Tổng quan nghiên cứu
Trong nền kinh tế tri thức hiện đại, thông tin khoa học và công nghệ (KH&CN) giữ vai trò là nguồn lực chiến lược quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Tại các quốc gia phát triển ở Tây Âu, ngành công nghiệp thông tin duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh gấp 2 đến 3 lần các ngành kinh tế truyền thống và đóng góp tới khoảng 50% tổng giá trị sản xuất công nghiệp từ cuối thế kỷ XX. Tại Việt Nam, sau khi Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/01/2014, nhu cầu khai thác tri thức và tài nguyên số phục vụ phát triển kinh tế - xã hội gia tăng mạnh mẽ. Tuy nhiên, hệ thống thể chế và chính sách phát triển thông tin KH&CN trong nước vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn, chưa bắt kịp yêu cầu hội nhập toàn cầu.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận diện toàn diện thực trạng, xác lập cơ sở lý luận và đề xuất hệ thống chính sách phát triển thông tin KH&CN Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế sâu rộng. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa các luận cứ khoa học về quản trị chính sách thông tin KH&CN; đánh giá thực trạng cơ chế, hạ tầng và dịch vụ thông tin tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia; từ đó đề xuất các nhóm giải pháp đột phá nhằm hoàn thiện khung chính sách quốc gia.
Phạm vi nghiên cứu về thời gian tập trung vào giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2017, thời điểm các văn bản quy phạm pháp luật mới về KH&CN đi vào thực tiễn đời sống. Không gian nghiên cứu bao quát mạng lưới thông tin - thư viện các bộ, ngành, địa phương và trọng tâm là Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp căn cứ khoa học giúp tối ưu hóa 100% quy trình điều phối nguồn tin điện tử dùng chung, mở rộng năng lực kết nối mạng nghiên cứu chuyên dụng và nâng cao tỷ lệ công bố quốc tế của các nhà khoa học Việt Nam trên các hệ thống cơ sở dữ liệu học thuật uy tín.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng đồng bộ hai lý thuyết nền tảng cùng khung phân tích quản lý KH&CN hiện đại:
Thứ nhất, Thuyết khuếch tán công nghệ (Diffusion-oriented Technology Policy) của Lewis M. Branscomb (Đại học Harvard, 1992) khẳng định chính sách thông tin KH&CN là thành tố hữu cơ cốt lõi của chính sách công nghệ quốc gia. Lý thuyết này chỉ rõ thông tin KH&CN đóng vai trò phân phối, tiếp thu và kích hoạt tri thức mới đến mọi chủ thể trong xã hội.
Thứ hai, Lý thuyết chính sách công của PGS.TS. Vũ Cao Đàm định nghĩa chính sách là tập hợp biện pháp được thể chế hóa bởi chủ thể quản lý nhằm tạo ưu đãi, định hướng động cơ của các nhóm xã hội thực hiện mục tiêu chiến lược ưu tiên.
Thứ ba, Khung lý thuyết hội nhập quốc tế về KH&CN của PGS.TS. Mai Hà và các cộng sự, tiếp cận hội nhập qua 5 nguyên tắc chuẩn mực: tính tự nguyện, chấp thuận luật lệ chung, tính hợp chuẩn, cạnh tranh bình đẳng và bảo đảm lợi ích bền vững.
Hệ thống khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 và Nghị định số 11/2014/NĐ-CP gồm:
- Thông tin KH&CN: Tập hợp dữ liệu, số liệu, dữ kiện và tin tức được tạo ra từ hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.
- Nguồn tin KH&CN: Toàn bộ tư liệu được định dạng trên vật mang tin truyền thống (nguồn tin in) và môi trường số (nguồn tin điện tử, cơ sở dữ liệu số).
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN: Hệ thống dữ liệu tổng hợp về tiềm lực, tổ chức, nhân lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN trên quy mô toàn quốc.
- Mạng Nghiên cứu và Đào tạo Việt Nam (VinaREN): Hạ tầng mạng thông tin tiên tiến chuyên dụng kết nối cộng đồng khoa học trong nước với các mạng nghiên cứu khu vực và thế giới.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hai kênh chính: dữ liệu thứ cấp gồm hơn 20 văn bản pháp quy, báo cáo chiến lược ngành thông tin KH&CN; dữ liệu sơ cấp thu thập qua điều tra khảo sát diện rộng bằng bảng hỏi.
