Luận văn: Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ văn hóa huyện Tân Sơn

Nghiên cứu giải pháp tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ văn hóa cơ sở huyện Tân Sơn, Phú Thọ. Đề xuất quy trình nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa. Tài liệu Kh...

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

2015

101
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Vai trò then chốt của việc bồi dưỡng cán bộ văn hóa Tân Sơn

Trong bối cảnh hội nhập và phát triển, văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần, động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Tiến Như Khoa (2015) đã chỉ rõ tầm quan trọng chiến lược của việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, đặc biệt tại các khu vực miền núi như huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Trọng tâm của quá trình này chính là đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở, những người trực tiếp tham mưu, tổ chức và vận động nhân dân thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước. Vai trò của cán bộ văn hóa cơ sở không chỉ dừng lại ở việc tổ chức các hoạt động bề nổi mà còn là cầu nối, truyền tải các giá trị văn hóa, góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở một cách bền vững. Do đó, công tác bồi dưỡng cán bộ văn hóa trở thành nhiệm vụ cấp thiết, quyết định đến chất lượng và hiệu quả công tác bồi dưỡng nói riêng và sự phát triển văn hóa của địa phương nói chung. Nghiên cứu tập trung vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao năng lực cán bộ văn hóa. Việc đầu tư vào con người, cụ thể là phát triển nguồn nhân lực ngành văn hóa, là khâu đột phá để Tân Sơn thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững. Luận văn nhấn mạnh, để đội ngũ này thực sự “vừa hồng, vừa chuyên”, cần phải có một hệ thống bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn bài bản, khoa học, phù hợp với đặc thù địa phương. Đây không chỉ là yêu cầu của ngành mà còn là đòi hỏi từ thực tiễn, nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong kiến thức và kỹ năng của đội ngũ cán bộ hiện tại, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác quản lý nhà nước về văn hóa.

1.1. Nền tảng lý luận về bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn

Cơ sở lý luận của công tác bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn (NVCM) cho cán bộ văn hóa cơ sở được xây dựng trên nền tảng khoa học quản lý giáo dục và quản lý văn hóa. Bồi dưỡng được định nghĩa là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng và thái độ nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ. Hoạt động này khác với đào tạo cơ bản, nó tập trung vào việc củng cố và phát triển các kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu theo từng chuyên đề cụ thể, đáp ứng ngay lập tức yêu cầu của công việc. Mục tiêu của bồi dưỡng là trang bị cho cán bộ những kỹ năng quản lý văn hóa cần thiết, kiến thức về pháp luật, và các phương pháp tổ chức hoạt động thực tiễn tại cộng đồng. Quá trình này đòi hỏi sự vận dụng linh hoạt các chức năng quản lý cơ bản: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đảm bảo hoạt động bồi dưỡng đạt được hiệu quả cao nhất.

1.2. Cơ sở pháp lý và các chính sách đào tạo cán bộ cơ sở

Công tác bồi dưỡng cán bộ văn hóa được định hướng bởi hệ thống các văn bản pháp lý quan trọng. Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung, 2011) đã khẳng định vai trò của văn hóa là “sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”. Cụ thể hóa chủ trương này, Quyết định 3067/QĐ-BVHTTDL về “Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực nhóm ngành Văn hóa, Thể thao giai đoạn 2011-2020” đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, Nghị định 92/2009/NĐ-CP và Thông tư 06/2012/TT-BNV quy định rõ chức danh, nhiệm vụ và tiêu chuẩn của công chức văn hóa - xã hội cấp xã. Những chính sách đào tạo cán bộ cơ sở này tạo thành hành lang pháp lý vững chắc, là kim chỉ nam cho các địa phương như Tân Sơn xây dựng kế hoạch và tổ chức các chương trình bồi dưỡng một cách bài bản, đúng quy định, hướng tới mục tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ.

