Tổng quan nghiên cứu

Nguồn nhân lực công nghiệp giữ vai trò nòng cốt trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, theo các đánh giá vĩ mô, cả nước hiện mới có khoảng 30% đến 35% lực lượng lao động qua đào tạo chính quy, trong đó nhóm có trình độ cao chỉ đáp ứng được khoảng 20% đến 25% yêu cầu thực tế của doanh nghiệp. Tại tỉnh An Giang, giai đoạn 2015 - 2020 ghi nhận tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ khi mỗi năm giải quyết việc làm cho hơn 30.000 lao động, giữ tỷ lệ thất nghiệp thành thị dưới 4%. Cùng với đó, hệ thống các khu công nghiệp trên địa bàn đã có bước tăng trưởng vượt bậc: nếu năm 2018 chỉ có 8 doanh nghiệp với 600 lao động thì đến năm 2021 đã phát triển lên 25 doanh nghiệp thu hút 13.366 công nhân làm việc.

Dù số lượng tăng nhanh, việc thực hiện chính sách phát triển đội ngũ công nhân tại An Giang đang đối mặt với nhiều rào cản lớn. Phần lớn người lao động chuyển dịch trực tiếp từ sản xuất nông nghiệp sang công nghiệp mang tính tự phát, thiếu hụt kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp chưa cao và đời sống còn nhiều bấp bênh với mức lương cơ bản trung bình khoảng 4.000.000 đồng/tháng. Luận văn tập trung nghiên cứu toàn diện việc thực thi chính sách phát triển đội ngũ công nhân tại 03 khu công nghiệp trọng điểm gồm Khu công nghiệp Bình Hòa, Khu công nghiệp Bình Long và Khu công nghiệp Xuân Tô trong giai đoạn 2015 - 2020. Mục tiêu nghiên cứu là làm rõ khoảng cách giữa quy định chính sách và kết quả vận hành thực tế, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện phúc lợi và thúc đẩy chỉ số cạnh tranh lao động của tỉnh An Giang đến năm 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên sự tích hợp giữa lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và các lý thuyết phân tích chính sách công hiện đại. Hai thuộc tính cơ bản của giai cấp công nhân về phương thức sản xuất công nghiệp và địa vị trong quan hệ sản xuất được vận dụng làm nền tảng định vị vai trò của lực lượng công nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Khung phân tích chính sách công của luận văn vận dụng trực tiếp Lý thuyết chu trình chính sách của Mazmanian và Sabatier kết hợp với mô hình của Thomas Dye và William N. Dunn. Lý thuyết này phân định rõ hai chức năng cốt lõi của công cụ chính sách là điều chỉnh hành vi và phân bổ nguồn lực. Đồng thời, nghiên cứu áp dụng mô hình đánh giá thực thi chính sách của Wayne Hayes với 4 trạng thái vận hành để giải thích mức độ hiệu quả khi triển khai chính sách tại địa phương. Các khái niệm trung tâm được chuẩn hóa bao gồm: Chính sách công, Thực thi chính sách công, Đội ngũ công nhân khu công nghiệp, Phát triển nhân lực công nghiệp và An sinh xã hội công nhân.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong khung thời gian từ năm 2015 đến năm 2020. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ hệ thống văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, các báo cáo chuyên đề của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Liên đoàn Lao động tỉnh An Giang.