Cỡ mẫu khảo sát được thực hiện trên 120 đối tượng là cán bộ quản lý, chuyên gia nghiên cứu, giảng viên đại học và cán bộ thông tin - thư viện tại các viện nghiên cứu, trường đại học và cơ quan quản lý. Số phiếu thu về hợp lệ đạt 100 phiếu, tương ứng tỷ lệ phản hồi 83,3%.
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng nhằm phản ánh khách quan nhu cầu và đánh giá của từng nhóm người dùng tin chuyên biệt. Bảng hỏi gồm 12 câu hỏi đóng và 3 câu hỏi mở, tập trung vào mức độ đáp ứng của nguồn tin, giá thành truy cập cơ sở dữ liệu và hiệu quả của các dịch vụ thông tin.
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích kết hợp giữa thống kê mô tả định lượng và phân tích hệ thống định tính là nhằm đo lường chính xác các chỉ số tương tác thực tế của người dùng tin, đồng thời đối chiếu đa chiều với kinh nghiệm phát triển chính sách thông tin KH&CN từ các quốc gia như Đan Mạch, Hàn Quốc và Ghana. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục trong khung thời gian nghiên cứu từ năm 2014 đến năm 2017.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích số liệu thực chứng từ cuộc khảo sát và báo cáo chuyên ngành đã mang lại 4 phát hiện quan trọng:
Thứ nhất, sự cần thiết của cơ chế mua tập trung nguồn tin điện tử quốc tế. Kết quả khảo sát 100 chuyên gia cho thấy có tới 83,3% ý kiến đánh giá cao vai trò điều phối của Liên hiệp thư viện Việt Nam về các nguồn tin điện tử. Việc đàm phán mua quyền truy cập chung các cơ sở dữ liệu quốc tế lớn như Web of Science (ISI) và Scopus giúp tiết kiệm từ 30% đến 40% kinh phí ngân sách so với hình thức các đơn vị tự mua riêng lẻ.
Thứ hai, hạ tầng mạng thông tin KH&CN quốc gia đạt bước tiến lớn nhưng hiệu suất chưa tối ưu. Mạng VinaREN đã kết nối thành công với mạng tiên tiến châu Á - Thái Bình Dương (APAN), mạng toàn cầu GLORIAD và mạng Á - Âu (TEIN) với băng thông gigabit. Dẫu vậy, hiệu suất khai thác thực tế tại các trường đại học mới chỉ đạt khoảng 45% công suất thiết kế do thiếu cơ chế chia sẻ tài nguyên tính toán và dữ liệu lớn.
Thứ ba, công tác chuẩn hóa thông tin KH&CN thúc đẩy mạnh mẽ hội nhập quốc tế. Việc triển khai cấp mã chuẩn quốc tế ISSN, phát triển Hệ thống Tạp chí Khoa học Việt Nam trực tuyến (VJOL) và xây dựng Cơ sở dữ liệu KH&CN bằng tiếng Anh đã hỗ trợ trực tiếp cho giới học thuật, góp phần làm tăng số lượng bài báo công bố quốc tế chuẩn ISI của Việt Nam với tốc độ bình quân trên 15% mỗi năm trong giai đoạn khảo sát.
Thứ tư, tình trạng cát cứ và hạn chế trong tiếp cận nguồn tin nội sinh. Hơn 60% nhà khoa học được hỏi phản ánh việc tiếp cận toàn văn các báo cáo kết quả đề tài KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước còn gặp nhiều rào cản. Tỷ lệ số hóa và nộp lưu chiểu đầy đủ vào Cơ sở dữ liệu quốc gia chỉ đạt khoảng 65%, dẫn đến lãng phí nguồn lực nghiên cứu.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân căn bản của các tồn tại nêu trên xuất phát từ sự thiếu đồng bộ trong việc thể chế hóa các quy định của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013. Nguồn kinh phí cấp hàng năm cho việc bổ sung tài liệu KH&CN tại các cơ quan thông tin - thư viện còn phân tán, thiếu trọng tâm. So sánh với bài học kinh nghiệm của Đan Mạch và Hàn Quốc, việc thiếu một cơ chế ràng buộc pháp lý chặt chẽ trong chia sẻ tài nguyên thông tin công là rào cản lớn nhất kìm hãm dòng chảy tri thức.
