CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN VỀ MẠNG 4G LTE-A 1. Xu hướng phát triển của mạng thông tin di động [1] Khi các ngành thông tin quảng bá bằng vô tuyến phát triển thì ý tưởng về một thiết bị điện thoại không dây đã ra đời, là tiền thân của mạng thông tin di động sau này. Năm 1946, mạng điện thoại vô tuyến đầu tiên được thử nghiệm tại St. Louis, bang Missouri của Mỹ.
Sau những năm 50, việc phát minh ra chất bán dẫn cũng đã có những ảnh hưởng rất lớn đến lĩnh vực thông tin di động. Ứng dụng của các linh kiện bán dẫn vào lĩnh vực thông tin di động đã cải thiện được một số nhược điểm mà trước đây chưa làm được. Thế hệ thông tin di động không dây thứ 1 là thế hệ thông tin tương tự sử dụng công nghệ đa truy nhập phân chia theo tần số (FDMA). Thế hệ thứ 2 sử dụng kỹ thuật số với công nghệ đa truy nhập phân chia theo thời gian (TDMA) và phân chia theo mã (CDMA).
Thế hệ thứ 3 ra đời đánh giá sự nhảy vọt nhanh chóng cả về dung lượng và ứng dụng so với các thế hệ trước đó, với khả năng cung cấp các dịch vụ đa phương tiện trên nền tảng chuyển mạch gói. Đây là thế hệ thông tin di động đang được triển khai ở nhiều quốc gia trên thế giới.1 dưới đây thể hiện quá trình hình thành và phát triển của các hệ thống thông tin di động 1G-2G-3G và sau 3G.1: Quá trình phát triển các công nghệ thông tin di động 3 1.1 Hệ thống thông tin di động thế hệ thứ nhất (1G) Những hệ thống thông tin di động đầu tiên, hiện nay được gọi là thế hệ thứ nhất (1G), sử dụng công nghệ analog đa truy nhập phân chia theo tần số (FDMA) để truyền kênh thoại trên sóng vô tuyến đến thuê bao điện thoại di động. Với công nghệ này, khách hàng có thể sử dụng được dải tần đã gán cho họ mà không bị trùng lặp nhờ việc chia phổ tần ra thành nhiều đoạn. Một ví dụ điển hình của hệ thống FDMA là hệ thống điện thoại di dộng tiên tiến (Advanced Mobile Phone System - AMPS).
Đặc điểm: - Mỗi MS được cấp phát đôi kênh liên lạc suốt thời gian thông tuyến. - Nhiễu giao thoa do tần số các kênh lân cận nhau là đáng kể. - BTS phải có bộ thu phát riêng làm việc với mỗi MS. Hệ thống thông tin di động thế hệ 1 sử dụng phương pháp đa truy nhập đơn giản.
Tuy nhiên hệ thống không thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của người dùng về cả dung lượng và tốc độ. Vì các khuyết điểm trên mà nguời ta đưa ra hệ thống thông tin di dộng thế hệ 2 ưu điểm hơn thế hệ 1 về cả dung lượng và các dịch vụ được cung cấp.2 Hệ thống thông tin di động thế hệ thứ hai (2G) Lịch sử hình thành của hệ thống thông tin di động 2G (GSM) bắt đầu từ một đề xuất vào năm 1982 của Nordic Telecom và Netherlands tại CEPT (Conference of European Post and Telecommunication), để phát triển một chuẩn tế bào số mới đáp ứng với nhu cầu ngày càng tăng của mạng di động Châu Âu. Mạng thông tin di động GSM đầu tiên được thiết kế hoạt động ở dải tần 890-915 MHz và 935-960 MHz, hiện nay là 1. Một số tiêu chuẩn chính của hệ thống là: - Chất lượng âm thoại chính thực sự tốt.
- Giá dịch vụ và thuê bao giảm. - Hỗ trợ liên lạc di động quốc tế. - Khả năng hỗ trợ thiết bị đầu cuối trao tay. - Hỗ trợ các phương tiện thuận lợi và dịch vụ mới.
