PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực châu Á và quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (CRC) năm 1990, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ nhanh chóng về mặt phát triển con người và tăng trưởng kinh tế trong suốt 30 năm vừa qua. Được khởi xướng vào năm 1986, cải cách kinh tế - chính trị dưới thời kỳ Đổi mới đã đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp - chuyển đổi thành một trong những nền kinh tế mới nổi năng động nhất khu vực châu Á. Tỷ lệ nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 9,8% năm 2017 [22].
Tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ dưới 5 tuổi giảm đáng kể với tỷ lệ bao phủ tiêm chủng cao và ngày càng có thêm nhiều trẻ em được tới trường. Tiến bộ cũng được ghi nhận ở nhiều lĩnh vực khác như mở rộng tiếp cận nguồn nước sạch và vệ sinh an toàn. Ngày nay, nhiều trẻ em ở Việt Nam được hưởng cuộc sống chất lượng mà thế hệ đi trước không bao giờ có. Tuy nhiên, vẫn còn trẻ em và người chưa thành niên bị bỏ lại phía sau bởi tác động của sự phát triển kinh tế xã hội năng động này và tiếp tục sống trong điều kiện thiếu thốn và bị loại ra ngoài.
Bên cạnh những bước tiến tích cực, trẻ em Việt Nam vẫn phải đối mặt với những thách thức chưa từng có. Những minh chứng toàn cầu cho thấy việc đầu tư vào trẻ em là loại hình đầu tư hiệu quả nhất mà chính phủ có thể thực hiện để đảm bảo tăng trưởng kinh tế trong tương lai. Số lượng trẻ em có HCĐB trong cả nước tính đến cuối năm 2014 là 1,5 triệu trẻ chiếm 1.7% dân số và khoảng 5% dân số trong độ tuổi trẻ em, bao gồm 10 nhóm đối tượng theo Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em [20]. Trong đó có 1,3 triệu trẻ khuyết tật, cứ 10 em thì chỉ có 1 em được học lên trung học, còn rất nhiều việc cần thực hiện để đảm bảo tất cả trẻ em đang chịu sự bất bình đẳng dai dẳng giữa thành thị và nông thôn, giới tính và dân tộc tiếp cận được với giáo dục.
Ngoài ra, hơn 2/3 trẻ em từ 1 đến 14 tuổi vẫn chịu hình thức kỷ luật bạo lực và hơn 170.000 trẻ em không có sự chăm sóc của cha mẹ, nhiều em sống bần cùng hoặc bị bỏ rơi [32]. 2 Theo Báo cáo của Bộ LĐTB & XH, trên điạ bàn cả nước có 432 cơ sở bảo trợ xã hội. Trong đó, TPHCM có 18 trung tâm bảo trợ xã hội của thành phố đang chăm sóc nuôi dưỡng hơn 6. Ngoài ra còn 60 tổ chức ngoài công lập nuôi dưỡng khoảng 3.
Tuy số lượng cơ sở bảo trợ đã thành lập nhiều nhưng vẫn không đáp ứng đủ sự gia tăng số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần sự hỗ trợ. Trẻ em ở các trung tâm, cơ sở bảo trợ thường thiếu tình yêu thương, chăm sóc của gia đình. Trước tình hình đó, Thủ tướng Chính Phủ ban hành Đề án (Đề án 32) năm 2010 Phát triển nghề CTXH được chính thức phê duyệt và đi vào hoạt động, nhu cầu nâng cao, hoàn thiện các hoạt động CTXH ngày càng trở nên cấp thiết hơn. Mục tiêu chung của Đề án là “Phát triển công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt Nam.
Đề án nhằm nâng cao nhận thức của toàn dân về nghề công tác xã hôi, xây dựng mã nghạch chuyên viên công tác xã hội và đạo tạo đội ngũ nhân viên công tác xã hội đủ chất lượng, số lượng cung cấp các dịch vụ CTXH, góp phần nâng cao chất lượng an sinh xã hội của đất nước. Để hỗ trợ trẻ em có HCĐB một cách hiệu quả Đảng và Nhà nước, chính quyền đã huy động triển khai các đường lối chủ trương, chính sách nhằm giảm thiểu số lượng trẻ em có HCĐB và giúp các em tiếp cận dịch vụ xã hội một cách tốt nhất. Thông tư 02/2020/TT-BLĐTBXH - Hướng dẫn quản lý đối tượng được cơ sở trợ giúp xã hội cung cấp dịch vụ công tác xã hội. Thông tư này hướng dẫn quản lý trường hợp đối với đối tượng được cơ sở trợ giúp xã hội cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại cơ sở và tại xã, phường, thị trấn.
Trong đó trẻ em có HCĐB là một trong những đối tượng yếu thế mà thông tư hướng đến. Thông tư đã quy định rất rõ những quy trình và nhiệm vụ quản lý trường hợp đối với đối tượng tại cơ sở bảo trợ xã hội. Tuy số lượng cơ sở bảo trợ đã thành lập nhiều nhưng vẫn không đáp ứng đủ sự gia tăng số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần sự hỗ trợ. Ngoài ra, các mô hình hoạt động quản lý trường hợp tại cơ sở có phải là mô hình công tác xã hội hay mô hình nuôi dưỡng cũng là một vấn đề cần quan tâm.