Để đảm bảo tính xác thực và đại diện cao, tác giả tiến hành khảo sát thực địa với cỡ mẫu 350 công nhân lao động và 25 cán bộ quản lý doanh nghiệp, đại diện công đoàn cơ sở tại 3 khu công nghiệp Bình Hòa, Bình Long và Xuân Tô. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên thuận tiện được áp dụng theo các nhóm ngành nghề chủ lực như chế biến thủy sản, may mặc, da giày và cơ khí. Việc lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp phương pháp diễn giải quy nạp và so sánh đối chiếu giúp lượng hóa chính xác thực trạng tiền lương, điều kiện an toàn lao động và nhu cầu đào tạo, loại bỏ các định kiến chủ quan trong quá trình đánh giá thực thi chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô đội ngũ công nhân tăng trưởng đột biến nhưng chất lượng và cơ cấu kỹ năng chưa theo kịp. Số lượng lao động trong các khu công nghiệp tăng hơn 22 lần, từ 600 người năm 2018 lên 13.366 người vào năm 2021. Lao động nữ chiếm tỷ lệ áp đảo với hơn 9.000 người, tương đương trên 67% tổng lực lượng lao động. Đa số tập trung ở các ngành gia công thâm dụng lao động giản đơn như may mặc và chế biến thủy sản, trong khi tỷ lệ công nhân kỹ thuật bậc cao chỉ chiếm chưa đầy 15%.

Thứ hai, tiền lương và cơ cấu thu nhập chưa đảm bảo tích lũy bền vững. Mức lương cơ bản trung bình đạt khoảng 4.000.000 đồng/tháng, tổng thu nhập bình quân sau khi cộng các khoản trợ cấp và tăng ca đạt từ 4,5 đến 5,0 triệu đồng/tháng. Trong cơ cấu thu nhập, tiền lương cơ bản chiếm từ 70% đến 74%, còn lại 26% đến 30% là phụ cấp chuyên cần, xăng xe, nhà ở. Kết quả khảo sát cho thấy chỉ có khoảng 10% người lao động có khả năng tích lũy tài chính hàng tháng, số còn lại chịu áp lực lớn về chi phí sinh hoạt.

Thứ ba, các thiết chế an sinh xã hội bước đầu hình thành nhưng quy mô còn khiêm tốn. Tỉnh đã xây dựng Trường Mầm non Công đoàn tại Khu công nghiệp Bình Hòa với tổng mức đầu tư trên 14 tỷ đồng, phục vụ khoảng 350 con em công nhân và giảm tối thiểu 10% học phí cho đoàn viên. Dự án nhà ở xã hội quy mô 600 căn trên diện tích 26.000 m2 và 100 khu nhà tập thể đã được cấp phép triển khai.

Thứ tư, công tác đào tạo và an toàn vệ sinh lao động còn nhiều bất cập. Toàn tỉnh có 29 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, tuy nhiên năm 2018 mới chỉ ký kết được 11 hợp đồng đào tạo theo đơn đặt hàng doanh nghiệp với 30 lớp cho 1.050 học viên. Trong giai đoạn 2015 - 2020, toàn tỉnh đã xảy ra 5 vụ tai nạn lao động nghiêm trọng tại 5 doanh nghiệp khiến 3 người tử vong, phần lớn xuất phát từ vi phạm quy chuẩn an toàn tại nơi làm việc.

Thảo luận kết quả

Khi mô hình hóa dữ liệu khảo sát qua biểu đồ tương quan giữa tăng trưởng doanh thu và biến động thu nhập, bức tranh đối lập hiện lên rất rõ nét. Năm 2020, 14 doanh nghiệp tại Khu công nghiệp Bình Hòa đạt doanh thu 2.756 tỷ đồng và 9 doanh nghiệp tại Khu công nghiệp Bình Long đạt 1.018 tỷ đồng, song thu nhập của người lao động tăng trưởng chậm và chịu áp lực trượt giá. Nguyên nhân chính là do doanh nghiệp duy trì mô hình sản xuất gia công giá trị gia tăng thấp, chỉ tận dụng nguồn lao động nông nhàn giá rẻ thay vì đầu tư chiều sâu vào công nghệ.