II. Phân tích thực trạng công tác cán bộ văn hóa tại Tân Sơn

Huyện Tân Sơn, một trong những huyện nghèo của cả nước, có đặc thù kinh tế - xã hội và văn hóa đa dạng với 82,3% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là dân tộc Mường. Điều này đặt ra những thách thức không nhỏ cho công tác quản lý và phát triển văn hóa. Luận văn đã tiến hành khảo sát chi tiết thực trạng công tác cán bộ văn hóa tại 17 xã trên địa bàn huyện trong giai đoạn 2011-2013. Kết quả cho thấy, mặc dù đội ngũ cán bộ văn hóa có sự ổn định về số lượng (37 người), trẻ về độ tuổi (89,1% dưới 44 tuổi) và tỷ lệ đảng viên cao (75,7%), nhưng vẫn còn nhiều hạn chế sâu sắc về chất lượng. Đáng chú ý là sự thiếu hụt kiến thức chuyên môn, hạn chế về nghiệp vụ và kỹ năng thực hành. Một bộ phận không nhỏ cán bộ chưa được đào tạo đúng chuyên ngành quản lý văn hóa, dẫn đến lúng túng trong việc tham mưu và tổ chức các hoạt động. Hiệu quả công tác bồi dưỡng hiện tại chưa cao, các chương trình còn mang tính hình thức, nội dung chưa sát với nhu cầu thực tế. Việc khảo sát nhu cầu bồi dưỡng chưa được chú trọng, dẫn đến việc tổ chức các lớp tập huấn còn dàn trải, chưa giải quyết được những “điểm nghẽn” trong năng lực của cán bộ. Những bất cập này là nguyên nhân chính làm ảnh hưởng đến sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực ngành văn hóa tại địa phương, đòi hỏi phải có những giải pháp đột phá và đồng bộ.

2.1. Đánh giá về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực văn hóa

Qua phân tích số liệu từ Phòng Nội vụ huyện Tân Sơn, đội ngũ nguồn nhân lực văn hóa tại Phú Thọ, cụ thể là tại Tân Sơn, có số lượng ổn định là 37 người giai đoạn 2011-2013. Về cơ cấu, đội ngũ này khá trẻ, với 40,5% dưới 30 tuổi và 48,6% từ 30-44 tuổi. Tuy nhiên, chất lượng là một vấn đề đáng bàn. Mặc dù trình độ văn hóa và chuyên môn đã được cải thiện, nhưng vẫn còn tồn tại sự không đồng đều. Một số cán bộ được đào tạo từ các chuyên ngành khác chuyển sang, thiếu kiến thức nền tảng về văn hóa và nghiệp vụ quản lý. Thực trạng đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở cho thấy sự thiếu hụt các kỹ năng mềm như tổ chức sự kiện, truyền thông, và vận động quần chúng, vốn là những yếu tố cốt lõi để xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.

2.2. Những hạn chế trong công tác đào tạo công chức văn hóa xã

Công tác đào tạo công chức văn hóa xã tại Tân Sơn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Các chương trình bồi dưỡng thường niên tuy được tổ chức nhưng nội dung còn chung chung, nặng về lý thuyết, chưa cập nhật những kiến thức và kỹ năng mới. Hình thức bồi dưỡng chủ yếu là tập huấn tập trung, thuyết trình một chiều, chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học. Việc đánh giá sau bồi dưỡng chưa được thực hiện nghiêm túc, do đó không đo lường được mức độ chuyển biến về năng lực của cán bộ. Thêm vào đó, nguồn kinh phí dành cho công tác này còn hạn hẹp, cơ sở vật chất thiếu thốn, chưa huy động được các nguồn lực xã hội hóa. Đây là những rào cản lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả công tác bồi dưỡng.

