Nghiên cứu tương quan bồi tụ - xói lở bờ biển từ Cửa Ba Lạt đến Cửa Đáy

Luận văn phân tích hiện trạng, nguyên nhân bồi tụ và xói lở bờ biển từ Cửa Ba Lạt đến Cửa Đáy, đề xuất các giải pháp khoa học và bền vững.

Chuyên ngành

Địa Chất Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2015

76
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Hiện Tượng Bồi Tụ và Xói Lở Bờ Biển Ba Lạt Đáy

Bờ biển khu vực từ cửa Ba Lạt đến cửa Đáy là một trong những vùng biển phức tạp nhất tại Việt Nam, nơi diễn ra những biến động địa hình đáng kể. Hiện tượng bồi tụ và xói lở bờ biển tại đây không chỉ ảnh hưởng đến môi trường sinh thái mà còn tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế xã hội của cộng đồng địa phương. Nghiên cứu của Đỗ Mạnh Tuân từ Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội đã khám phá ra những tương quan quan trọng giữa các yếu tố địa chất, thủy văn và kiến tạo trong việc hình thành nên những biến động này. Khu vực này có đặc điểm riêng biệt với sự tương tác giữa dòng chảy sông Hồng, tác động của sóng biển và quá trình kiến tạo địa mạo. Việc hiểu rõ những nguyên nhân sâu xa của bồi tụ và xói lở là tiền đề để đề xuất những giải pháp phòng chống hiệu quả.

1.1. Khái Niệm Bồi Tụ Bờ Biển

Bồi tụ bờ biển là quá trình bồi đắp trầm tích do dòng chảy sông và tác động của sóng biển, làm cho đường bờ biển tiến ra phía biển. Tại khu vực cửa Ba Lạt, hiện tượng này diễn ra với tốc độ nhanh chóng do lượng trầm tích khổng lồ từ sông Hồng. Quá trình bồi tụ tạo nên những vùng đất mới, thay đổi đường bờ hiện tại và ảnh hưởng trực tiếp đến quy hoạch phát triển bờ biển.

1.2. Khái Niệm Xói Lở Bờ Biển

Xói lở bờ biển là hiện tượng mất đất liên tục do tác động của sóng, dòng chảy và nước mặn xâm nhập. Ở Nam Định, xói lở gây ra những tổn thất đáng kể, đe dọa nhân dân và cơ sở hạ tầng. Sự mất cân bằng giữa quá trình bồi tụ và xói lở là vấn đề cốt lõi cần được giải quyết.

II. Điều Kiện Tự Nhiên Và Địa Chất Khu Vực Cửa Ba Lạt Đáy

Khu vực từ cửa Ba Lạt đến cửa Đáy nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, một trong những khu vực có điều kiện tự nhiên phức tạp nhất. Địa hình khu vực này được hình thành từ quá trình bồi đắp trầm tích trong suốt thời kỳ Đệ tứ, đặc biệt là Holocen. Các trầm tích chủ yếu bao gồm cát, bùn và sét, phân bố theo những dải song song với bờ biển. Cấu trúc địa chất được ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các rạn lớn, tạo nên các khối tăng và sụt bậc. Thủy văn khu vực được kiểm soát bởi dòng chảy sông Hồng, các sông phụ như sông Ba Lạt, sông Đáy và tác động của thủy triều. Độ mặn nước tăng từ đất liền ra biển, tạo nên một gradient tinh mặn phức tạp.

2.1. Đặc Điểm Địa Tầng Đệ Tứ

Trầm tích Đệ tứ ở khu vực này ghi nhận những thay đổi đáng kể về thành phần và tính chất. Thời kỳ Pleistocen muộn được đặc trưng bởi những trầm tích mịn, trong khi Holocen là giai đoạn bồi đắp chủ yếu. Cột địa tầng trầm tích cho thấy sự luân phiên giữa các lớp cát và bùn, phản ánh những biến động của mực nước biển.

