gia súc, gia cầm của 30 hộ điều tra và tình trạng bón phân nông nghiệp tùy tiện thiếu quy chuẩn.
  • Đóng góp mới của tác giả: Đây là công trình đầu tiên xây dựng bộ dữ liệu khảo sát tổng hợp (kết hợp quan trắc môi trường nước, kiểm toán rác thải sinh hoạt, thống kê sử dụng tài nguyên và phỏng vấn 70 đối tượng liên quan) tại điểm du lịch Núi Đôi Tam Sơn, đồng thời ghi nhận mô hình thực nghiệm "tour du lịch nhặt rác" mỗi tuần một lần như một sáng kiến bảo vệ môi trường có tính khả thi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Thời gian khảo sát thực địa tương đối ngắn (từ tháng 01 đến tháng 04/2018), chưa bao quát trọn vẹn sự biến thiên chất lượng môi trường theo các mùa du lịch cao điểm khác nhau trong năm.
  • Quy mô mẫu phỏng vấn nông hộ dừng lại ở 30 hộ dân và 70 phiếu khảo sát, tập trung chủ yếu quanh khu vực trung tâm thị trấn Tam Sơn.
  • Các dữ liệu về môi trường không khí, tiếng ồn và đất chủ yếu trình bày phương pháp và quy chuẩn lý thuyết, chưa tích hợp được chuỗi số liệu đo đạc thực nghiệm chi tiết như đối với thành phần nước mặt.
  • Văn bản khóa luận tại phần kiến nghị cuối cùng chưa được hoàn thiện đầy đủ câu chữ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng quan trắc thực nghiệm định kỳ đối với chất lượng môi trường không khí xung quanh, độ ồn và chất lượng đất tại các điểm tập trung đông khách du lịch.
  • Nghiên cứu xác định sức chứa du lịch (carrying capacity) và ngưỡng chịu tải sinh thái của khu danh lam thắng cảnh Núi Đôi để điều tiết lượng khách mùa lễ hội.
  • Đánh giá hiệu quả kinh tế - môi trường của mô hình du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn làng nghề thổ cẩm truyền thống tại huyện Quản Bạ.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Địa lý Tài nguyên khi thực hiện các đồ án, khóa luận tốt nghiệp về đánh giá tác động môi trường du lịch vùng núi cao.
  • Ban quản lý di tích Núi Đôi, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Quản Bạ, UBND thị trấn Tam Sơn trong việc xây dựng kế hoạch thu gom, vận chuyển chất thải rắn, quản lý nguồn nước mặt sông Miện và kiểm soát nguy cơ cháy rừng.
  • Các tổ chức phát triển du lịch bền vững quan tâm đến giải pháp kết hợp tour du lịch trải nghiệm với hoạt động thu gom rác thải và phát triển sinh kế phi nông nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Câu hỏi thường gặp

1. Chất lượng nước mặt sông Miện tại khu vực Núi Đôi trong giai đoạn 2015 - 2017 có đạt quy chuẩn không? Có. Toàn bộ các chỉ tiêu quan trắc qua 3 năm (gồm pH, TSS, COD, BOD5, DO, Fe, As) đều đạt giới hạn cho phép theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT (cột A2). Nguồn nước đảm bảo an toàn cho mục đích cấp nước sinh hoạt sau xử lý, tưới tiêu và bảo tồn thủy sinh.

2. Lượng rác thải phát sinh từ hoạt động du lịch tại Núi Đôi năm 2017 là bao nhiêu và thành phần chiếm tỷ lệ lớn nhất là gì? Với định mức phát thải 0,5 kg/người/ngày và 20.672 lượt khách đăng ký, tổng lượng rác thải phát sinh trong năm 2017 ước tính là 10,336 tấn. Trong đó, chất hữu cơ dễ phân hủy chiếm tỷ lệ cao nhất (68%), tiếp theo là các loại khác (23%, trong đó túi nilon chiếm 5,68%), chất hữu cơ khó phân hủy (6%), gốm sứ thủy tinh (2%) và kim loại (1%).

3. Mức độ phụ thuộc vào tài nguyên củi rừng của người dân thị trấn Tam Sơn theo khảo sát là bao nhiêu? Theo kết quả điều tra 30 hộ dân, trung bình mỗi hộ sử dụng 5 kg củi/ngày, tương đương 5.500 kg củi khô/tháng (100% khai thác từ rừng tự nhiên). Ước tính toàn thị trấn với 411 hộ tiêu thụ hơn 59.000 kg củi khô mỗi tháng.

4. Tác giả đề xuất giải pháp sinh kế nào để hạn chế tình trạng người dân khai thác thủy sản trái phép tại khu di tích? Tác giả đề xuất chính quyền địa phương tạo việc làm thay thế cho người dân thông qua việc khôi phục và phát triển làng nghề dệt thổ cẩm truyền thống, sản xuất quà lưu niệm phục vụ du khách, giúp ổn định thu nhập và giảm mức độ phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên.

5. Mô hình hoạt động bảo vệ môi trường nào đã được triển khai thực tế tại khu du lịch Núi Đôi? Khu di tích đã triển khai mô hình "tour du lịch nhặt rác" với tần suất 1 lần/tuần trước khi du khách tham quan các địa điểm khác. Mô hình này bước đầu thu hút sự tham gia tích cực của du khách quốc tế và tạo tác động tích cực đến nhận thức bảo vệ môi trường của người dân địa phương.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Viên Ngọc Chiến đã phản ánh chân thực bức tranh môi trường sinh thái tại khu danh lam thắng cảnh Quốc gia Núi Đôi, thị trấn Tam Sơn năm 2018. Kết quả nghiên cứu khẳng định chất lượng nước mặt sông Miện vẫn duy trì ở mức tốt (đạt chuẩn A2 theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT), tuy nhiên áp lực từ chất thải rắn du lịch (hơn 10 tấn/năm), hoạt động đốt rác thủ công, khai thác củi rừng và chăn thả gia súc tự do đang là những nguy cơ trực tiếp gây suy thoái cảnh quan và đa dạng sinh học. Hệ thống giải pháp đề xuất tập trung vào phát triển du lịch sinh thái, tăng cường thu gom rác thải, áp dụng nguyên tắc nông nghiệp "4 đúng" và tạo sinh kế làng nghề dệt thổ cẩm mang tính thực tiễn cao cho công tác quản lý môi trường tại địa phương.