Kết quả nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với các báo cáo thực trạng đời sống công nhân của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2012) cũng như khảo sát của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2016). Điểm nghẽn lớn nhất tại An Giang là sự thiếu vắng các đề án đào tạo chuyên biệt và cơ chế chia sẻ chi phí đào tạo giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Việc 67,8% an toàn vệ sinh viên được tập huấn vào năm 2019 cho thấy nỗ lực của chính quyền, nhưng mạng lưới này hoạt động kiêm nhiệm nên tính giám sát chưa cao, dẫn đến tình trạng nợ đọng bảo hiểm xã hội và vi phạm thời giờ làm việc của lao động nữ vẫn tiếp diễn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách đào tạo nghề và nâng cấp kỹ năng cho công nhân. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội An Giang chủ trì phối hợp với Ban Quản lý Khu kinh tế và 29 cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn xây dựng Đề án đào tạo kỹ thuật chuyên sâu giai đoạn 2022 - 2025. Mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tại các khu công nghiệp đạt 50% vào năm 2025, mở rộng quy mô đào tạo theo đơn đặt hàng lên 2.500 đến 3.000 học viên mỗi năm, hỗ trợ trực tiếp 50% học phí cho công nhân học văn hóa và tay nghề nâng cao.

Thứ hai, cải thiện chính sách tiền lương, nhà ở và bảo đảm an sinh xã hội. Liên đoàn Lao động tỉnh phối hợp cùng Sở Xây dựng và các doanh nghiệp hạ tầng đẩy nhanh tiến độ hoàn thành 600 căn hộ nhà ở xã hội tại Khu công nghiệp Bình Hòa trước năm 2024; quy hoạch thêm 500 căn hộ giá rẻ giai đoạn 2025 - 2027. Tăng cường thương lượng thỏa ước lao động tập thể nhằm bảo đảm mức thu nhập thực tế tăng tối thiểu 10% mỗi năm, mở rộng gói hỗ trợ gửi trẻ cho 100% lao động nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

Thứ ba, siết chặt kỷ cương quản lý an toàn vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội. Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thiết lập cơ chế thanh tra định kỳ 100% doanh nghiệp chế biến thủy sản, dệt may từ năm 2022. Kiên quyết xử lý dứt điểm tình trạng nợ đọng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; đặt mục tiêu giảm 100% số vụ tai nạn lao động chết người. Kiện toàn và chuẩn hóa năng lực cho toàn bộ 1.860 an toàn vệ sinh viên tại 25 doanh nghiệp.

Thứ tư, phát triển hệ thống thiết chế văn hóa và tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp. Đảng ủy Khối Doanh nghiệp tỉnh và Công đoàn các khu công nghiệp An Giang triển khai mở rộng mô hình Tổ tự quản nhà trọ công nhân; tận dụng hiệu quả 2 sân bóng đá, 2 sân bóng chuyền đã đầu tư tại Khu công nghiệp Bình Hòa, Bình Long để tổ chức sân chơi định kỳ. Phấn đấu mỗi năm bồi dưỡng và kết nạp Đảng từ 50 đến 80 công nhân ưu tú trực tiếp sản xuất.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách cấp tỉnh, bao gồm Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban Quản lý Khu kinh tế. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và khung giải pháp đồng bộ để xây dựng các đề án phát triển nguồn nhân lực công nghiệp và quy hoạch hạ tầng an sinh xã hội địa phương.

Nhóm 2: Hệ thống tổ chức Công đoàn các cấp, đặc biệt là Liên đoàn Lao động tỉnh An Giang và Công đoàn các khu công nghiệp. Luận văn là cẩm nang thực tiễn hỗ trợ kỹ năng thương lượng thỏa ước lao động tập thể, bảo vệ quyền lợi hợp pháp về thai sản, tiền lương và nâng cao đời sống tinh thần cho đoàn viên.

Nhóm 3: Ban Giám đốc và bộ phận quản trị nhân sự của các doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp. Nghiên cứu giúp lãnh đạo doanh nghiệp nhận diện rủi ro biến động lao động, thiết lập chính sách đãi ngộ hợp lý, quy trình an toàn lao động chuẩn hóa nhằm giữ chân nhân sự gắn bó lâu dài.

Nhóm 4: Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Chính sách công, Quản lý công, Xã hội học lao động, Kinh tế phát triển. Luận văn cung cấp mô hình nghiên cứu điển hình về phương pháp đánh giá thực thi chính sách công tại các địa bàn công nghiệp hóa chuyển tiếp.