2.2. Kiến Tạo Và Địa Động Lực

Kiến tạo khu vực vẫn đang hoạt động, với các rạn phôi lúc đang tác động lên địa hình. Những hoạt động này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình bồi tụ và xói lở, tạo nên những sự bất ổn địa chất. Địa động lực hiện đại làm thay đổi độ cao địa hình, ảnh hưởng đến sự dịch chuyển trầm tích.

III. Hiện Trạng Biến Động Đường Bờ Từ Ba Lạt Đến Đáy

Biến động đường bờ tại khu vực này thể hiện rõ sự không cân bằng giữa các quá trình địa chất. Thông qua phân tích ảnh vệ tinh Landsat từ 1988 đến 2011, nghiên cứu cho thấy tốc độ bồi tụ tại cửa Ba Lạt đạt mức đáng kể, với đường bờ tiến ra biển hàng năm. Ngược lại, bờ biển Nam Định trải qua xói lở với tốc độ nguy hiểm. Hiện tượng này không phải là ngẫu nhiên mà là kết quả của sự phân bổ trầm tích không đều và tác động của dòng chảy沿bờ. Những dấu tích lịch sử như nhà thờ Văn Lý ở Hải Lý, Hải Hậu chứng minh cho sự thay đổi đáng kể của bờ biển. Sự bồi tụ nhanh chóng ở cửa sông tạo ra những vùng đất mới, thay đổi hình dáng bờ biển.

3.1. Tốc Độ Bồi Tụ Cửa Ba Lạt

Cửa Ba Lạt chứng kiến tốc độ bồi tụ ấn tượng, với đường bờ dịch chuyển ra biển một cách liên tục. Quá trình này được hỗ trợ bởi lượng trầm tích khổng lồ từ sông Hồng, tạo nên các bar cátchâu thổ. Dữ liệu địa hình cho thấy sự thay đổi rõ rệt qua các năm, với những vùng cạn nước mới xuất hiện.

3.2. Tốc Độ Xói Lở Bờ Biển Nam Định

Nam Định đối mặt với xói lở bờ biển mạnh mẽ, với tốc độ lên đến vài mét mỗi năm. Sự xói lở này đe dọa đến hạ tầng, nông nghiệp và sinh kế của cư dân. Xu thế xói lở dự kiến sẽ tiếp tục nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời.

IV. Nguyên Nhân Và Giải Pháp Quản Lý Bền Vững

Nguyên nhân của bồi tụ và xói lở rất đa dạng, bao gồm các yếu tố tự nhiên và nhân tạo. Từ phía tự nhiên, dòng chảy sông Hồng mang theo lượng trầm tích khổng lồ, tạo điều kiện cho bồi tụ. Tuy nhiên, tác động của sóng biển, dòng chảy沿bờnước mặn gây ra xói lở. Từ phía nhân tạo, xây dựng đêkhai thác tài nguyên làm thay đổi quy trình tự nhiên. Để giải quyết vấn đề này, cần áp dụng giải pháp tổng hợp. Mở lại dòng chảy sông Sò, xây dựng Tombolo nhân tạođắp đê biển bền vững là những biện pháp công trình hiệu quả. Đồng thời, cần áp dụng quản lý tổng hợp đới bờ để cân bằng giữa phát triển và bảo vệ môi trường.

4.1. Nguyên Nhân Bồi Tụ Và Xói Lở

Bồi tụ xuất phát chủ yếu từ dòng chảy sông mang theo trầm tích dồi dào. Địa hình châu thổ hình thành từ quá trình này. Xói lở lại do sóng biển, dòng chảy沿bờxâm nhập nước mặn. Sự không cân bằng giữa hai quá trình là nguyên nhân chính.