4 - Khả năng tương thích ISDN. Ở Việt Nam, hệ thống thông tin di động số GSM được đưa vào triển khai từ năm 1993, và hiện đang được Tổng công ty viễn thông MobiFone khai thác rất hiệu quả với mạng thông tin di động MobiFone theo tiêu chuẩn GSM. Tất cả hệ thống thông tin di động thế hệ 2 đều sử dụng kỹ thuật điều chế số, với 2 phương pháp đa truy nhập: - Đa truy nhập phân chia theo thời gian (Time Division Multiple Access - TDMA): phục vụ các cuộc gọi theo các khe thời gian khác nhau. - Đa truy nhập phân chia theo mã (Code Division Multiple Access - CDMA): phục vụ các cuộc gọi theo các chuỗi mã khác nhau.
Công nghệ điện thoại di động GSM hiện nay đang tồn tại nhiều hạn chế, và sẽ sớm được thay thế bằng những công nghệ tiên tiến hơn, hỗ trợ tối đa các dịch vụ như Internet hay truyền hình. Với các công nghệ thế hệ mới như 3G, 4G, các nhà khai thác mạng có thể cung cấp nhiều dịch vụ dữ liệu cho các khách hàng của mình, qua đó tăng đáng kể doanh thu trung bình trên một thuê bao.3 Hệ thống thông tin di động thế hệ thứ ba (3G) Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và các dịch vụ thông tin di động công nghệ cao, ngay từ đầu những năm đầu của thập kỷ 90, hệ thống thông tin di động thế hệ thứ ba đã được tiến hành nghiên cứu và hoạch định. Ở thế hệ thứ ba này, các hệ thống thông tin di động có xu thế hoà nhập thành một tiêu chuẩn duy nhất và có khả năng phục vụ ở tốc độ bit lên đến 2Mbit/s. Để phân biệt với các hệ thống thông tin di động băng hẹp hiện nay, các hệ thống thông tin di động thế hệ thứ ba này được gọi là các hệ thống thông tin di động băng rộng.
Nhiều tiêu chuẩn cho hệ thống thông tin di động thế hệ thứ ba đã được đề xuất, trong đó 2 hệ thống W- CDMA và CDMA2000 được ITU chấp thuận và đưa vào hoạt động trong những năm đầu của những thập kỷ 2000. Các hệ thống này đều sử dụng công nghệ CDMA, cho phép thực hiện tiêu chuẩn toàn thế giới cho giao diện vô tuyến của hệ thống thông tin di động thế hệ thứ ba: 5 *W-CDMA (Wideband Code Division Multiple Access) là sự nâng cấp của các hệ thống thông tin di động thế hệ 2 sử dụng công nghệ TDMA như: GSM, IS- 136. *CDMA2000 là sự nâng cấp của hệ thống thông tin di động thế hệ 2 sử dụng công nghệ CDMA: IS-95. Hệ thống W-CDMA (hiện đang được triển khai tại cả ba nhà khai thác di động lớn tại Viêt Nam), được xây dựng trên cơ sở mạng GPRS.
Về mặt chức năng, có thể chia cấu trúc mạng W-CDMA ra làm hai phần: mạng lõi và mạng truy nhập vô tuyến (UTRAN), trong đó mạng lõi sử dụng toàn bộ cấu trúc phần cứng của mạng GPRS còn mạng truy nhập vô tuyến là phần nâng cấp của W-CDMA. Từ quan điểm chuẩn hóa, cả thiết bị đầu cuối 3G (UE) và UTRAN đều bao gồm những giao thức mới được thiết kế dựa trên công nghệ vô tuyến W-CDMA, trái lại mạng lõi lại được định nghĩa hoàn toàn dựa trên GSM. Điều này cho phép hệ thống W- CDMA phát triển mang tính toàn cầu trên cơ sở công nghệ GSM. Mô hình cấu trúc một mạng di động W-CDMA được thể hiện như hình vẽ 1.2: Cấu trúc mạng W-CDMA 6 1.2 Kiến trúc mạng thông tin di động thế hệ thứ tư 4G LTE-A 1.1 Kiến trúc mạng thông tin di động thế hệ thứ tư 4G LTE 1.1 Tổng quan về hệ thống thông tin di động 4G LTE LTE là hệ thống thông tin băng thông rộng thế hệ thứ tư, được định nghĩa bởi ITU-R trong Release 8.