Để tăng tính thuyết phục, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột thể hiện xu hướng tăng trưởng số lượt bạn đọc và số bài báo khoa học được tải về từ hệ thống ISI/Scopus qua các năm. Đồng thời, bảng ma trận phân tích chi phí - lợi ích giữa phương thức phân bổ ngân sách riêng lẻ cho từng viện trường và phương thức mua quyền truy cập tập trung qua Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia sẽ làm nổi bật tính kinh tế vượt trội của mô hình liên hiệp. Kết quả nghiên cứu khẳng định chính sách thông tin đúng đắn không chỉ phục vụ nghiên cứu học thuật thuần túy mà còn là động lực trực tiếp nâng cao hàm lượng tri thức trong sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên các kết luận thực tiễn, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm hoàn thiện chính sách phát triển thông tin KH&CN:
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN. Bộ Khoa học và Công nghệ cần ban hành quy chế bắt buộc về việc đăng ký, giao nộp và kiểm toán dữ liệu nghiên cứu đối với mọi đề tài sử dụng ngân sách nhà nước. Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia chủ trì triển khai số hóa 100% báo cáo nghiệm thu nhiệm vụ KH&CN trước năm 2020, tạo lập kho dữ liệu mở phục vụ trên 50.000 cán bộ nghiên cứu trên toàn quốc.
Thứ hai, tối ưu hóa cơ chế điều hòa, phối hợp bổ sung nguồn tin quốc tế. Mở rộng quy mô Liên hiệp thư viện Việt Nam về các nguồn tin điện tử, phấn đấu tăng tỷ lệ chia sẻ tài nguyên số dùng chung lên 80% trong giai đoạn 2018 - 2022. Giải pháp này giúp cắt giảm tối thiểu 25% tổng chi phí mua trùng lặp cơ sở dữ liệu nước ngoài tại các bộ, ngành và trường đại học.
Thứ ba, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và hiệu quả sử dụng Mạng Nghiên cứu và Đào tạo Việt Nam (VinaREN). Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia phối hợp cùng các viện nghiên cứu đầu ngành mở rộng dải băng thông kết nối quốc tế qua mạng TEIN và APAN, tích hợp các dịch vụ điện toán đám mây và tính toán hiệu năng cao, nâng công suất sử dụng mạng lên trên 75% vào năm 2021.
Thứ tư, đẩy mạnh tiêu chuẩn hóa và hội nhập quốc tế về sản phẩm thông tin KH&CN. Áp dụng chuẩn quốc tế Dublin Core, mã định danh tài liệu số DOI và quy chuẩn ISSN cho toàn bộ các tạp chí khoa học trong nước; nâng cấp cổng thông tin VJOL đáp ứng các tiêu chí thẩm định của Scopus và Web of Science cho ít nhất 10 tạp chí khoa học chuyên ngành mũi nhọn trước năm 2025.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao đối với 4 nhóm đối tượng trọng tâm:
Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học sắc bén và số liệu thực chứng giúp hoàn thiện các thông tư hướng dẫn thực hiện Luật Khoa học và Công nghệ, tối ưu hóa cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước cho nguồn tin điện tử.
Thứ hai, ban lãnh đạo và chuyên viên tại các trung tâm thông tin - thư viện đại học và viện nghiên cứu. Tài liệu hướng dẫn chi tiết quy trình tham gia Liên hiệp thư viện, kỹ thuật chuẩn hóa dữ liệu biên mục quốc tế và mô hình liên kết chia sẻ tài nguyên số nhằm tiết kiệm tối thiểu 30% kinh phí vận hành hàng năm.
Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý KH&CN, Khoa học Thông tin, Quản lý công. Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp phân tích hệ thống, cung cấp hệ thống lý luận phong phú về chính sách phát triển thông tin trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Thứ tư, doanh nghiệp KH&CN và các tổ chức khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Công trình cung cấp giải pháp khai thác kho dữ liệu sáng chế, tiêu chuẩn kỹ thuật và kết quả nghiên cứu ứng dụng từ Cơ sở dữ liệu quốc gia phục vụ trực tiếp cho hoạt động R&D và thương mại hóa sản phẩm.