4.2. Giải Pháp Quản Lý Bền Vững

Giải pháp phi công trình như quản lý bền vững tài nguyên và bảo vệ rừng ngập mặn rất quan trọng. Giải pháp công trình bao gồm xây dựng các công trình chắn sóngTombolo nhân tạo. Quái đê lấn biểnmở dòng chảy sông giúp tái phân bố trầm tích hiệu quả hơn.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận – kiến nghị và tài liệu tham khảo cấu trúc của luân văn gồm 4 chƣơng: CHƢƠNG 1 - ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC CỬA SÔNG BA LẠT – CỬA ĐÁY CHƢƠNG 2 - LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 3 - HIỆN TRẠNG BIẾN ĐỘNG ĐƢỜNG BỜ TỪ CỬA BA LẠT ĐẾN CỬA ĐÁY CHƢƠNG 4 - ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU XÓI LỞ VÀ QUẢN LÝ QUỸ ĐẤT 12 CHƢƠNG 1 - ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC CỬA SÔNG BA LẠT – CỬA ĐÁY 1. Vị trí địa lý Vùng cửa sông ven biển tỉnh Nam Định thuộc địa phận 3 huyện Giao Thủy, Hải Hậu và Nghĩa Hƣng (Hình 1.1), nằm giữa hai cửa sông lớn là Cửa Ba Lạt (sông Hồng) và Cửa Đáy (sông Đáy) với đƣờng bời biển dài khoảng 72km, tổng diện tích vùng biển và ven biển vào khoảng 20.800 ha, giới hạn trong khoảng tọa độ địa lý: Từ 19o50’00 đến 20o20’00 Vĩ Bắc Từ 106o00’00 đến 106o40’00 Kinh Đông Giao Cửa Ba Thủy Hải Hậu Nghĩ a Hưn g Cửa Hình 1. Vị trí vùng nghiên cứu Vùng cửa sông ven biển tỉnh Nam Định đƣợc quốc tế và trong nƣớc biết đến với Vƣờn quốc gia Xuân Thủy (bờ phải Cửa Ba Lạt) và khu đất ngập nƣớc cửa sông Đáy có tiềm năng lớn trong hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản, bảo tồn sinh cảnh và đa dạng sinh học, phát triển du lịch và đô thị mới ven biển. Phạm vi vùng nghiên cứu đƣợc xác định: trên đất liền bao gồm các xã nằm dọc theo bờ biển từ 13 cửa Ba Lạt đến cửa Đáy; phần ngập nƣớc đƣợc giới hạn từ đƣờng bờ đến độ sâu 10m nƣớc (Hình 1.

Sơ đồ hành chính vùng cửa sông ven biển Nam Định 1. Khí hậu Khí hậu mang tính chất chung của khí hậu đồng bằng Bắc Bộ, thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông), mùa đông khí hậu khô do chịu tác động của gió mùa đông bắc. Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm của vùng khoảng 23 oC, trong đó có 8 tháng có nhiệt độ trung bình lớn hơn 20oC. Mùa đông, nhiệt độ trung bình của vùng là 18,9oC, nhiệt độ thấp nhất có thể xuống 6 – 7 oC (tháng 2/2008), tháng lạnh nhất trong năm thƣờng là tháng 1 và 2.

Mùa hạ, nhiệt độ trung bình là 27 oC, tháng nóng nhất là tháng 7 và 8, nhiệt độ nóng nhất có thể đến 40oC. 14 Độ ẩm: Độ ẩm không khí của vùng tƣơng đối cao, trung bình năm đạt 80- 85%, ít chênh lệch độ ẩm giữa các tháng, tháng có độ ẩm cao nhất là 90% (tháng 3) và tháng có độ ẩm thấp nhất là 81% (tháng 11), mùa đông có những ngày độ ẩm có thể xuống đến 65%. Chế độ mƣa: Lƣợng mƣa trung bình trong năm từ 1.800mm, phân bố đồng đều trong toàn vùng. Theo lƣợng mƣa, một năm có thể chia ra 2 mùa: mùa mƣa và mùa khô, mùa mƣa của vùng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% lƣợng mƣa cả năm, các tháng mƣa nhiều là 7, 8,9.

Mƣa tập trung trong các tháng này kết hợp với triều cƣờng thƣờng gây ra nhiều thiệt hại cho hoạt động nuôi trồng thủy sản và sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là gây vỡ đê và bờ ao đầm nuôi thủy sản. Mùa khô từ tháng 11 tháng 4 năm sau, lƣợng mƣa chiếm 20% lƣợng mƣa cả năm, các tháng mƣa ít là tháng 12, 1 và 2, trong thời gian này có tháng hầu nhƣ không có mƣa gây ảnh hƣởng đến tình hình sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là việc gieo trồng cây vụ đông. Nắng: Hàng năm trung bình có tới 250 ngày nắng, tổng số giờ nắng từ 1650- 1700 giờ. Vụ hè thu có số giờ nắng cao khoảng 1100 – 1200 giờ, chiếm 70% số giờ nắng trong năm.