Trung Tâm Nuôi Dưỡng Bảo Trợ Trẻ Em Gò Vấp - Trung tâm Nuôi dưỡng, bảo trợ trẻ em quận Gò Vấp, trực thuộc sở lao động thương binh và xã hội Thành phố 3 Hồ Chí Minh được thành lập từ năm 1976. Cơ sở đang nuôi dưỡng hàng trăm em mồ côi, khuyết tật. Tại đây, các em được sắp xếp ở các khoa khác nhau, tùy theo độ tuổi và sức khỏe, từ các em mới sinh cho đến những bạn đã đến tuổi trưởng thành. Tuy nhiên, các em có một điểm chung là đều thiếu tình yêu thương của bố mẹ, người thân và bị khuyết tật ngay từ nhỏ như liệt, bại não…Đây là một trong những cơ sở hoạt động trong lĩnh vực CTXH đi tiên phong trong áp dụng mô hình Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em có HCĐB để các em tiếp cận các dịch vụ xã hội, hỗ trợ tâm lý, định hướng nghề nghiệp cho tương lai.
Trên thế giới và Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về CTXH với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như nghiên cứu “Một số kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển dịch vụ công tác xã hội trong công tác bảo vệ trẻ em” của tác giả Đỗ Thị Ngọc Phương, nghiên cứu “Nâng cao kỹ năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ mồ côi sống trong trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay” của Nguyễn Thiên Thanh (2014), Tạ Thị Phúc “Hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho trẻ em lang thang (nghiên cứu trường hợp tại Tổ chức trẻ em Rồng xanh - Hà Nội)”, …nhưng thực tế chưa có đề tài nghiên cứu nào nghiên cứu về hoạt động CTXH cá nhân đối với trẻ có HCĐB tại trung tâm Nuôi dưỡng bảo trợ trẻ em Gò Vấp. Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên nhằm tìm hiểu về hoạt động công tác xã hội cá nhân với trẻ em có HCĐB để đề xuất những biện pháp nâng cao chất lượng công tác xã hội cá nhân tại cơ sở, tác giả tiến hành thực hiện nghiên cứu “Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt” (Nghiên cứu trường hợp tại trung tâm nuôi dưỡng, bảo trợ trẻ em Gò Vấp). Tổng quan tình hình nghiên cứu công tác xã hội cá nhân đối với trẻ có hoàn cảnh đặc biệt 2. Nghiên cứu trên thế giới 2.
Các nghiên cứu về công tác xã hội trong hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng Nghiên cứu “Một số kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển dịch vụ công tác xã hội trong công tác bảo vệ trẻ em” của tác giả Đỗ Thị 4 Ngọc Phương nhận định nhà nước có trách nhiệm cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho trẻ ở một số quốc gia phát triển. Các dịch vụ CTXH ở các nước này cũng tập trung vào hỗ trợ theo các nhu cầu phát triển của trẻ em, gia đình và kêu gọi sự tham gia của cộng đồng vào việc hỗ trợ trẻ có HCĐB cùng với các cấp quản lý nhà nước. Tại các nước này, nhân viên CTXH cũng hỗ trợ trẻ theo đúng chức năng và nhiệm vụ của một nhân viên CTXH như quản lý trường hợp, tham vấn tâm lý nhưng lồng ghép với đánh giá nhu cầu phúc lợi xã hội và quản lý việc tiếp cận các dịch vụ khác nhau[9]. Nghiên cứu đồng tác giả Sheila B.
Kamerman and Shirley Gatenio Gabel (2006), Social Protection for Children and their Families: A Global Overview (Bảo trợ xã hội cho trẻ em và gia đình của họ: Tổng quan toàn cầu). Tác giả đã mô tả phạm vi và quy mô của các chính sách bảo trợ xã hội và các chương trình ảnh hưởng đến trẻ em và gia đình của họ từ nhiều nước trên thế giới. Nghiên cứu đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về chính sách xã hội bảo vệ trẻ em và gia đình của các nước kém phát triển và đang phát triển ở Mỹ Latinh, Châu Phi và Châu Á. Đồng thời cũng nghiên cứu vai trò của dịch vụ xã hội, các chính sách đối với trẻ em dễ bị tổn thương và các gia đình có nhu cầu đặc biệt như: lao động trẻ em, trẻ HIV / AIDS, trẻ khuyết tật, …Từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ CTXH và phát triển những chính sách hỗ trợ nhóm đối tượng trẻ em dễ bị tổn thương này [41].
UNICEF (2017), Báo cáo phân tích tình hình trẻ em việt nam 2016. Báo cáo phân tích tình hình đã nỗ lực xác định các vấn đề liên quan đến việc thực hiện quyền trẻ em hiện nay tại Việt Nam. Trong xu hướng và mô hình các chỉ số đo lường sự tiến bộ vẫn hiện hữu các thách thức trong việc thực hiện các ưu tiên phát triển quốc gia, các nguyên tắc của công ước CRC, và các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs) mà hiện nay đã được tổng hòa vào các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs). Để kết luận, chương này phản ánh về các vấn đề chủ chốt liên quan đến quyền trẻ em và các ưu tiên thúc đẩy quyền trẻ em trong chương trình nghị sự vì sự phát triển bền vững với mục tiêu hỗ trợ các chủ thể có trách nhiệm và các bên liên quan trong các cuộc thảo luận chính sách.
Việt Nam cần áp dụng nguyên tắc công bằng trong suốt quá trình thực hiện quyền trẻ em và các mục tiêu phát triển bền vững.