Câu hỏi thường gặp
Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 quy định vị trí của thông tin KH&CN như thế nào? Luật số 29/2013/QH13 cùng Nghị định 11/2014/NĐ-CP xác định thông tin KH&CN là nguồn tài nguyên quốc gia chiến lược. Mọi kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách đều bắt buộc phải đăng ký, lưu giữ và chia sẻ công khai tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia nhằm phục vụ quản lý và phát triển kinh tế - xã hội.
Mô hình Liên hiệp thư viện điện tử mang lại hiệu quả kinh tế ra sao? Thực tế khảo sát trên 100 chuyên gia khẳng định mô hình liên hiệp mua chung quyền truy cập cơ sở dữ liệu quốc tế như ISI/Scopus giúp tiết kiệm từ 30% đến 40% chi phí so với mua lẻ. Phương thức này còn mở rộng quyền tiếp cận tri thức chất lượng cao cho hơn 40 trường đại học và viện nghiên cứu thành viên.
Mạng Nghiên cứu và Đào tạo Việt Nam (VinaREN) giữ chức năng gì trong hội nhập? VinaREN là hạ tầng thông tin băng thông rộng chuyên dụng kết nối các nhà khoa học Việt Nam với mạng TEIN (Á - Âu) và APAN (châu Á - Thái Bình Dương). Mạng hỗ trợ truyền dẫn dữ liệu nghiên cứu lớn, hội nghị truyền hình chuẩn nét cao và điều trị y tế từ xa giữa các trung tâm nghiên cứu quốc tế.
Tiêu chuẩn hóa tạp chí khoa học trực tuyến (VJOL) có ý nghĩa gì đối với hội nhập? Tiêu chuẩn hóa hệ thống VJOL theo chuẩn quốc tế ISSN và tích hợp mã DOI giúp các công bố khoa học trong nước được nhận diện trên toàn cầu. Cơ chế này đã tạo đòn bẩy thúc đẩy số lượng công bố quốc tế chuẩn ISI của các nhà khoa học Việt Nam tăng trưởng vượt bậc trên 15% mỗi năm.
Giải pháp nào giúp khắc phục tình trạng thiếu hụt dữ liệu nghiên cứu nội sinh? Giải pháp đột phá là thể chế hóa quy định nộp lưu chiểu báo cáo toàn văn trước khi thanh quyết toán đề tài nghiên cứu. Đồng thời, Cục Thông tin KH&CN Quốc gia cần xây dựng cổng truy cập mở cho Cơ sở dữ liệu quốc gia, nâng tỷ lệ tích hợp dữ liệu nhiệm vụ nghiên cứu lên 100% thay vì mức 65% như trước đây.
Kết luận
- Khẳng định thông tin KH&CN là nguồn tài nguyên chiến lược số một quyết định chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên số.
- Hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận về chính sách thông tin KH&CN dựa trên khung pháp lý của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 cùng các mô hình khuếch tán công nghệ tiên tiến.
- Cung cấp bức tranh thực trạng chân thực qua khảo sát 100 mẫu dữ liệu hợp lệ (tỷ lệ phản hồi 83,3%), chỉ rõ các thành tựu về chuẩn hóa quốc tế lẫn hạn chế về phân tán nguồn tin.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về thể chế, hạ tầng mạng VinaREN, mô hình Liên hiệp thư viện và xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN.
- Xác lập định hướng phát triển nguồn tin số phục vụ hiệu quả công tác lãnh đạo, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo tại doanh nghiệp.
Về lộ trình tiếp theo, các cơ quan chức năng cần tiếp tục đánh giá tác động của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo đối với việc quản trị nguồn tin khoa học trong giai đoạn sau năm 2020.
Các cơ quan quản lý nhà nước, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cần nhanh chóng thiết lập quan hệ liên kết, chia sẻ dữ liệu và chuẩn hóa quy trình dịch vụ nhằm biến nguồn lực thông tin KH&CN thành động lực then chốt cho sự phát triển thịnh vượng của đất nước.