III. Phương pháp đổi mới kế hoạch bồi dưỡng cán bộ văn hóa

Để khắc phục những tồn tại, luận văn đề xuất một hệ thống các biện pháp mang tính chiến lược, bắt đầu từ khâu nhận thức và lập kế hoạch. Giải pháp đầu tiên và quan trọng nhất là nâng cao nhận thức của cả chính quyền địa phương và bản thân mỗi cán bộ văn hóa cơ sở về vai trò, tầm quan trọng của việc bồi dưỡng nghiệp vụ. Cần phải thay đổi quan niệm xem nhẹ công tác văn hóa, coi đây là một lĩnh vực đầu tư cho sự phát triển bền vững. Song song đó, phải thực hiện một cuộc cách mạng trong công tác khảo sát và lập kế hoạch. Thay vì xây dựng kế hoạch một cách chủ quan, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Tân Sơn cần chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan để tiến hành khảo sát nhu cầu bồi dưỡng một cách khoa học, chi tiết đến từng cá nhân. Kế hoạch bồi dưỡng phải được xây dựng dựa trên kết quả phân tích thực trạng năng lực, xác định rõ mục tiêu, nội dung, đối tượng, thời gian và hình thức tổ chức phù hợp. Việc lập kế hoạch cần có tầm nhìn dài hạn, gắn với quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ của huyện, đảm bảo tính kế thừa và phát triển liên tục. Chỉ khi công tác lập kế hoạch được thực hiện bài bản, các giải pháp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ tiếp theo mới có thể phát huy tối đa hiệu quả, tạo ra sự thay đổi thực chất về chất lượng nguồn nhân lực ngành văn hóa.

3.1. Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của bồi dưỡng

Đây là biện pháp mang tính nền tảng, tác động đến ý chí và hành động của các chủ thể liên quan. Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa và phát triển nguồn nhân lực ngành văn hóa. Lãnh đạo UBND huyện cần nhận thức rõ đầu tư cho bồi dưỡng cán bộ văn hóa là đầu tư cho tương lai, từ đó có sự chỉ đạo quyết liệt và phân bổ nguồn lực thỏa đáng. Đối với cán bộ, cần khơi dậy tinh thần tự học, tự rèn luyện, xem việc tham gia các lớp bồi dưỡng là quyền lợi và trách nhiệm để nâng cao năng lực bản thân, phục vụ nhân dân tốt hơn.

3.2. Đổi mới công tác khảo sát nhu cầu và lập kế hoạch bồi dưỡng

Công tác lập kế hoạch phải chuyển từ bị động sang chủ động, từ kinh nghiệm sang khoa học. Cần xây dựng các bộ công cụ khảo sát (phiếu hỏi, phỏng vấn sâu) để đánh giá chính xác những kiến thức, kỹ năng mà cán bộ còn yếu và thiếu. Dựa trên kết quả khảo sát, kế hoạch bồi dưỡng cần được cá nhân hóa, thiết kế các chuyên đề phù hợp với từng nhóm đối tượng. Ví dụ, nhóm cán bộ mới cần tập trung vào kiến thức cơ bản về quản lý nhà nước về văn hóa, trong khi nhóm cán bộ lâu năm cần cập nhật các kỹ năng mới về truyền thông số, tổ chức sự kiện cộng đồng. Kế hoạch cần cụ thể hóa mục tiêu đầu ra, tức là sau khóa học, học viên phải làm được gì.

IV. Bí quyết nâng cao năng lực cán bộ văn hóa qua nội dung đào tạo

Sau khi có kế hoạch bài bản, yếu tố quyết định đến hiệu quả công tác bồi dưỡng chính là nội dung và phương pháp. Luận văn đề xuất các giải pháp mang tính đột phá nhằm hoàn thiện chương trình và đổi mới phương pháp bồi dưỡng. Cần phải xây dựng một hệ thống chương trình, nội dung bồi dưỡng được thiết kế khoa học, bám sát thực tiễn công việc của cán bộ văn hóa cơ sở tại Tân Sơn. Nội dung không chỉ gói gọn trong lý luận mà phải tăng cường các chuyên đề về kỹ năng thực hành như: kỹ năng quản lý văn hóa, kỹ năng xây dựng kế hoạch hoạt động, kỹ năng tổ chức và điều hành một lễ hội, kỹ năng giao tiếp và vận động quần chúng. Đặc biệt, cần tích hợp các nội dung về bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số của huyện. Về phương pháp, cần triệt để loại bỏ lối dạy học thụ động, thuyết trình một chiều. Thay vào đó, áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực như thảo luận nhóm, nghiên cứu tình huống (case study), đóng vai, và tổ chức các chuyến đi thực tế tại các mô hình văn hóa thành công. Để thực hiện được điều này, việc xây dựng đội ngũ giảng viên cốt cán, bao gồm cả các chuyên gia từ tỉnh và những cán bộ quản lý giàu kinh nghiệm tại địa phương, là vô cùng quan trọng. Đây là bí quyết then chốt để nâng cao năng lực cán bộ văn hóa một cách thực chất.