3GPP đặt ra yêu cầu rất cao cho LTE, bao gồm việc giảm chi phí cho mỗi bit thông tin, cung cấp các dịch vụ tốt hơn, sử dụng linh hoạt, hiệu quả các băng tần hiện có và băng tần mới, đơn giản hóa kiến trúc mạng với các giao tiếp mở và giảm đáng kể năng lượng tiêu thụ ở thiết bị đầu cuối. Các mục tiêu của công nghệ có thể được trình bày như sau: - Tốc độ đỉnh tức thời với băng thông 20MHz: ➢ Tải lên: 50 Mbps. ➢ Tải xuống: 100 Mbps. - Dung lượng dữ liệu truyền tải trung bình của một người dùng trên 1MHz so với mạng HSDPA Rel.6: ➢ Tải lên: gấp 2 đến 3 lần.
➢ Tải xuống: gấp 3 đến 4 lần. - Hoạt động tối ưu với tốc độ di chuyển của thuê bao là 0-15 km/h. Vẫn hoạt động tốt với tốc độ từ 15-120 km/h. Vẫn duy trì được hoạt động khi thuê bao di chuyển với tốc độ từ 120-350 km/h (thậm chí 500 km/h tùy băng tần).
- Các chỉ tiêu trên phải đảm bảo trong bán kính vùng phủ sóng 5km, giảm một chút trong phạm vi đến 30km. Từ 30-100km thì không hạn chế. - Độ dài băng thông linh hoạt: có thể hoạt động ở nhiều băng tần cả chiều lên và chiều xuống. Hỗ trợ cả hai trường hợp độ dài băng lên và băng xuống bằng nhau hoặc không.2 Kiến trúc mạng LTE Như đã đề cập ở trên, mạng di động LTE được thiết kế để hỗ trợ cho các dịch vụ chuyển mạch gói, đối lập với chuyển mạch kênh truyền thống.
Mục tiêu của công nghệ hướng tới việc cung cấp một kết nối IP giữa các UE (User Equipment) và PDN (Packet Data Network), duy trì liên tục trên những ứng dụng người dùng trong 7 suốt quá trình di chuyển. LTE cùng với SAE tạo thành hệ thống mạng gói cải tiến EPS (Evolved Packet System). Kiến trúc mạng tổng quan Cấu trúc cơ bản mạng lưới LTE, với các thành phần chính là mạng lõi và mạng truy nhập vô tuyến LTE, được thể hiện như ở hình vẽ 1. So sánh với UMTS, mạng vô tuyến LTE có cấu trúc thành phần ít phức tạp hơn.3: Cấu trúc tổng quan mạng LTE Một trong những mục tiêu hướng tới của công nghệ LTE là tối thiểu hóa số lượng các thành phần mạng.
Do đó, trong mô hình cấu trúc này, các RNC đã được gỡ bỏ. Chức năng của các trạm điều khiển sẽ được chuyển một phần sang các trạm cơ sở, và một phần sang các nút Gateway của mạng lõi. Để phân biệt với các trạm cơ sở UMTS, các trạm cơ sở của LTE được gọi là Enhanced NodeB (eNodeB). Các trạm cơ sở này sẽ thực hiện chức năng quản lí dữ liệu truyền tải một cách độc lập, đồng thời bảo đảm chất lượng dịch vụ.4 dưới đây thể hiện sự chuyển đổi trong cấu trúc mạng từ W-CDMA (UMTS) sang LTE.4: Sự chuyển đổi trong cấu trúc mạng từ WCDMA 3G sang LTE Các thành phần mạng cơ bản: • eNodeB: Trạm thu phát sóng cơ sở trong mạng LTE • MME (Mobility Management Entity): chịu trách nhiệm xử lý những chức năng mặt bằng điều khiển, liên quan đến quản lý thuê bao và quản lý phiên.
• Gateway dịch vụ (Serving Gateway-SGW): là vị trí kết nối dữ liệu gói với E- UTRAN.