Gió: Hƣớng gió thịnh hành thay đổi theo mùa, tốc độ gió trung bình cả năm là 2 – 2,3 m/s. Mùa đông, hƣớng gió thịnh hành là gió đông bắc với tần suất 60- 70%, tốc độ gió trung bình 2,4 – 2,6 m/s, những tháng cuối mùa đông, gió có xu hƣớng chuyển dần về phía đông. Mùa hè, hƣớng gió thịnh hành là gió đông nam, với tần suất 50 – 70%, tốc độ gió trung bình là 1,9 – 2.2 m/s, tốc độ gió cực đại (khi có bão) là 40 m/s, đầu mùa hạ thƣờng xuất hiện các đợt gió khô nóng gây tác động xấu đến cây trồng. Ngoài ra vùng ven biển còn chịu ảnh hƣởng của gió đất (hƣớng thịnh hành là tây nam) và gió biển (hƣớng thịnh hành là đông nam).

Bão: Do nằm trong vùng Vịnh Bắc Bộ, mùa bão tại Nam Định từ tháng 7 đến tháng 9, cực đại vào tháng 8 nên hàng năm thƣờng chịu ảnh hƣởng của bão hoặc áp 15 thấp nhiệt đới, bình quân từ 4 – 6 cơn/năm. Cơn bão số 3 và 5 (năm 2005) kết hợp với triều cƣờng đã gây sạt lở và làm vỡ nhiều tuyến đê biển. Nhìn chung, khí hậu vùng ven biển Nam Định thuận lợi cho sự phát triển của hệ sinh thái động, thực vật và hoạt động du lịch. Thủy văn cửa sông Vùng ven biển tỉnh tỉnh Nam Định có 3 cửa sông lớn, đó là cửa sông Ba Lạt (sông Hồng), cửa sông Ninh Cơ và cửa sông Đáy.

Ngoài ra còn một số cửa sông nhỏ thuộc vùng ven biển huyện Hải Hậu nhƣ sông Sò, sông Hải Hậu và sông Cát (xã Hải Hà, huyện Hải Hậu). Tuy vậy, mật độ sông trong vùng không cao (0,33km/km2) nên khi lũ xảy ra vẫn có hiện tƣợng ngập úng tạm thời tại một số vùng, đặc biệt là đối với vùng ven biển nhu cầu rửa mặn rất lớn, do đó hệ thống sông này cần phải đƣợc tăng cƣờng bằng các kênh mƣơng tƣới tiêu. Hệ thống sông Hồng có vai trò đặc biệt trong việc thành tạo châu thổ Sông Hồng nói chung và vùng ven biển tỉnh Nam Định nói riêng. Tổng lƣợng nƣớc sông Hồng đổ ra cửa Ba Lạt hàng năm là 48,6.

Sau khi qua Sơn Tây, khoảng 37,8% lƣợng bùn cát sông Hồng đƣợc chuyển qua sông Đuống để nhập vào hệ thống sông Thái Bình, còn lại đƣợc phân bố cho các chi lƣu của sông Hồng: 10 - 14% qua sông Luộc, 10 - 12% qua sông Trà Lý, 25 - 30% qua sông Nam Định, 10 - 12% qua sông Ninh Cơ và 30 - 50% qua cửa Ba Lạt (Lƣơng Phƣơng Hậu và nnk, 2002). Có thể thấy lƣợng nƣớc và phù sa sông Hồng vận chuyển chủ yếu qua cửa Ba Lạt và đây là nguồn vật liệu chủ yếu để bồi đắp cửa Ba Lạt tiến ra biển với tốc độ nhanh. Sông Đáy chảy qua Nam Định có chiều dài 82km đƣợc coi là ranh giới phía tây của tỉnh, lƣu lƣợng dòng chảy đo tại trạm Ba Thá là 58,6m3/s. Sông Ninh Cơ chảy qua các huyện phía nam tỉnh Nam Định, bắt nguồn từ phía bắc huyện Xuân Trƣờng, qua Lạc Quần xuống phía nam đổ ra biển tại cửa Lạch Giang.