4.1. Hoàn thiện chương trình và đổi mới phương pháp bồi dưỡng

Chương trình bồi dưỡng cần được cấu trúc lại theo hướng module hóa, linh hoạt và cập nhật. Các nội dung cần tập trung giải quyết các vấn đề thực tiễn mà cán bộ thường gặp. Ví dụ, chuyên đề về “Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở” cần hướng dẫn cụ thể cách xây dựng hương ước, quy ước làng văn hóa, cách tổ chức các câu lạc bộ văn nghệ, thể thao. Phương pháp bồi dưỡng cần tăng cường tính tương tác, lấy người học làm trung tâm. Việc tổ chức thực hành, tham quan học hỏi kinh nghiệm tại các địa phương khác sẽ giúp cán bộ mở rộng tầm nhìn và học hỏi được những cách làm hay, sáng tạo.

4.2. Xây dựng đội ngũ giảng viên và chính sách đãi ngộ phù hợp

Chất lượng giảng viên quyết định chất lượng bồi dưỡng. Cần xây dựng một đội ngũ giảng viên kiêm chức cấp huyện, quy tụ những trưởng phòng, phó phòng, cán bộ quản lý có năng lực và kinh nghiệm thực tiễn. Đồng thời, cần mời các chuyên gia, giảng viên từ Trường Chính trị tỉnh, Sở VHTTDL để giảng dạy các chuyên đề chuyên sâu. Huyện cần ban hành chính sách đào tạo cán bộ cơ sở và cơ chế đãi ngộ hợp lý (chế độ thù lao, khen thưởng) để tạo động lực, khuyến khích các giảng viên tham gia vào công tác bồi dưỡng với tinh thần trách nhiệm và nhiệt huyết cao nhất.

V. Cách tăng cường hiệu quả công tác bồi dưỡng cán bộ văn hóa

Để các giải pháp không chỉ nằm trên giấy, việc gắn kết lý thuyết với thực tiễn và đảm bảo nguồn lực là yếu tố sống còn. Một trong những cách hiệu quả nhất để tăng cường hiệu quả công tác bồi dưỡng là gắn việc tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ với việc tổ chức các hoạt động văn hóa cơ sở trên địa bàn. Thay vì chỉ học trong hội trường, các lớp bồi dưỡng có thể được tổ chức dưới dạng “học đi đôi với hành”. Học viên sẽ trực tiếp tham gia lập kế hoạch và tổ chức một sự kiện văn hóa, thể thao cụ thể tại một xã nào đó. Qua đó, họ vừa được củng cố kiến thức, vừa rèn luyện kỹ năng thực tế, đồng thời tạo ra sản phẩm văn hóa phục vụ trực tiếp cho người dân. Biện pháp này giúp biến quá trình bồi dưỡng thành một hoạt động sáng tạo, hữu ích. Bên cạnh đó, vấn đề cốt lõi là phải tăng cường tài chính và cơ sở vật chất. Huyện cần ưu tiên bố trí ngân sách cho công tác này, đồng thời tích cực huy động các nguồn lực xã hội hóa từ các doanh nghiệp, tổ chức. Đầu tư xây dựng, nâng cấp trung tâm bồi dưỡng, trang bị các phương tiện dạy học hiện đại sẽ tạo điều kiện tốt nhất cho cả giảng viên và học viên. Việc đảm bảo nguồn lực một cách bền vững là điều kiện tiên quyết để duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo công chức văn hóa xã trong dài hạn.

5.1. Gắn bồi dưỡng lý thuyết với xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở

Đây là giải pháp mang tính thực tiễn cao. Mỗi khóa bồi dưỡng nên có một “dự án tốt nghiệp” là một hoạt động văn hóa cụ thể. Ví dụ, lớp bồi dưỡng về tổ chức lễ hội có thể thực hành bằng cách tham gia hỗ trợ tổ chức Lễ hội xuống đồng của người Mường. Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Tân Sơn sẽ đóng vai trò điều phối, hướng dẫn, còn các học viên là người trực tiếp triển khai. Cách làm này không chỉ giúp kiểm tra, đánh giá năng lực học viên một cách chính xác mà còn góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa tại các địa phương.