Câu hỏi thường gặp

Thực trạng chất lượng tay nghề công nhân tại các khu công nghiệp An Giang giai đoạn 2015 - 2020 ra sao? Phần lớn công nhân có xuất thân từ nông dân, lao động phổ thông chưa qua đào tạo chiếm tỷ trọng lớn. Trình độ tay nghề chủ yếu tích lũy qua kinh nghiệm thực tế tại dây chuyền may mặc, thủy sản, thiếu hụt nghiêm trọng thợ kỹ thuật bậc cao và cán bộ quản trị chuyền giỏi.

Mức thu nhập bình quân của công nhân các khu công nghiệp An Giang có đáp ứng đủ nhu cầu sống không? Thu nhập trung bình của người lao động đạt khoảng 4,5 đến 5,0 triệu đồng/tháng (lương cơ bản khoảng 4,0 triệu đồng/tháng). Mức thu nhập này chỉ vừa đủ trang trải các nhu cầu sinh hoạt tối thiểu, khiến chỉ có khoảng 10% công nhân có khả năng tích lũy tài chính.

Tỉnh An Giang đã triển khai những mô hình an sinh tiêu biểu nào cho công nhân khu công nghiệp? Địa phương đã khánh thành Trường Mầm non Công đoàn 14 tỷ đồng phục vụ 350 trẻ tại Khu công nghiệp Bình Hòa, cấp phép dự án 600 căn nhà ở xã hội, hỗ trợ 108 căn chung cư trả chậm và nhân rộng mô hình Tổ tự quản công nhân tại các khu nhà trọ.

Nguyên nhân chính dẫn đến các vụ tai nạn lao động tại các khu công nghiệp An Giang là gì? Nguyên nhân chủ yếu do một số doanh nghiệp vi phạm nguyên tắc an toàn lao động, chưa huấn luyện đầy đủ kỹ năng vận hành máy móc cho công nhân và bố trí cán bộ phụ trách an toàn vệ sinh lao động hoạt động theo hình thức kiêm nhiệm, thiếu chuyên trách.

Luận văn đề xuất giải pháp trọng tâm nào để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đến năm 2025? Giải pháp cốt lõi là liên kết chặt chẽ giữa 29 cơ sở giáo dục nghề nghiệp và 25 doanh nghiệp khu công nghiệp để đào tạo theo đơn đặt hàng, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50% và mở rộng quy mô đào tạo từ 2.500 đến 3.000 lượt công nhân mỗi năm.

Kết luận

  • Đội ngũ công nhân các khu công nghiệp tỉnh An Giang tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng (đạt 13.366 người vào năm 2021 tại 25 doanh nghiệp) nhưng chất lượng tay nghề và tác phong công nghiệp vẫn là điểm nghẽn lớn.
  • Thu nhập trung bình từ 4,5 đến 5,0 triệu đồng/tháng khiến đời sống công nhân còn bấp bênh, tỷ lệ có tích lũy tài chính chỉ đạt khoảng 10%.
  • Các thiết chế nhà ở, trường mầm non và sân chơi văn hóa bước đầu phát huy hiệu quả nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu của hơn 9.000 lao động nữ.
  • Công tác an toàn lao động và bảo hiểm xã hội cần được siết chặt nhằm xóa bỏ các nguy cơ tai nạn lao động và nợ đọng chế độ của người lao động.
  • Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là hệ thống hóa khung lý luận thực thi chính sách công và cung cấp bộ dữ liệu khảo sát thực chứng toàn diện tại 3 khu công nghiệp Bình Hòa, Bình Long, Xuân Tô.

Lộ trình triển khai các giải pháp cần được thực hiện quyết liệt trong giai đoạn 2022 - 2025 với sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền tỉnh, tổ chức công đoàn và cộng đồng doanh nghiệp. Các nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo doanh nghiệp hãy chủ động tham khảo chi tiết toàn văn công trình nghiên cứu để xây dựng kế hoạch hành động cụ thể, góp phần phát triển giai cấp công nhân An Giang hiện đại và bền vững.