Sông Ninh Cơ có chiều dài 52km, chiều rộng 400-500m. Hải văn biển Chế độ sóng của khu vực thay đổi theo mùa. Vào mùa lạnh, hƣớng sóng chính ở ngoài khơi là ĐB (61%), Đông (15%), còn ở ven bờ là các hƣớng Đông (34%), ĐB (13%) và ĐN (18%). Vào mùa nóng, các hƣớng sóng thịnh hành ngoài khơi là Nam, TN và Đông với tần suất dao động từ 40 - 75%, trong đó sóng hƣớng Nam chiếm tới 37%.

Độ cao sóng trung bình ngoài khơi là 1,2 - 1,4 m, ở ven bờ là 0,6 - 0,8 m; độ cao sóng cực đại tƣơng ứng là 7,0 - 8,0 m và 5,0 - 6,0 m. Các cấp sóng có độ cao lớn thƣờng xuất hiện khi có bão. Thủy triều tại vùng biển Nam Định thuộc chế độ nhật triều, biên độ triều trung bình từ 1,6 – 1,7m, lớn nhất đạt 3,3m, nhỏ nhất là 0,1m. Ảnh hƣởng của thủy triều đến các sông trong vùng rất lớn.

Thủy triều tác động đến hƣớng chảy của sông ngòi, độ cao thấp của mực nƣớc sông vào lúc triều cƣờng và triều kiệt Khu vực có chế độ nhật triều tƣơng đối thuần nhất tuy nhiên tính nhật triều ở phía nam kém hơn phía bắc cửa Ba Lạt. Độ lớn thủy triều cũng giảm dần từ Bắc xuống Nam. Nếu ở phía bắc trong tháng có 25-27 ngày nhật triều, 3-5 ngày bán nhật triều và độ cao triều trong kỳ nƣớc cƣờng là 2,8 - 3,6 m thì ở phía nam cửa Ba Lạt đến cửa Đáy số ngày nhật triều là 23 - 25 ngày, bán nhật triều là 5 - 7 ngày và độ lớn triều 2 - 3 m. Biên độ triều thấp hơn, số ngày bán nhật triều tăng thuận lợi cho xâm thực và di chuyển trầm tích.

Đó cũng là điều kiện thuận lợi để RNM ở vùng ven biển khu vực này phát triển hơn. Dòng chảy ven bờ của vùng chủ yếu là hƣớng bắc – nam. Tuy nhiên, do sự thay đổi địa hình đƣờng bờ nên hƣớng dòng chảy ven bờchủ yếu là tây nam tại khu vực bờ phải cửa sông Ba Lạt. Khu vực có độ muối dao động lớn từ 1 - 30,3 ‰.

Biến đổi độ muối trong năm theo quy luật: cực đại vào mùa khô (tháng 2 - 3) và cực tiểu vào mùa mƣa (tháng 7-8). Độ muối ở vùng cửa sông là thấp nhất, đặc biệt vào mùa mƣa chỉ đạt 1,1 ‰ thể hiện sự biến động độ muối rất cao ở những vùng gần cửa sông. Nhiệt độ tầng mặt trung bình từ 15 - 30°C. Địa hình – địa mạo Địa hình khu vực là địa hình đồng bằng và bãi triều tƣơng đối bằng phẳng.

Hàng năm, dải đất ven biển tại các 2 cửa sông Ba Lạt và sông Đáy lấn ra biển từ 60m đến 80m khiến cho diện tích đất vùng cửa sông ven biển Nam Định trung bình tăng khoảng 110 ha. Tuy nhiên, hàng năm tại các vùng Văn Lý (Hải Hậu), Nghĩa Phúc (Nghĩa Hƣng), biển lại lấy đi của Nam Định dải đất rộng từ 5 -50m do xói lở.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