5.2. Huy động các nguồn lực đảm bảo công tác bồi dưỡng

Nguồn lực không chỉ là tài chính. Cần huy động cả nguồn lực về con người và tri thức. Huyện Tân Sơn có thể ký kết chương trình phối hợp với các trường đại học, cao đẳng văn hóa nghệ thuật để nhận được sự hỗ trợ về chuyên môn, tài liệu và giảng viên. Bên cạnh ngân sách nhà nước, cần xây dựng cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn (như Vườn Quốc gia Xuân Sơn) tham gia tài trợ cho các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ du lịch cộng đồng cho cán bộ văn hóa. Sự chung tay của toàn xã hội sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp để nâng cao năng lực cán bộ văn hóa.

VI. Định hướng phát triển nguồn nhân lực ngành văn hóa Tân Sơn

Tổng hợp các phân tích và giải pháp, luận văn đã vạch ra một định hướng chiến lược cho việc phát triển nguồn nhân lực ngành văn hóa tại huyện Tân Sơn đến năm 2020 và xa hơn. Trọng tâm của định hướng này là xây dựng một đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở chuyên nghiệp, có đủ phẩm chất và năng lực, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới. Các biện pháp được đề xuất không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ biện chứng, hỗ trợ lẫn nhau. Nâng cao nhận thức là tiền đề, đổi mới kế hoạch là khâu đột phá, hoàn thiện nội dung và phương pháp là giải pháp cốt lõi, và gắn với thực tiễn, đảm bảo nguồn lực là điều kiện thực thi. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp này sẽ tạo ra một chu trình bồi dưỡng khép kín, hiệu quả và bền vững. Trong tương lai, chính sách đào tạo cán bộ cơ sở cần tiếp tục được hoàn thiện, không chỉ tập trung vào bồi dưỡng mà còn chú trọng đến các khâu khác như tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ và quy hoạch. Cần xây dựng lộ trình công danh rõ ràng để cán bộ văn hóa có động lực phấn đấu. Kết quả của nghiên cứu không chỉ có giá trị thực tiễn đối với huyện Tân Sơn mà còn có thể là kinh nghiệm tham khảo cho các địa phương miền núi khác có điều kiện tương tự, góp phần thực hiện thành công chiến lược phát triển văn hóa của quốc gia.

6.1. Mối quan hệ giữa các giải pháp bồi dưỡng cán bộ văn hóa

Các giải pháp đề xuất tạo thành một hệ thống toàn diện và đồng bộ. Không thể đổi mới nội dung nếu không có khảo sát nhu cầu, và không thể tổ chức thực hành nếu thiếu nguồn lực. Sự thành công của quá trình bồi dưỡng phụ thuộc vào việc triển khai nhịp nhàng, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, từ UBND huyện, Phòng Nội vụ, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Tân Sơn đến UBND các xã. Cần có một cơ chế điều phối hiệu quả để đảm bảo các giải pháp được thực thi một cách nhất quán, tránh tình trạng chồng chéo hoặc bỏ sót.

6.2. Khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng

Trên cơ sở nghiên cứu, luận văn đưa ra các khuyến nghị cụ thể. Đối với cấp huyện, cần sớm ban hành một Đề án tổng thể về “Nâng cao năng lực cán bộ văn hóa giai đoạn 2015-2020”, trong đó xác định rõ mục tiêu, lộ trình và nguồn lực thực hiện. Đối với Sở VHTTDL Phú Thọ, cần tăng cường chỉ đạo, hỗ trợ chuyên môn, cung cấp tài liệu và mở các lớp bồi dưỡng chuyên đề cấp tỉnh. Về lâu dài, cần nghiên cứu xây dựng bộ “chuẩn nghề nghiệp” cho cán bộ văn hóa cơ sở, làm căn cứ để xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá cán bộ một cách thống nhất trên toàn quốc.

15/10/2025
Luận văn thạc sĩ tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ văn hóa cơ sở huyện tân sơn tỉnh phú thọ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề tổ chức bồi dƣỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở; Chương 2: Thực trạng tổ chức bồi dƣỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ; Chương 3: Biện pháp tổ chức bồi dƣỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ TỔ CHỨC BỒI DƢỠNG NGHIỆP VỤ CHUYÊN MÔN CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ VĂN HÓA CƠ SỞ 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động đào tạo, bồi dƣỡng phát triển đội ngũ là một trong những thành tố cơ bản, đồng thời là một động lực để phát triển nguồn nhân lực. Ở Việt Nam, xác định bồi dƣỡng nâng cao năng lực đội ngũ là việc tạo điều kiện để cán bộ có cơ hội học tập thƣờng xuyên, học tập suốt đời nhằm bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn giải quyết công việc có chất lƣợng, hiệu quả tốt hơn.

Vấn đề bồi dƣỡng để nâng cao năng lực cán bộ văn hóa nói chung và cán bộ VHCS nói riêng đã đƣợc các cấp, các ngành quan tâm nghiên cứu lý luận và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn. Đã có một số công trình nghiên cứu và đề tài khoa học có liên quan đến đề tài này, tiêu biểu là: - Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội. - Trần Văn Tùng (2003), Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng kinh nghiệm thế giới, NXB Thế giới, Hà Nội. - Lê Thị Vân Hạnh (2004), “Đào tạo, bồi dƣỡng công chức để nâng cao năng lực thực thi”, Tạp chí Quản lý nhà nước.

- Nguyễn Tri Nguyên (2004), Những bài giảng về Quản lý văn hóa trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. - Đỗ Ngọc Anh (2005), “Đào tạo cán bộ văn hóa thông tin các tỉnh phía Nam”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật. - Lê Thị Thanh Thủy (2007), “Đào tạo CBQL văn hóa hiện nay”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật; 7 - Dƣơng Thị Thanh Huệ (2008), Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đoàn chuyên trách tỉnh Nam Định”. - Nguyễn Tấn Đức (2008), Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở tại Quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh, Trƣờng Đại học KHXH-NV, ĐHQG Tp.

- Nguyễn Thanh Hoa (2012), Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm BDCT huyện Đầm Hà - tỉnh Quảng Ninh. - Đỗ Thị Thắng (2013), Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho hiệu trưởng các trường mầm non huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh. - Bùi Thị Huệ (2013), Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng lập kế hoạch giáo dục cho hiệu trưởng các trường THCS TP Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh. - Nguyễn Đình Quyết (2013), Quản lí hoạt động bồi dưỡng giáo viên Tiểu học huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang theo chuẩn nghề nghiệp.

- Trần Thị Thu Hạnh (2013), Quản lí hoạt động bồi dưỡng cho cán bộ Hội liên hiệp Phụ nữ cấp Cơ sở ở Thái Nguyên. - Nguyễn Thị Thu Vân (2013), Nâng cao hiệu quả xây dựng đời sống văn hóa ở Hòa Lạc, Phổ Tân đến năm 2015, Trƣờng Đại học Tôn Đức Thắng. - Trần Thị Kim Thoa (2015), Nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở (trường hợp huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, giai đoạn 2010 - 2014). Trƣờng ĐH Văn hóa, Tp.

- Võ Minh Tài (2015), Xây dựng đời sống văn hóa ở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương trong quá trình đô thị hóa, Trƣờng ĐH Văn hóa, Tp. HCM; (…) Một số hội nghị, hội thảo chuyên đề, tiêu biểu là: - Ngày 11/10/2011, tại thành phố Vinh, Hội nghị toàn quốc “Nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở”, do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND tỉnh Nghệ An tổ chức nhằm đánh giá vai trò của hệ thống thiết chế văn hoá cơ sở trong xây dựng đời sống văn hoá, tổ chức các hoạt động tuyên truyền nhiệm vụ chính trị; chỉ đạo, hƣớng dẫn các hoạt động văn hoá, thể thao ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay. 8 - Từ ngày 21 đến ngày 22 tháng 01 năm 2015 tại Phú Thọ, Văn phòng thƣờng trực Ban Chỉ đạo TW phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, Cục Văn hóa cơ sở (Bộ VHTTDL) phối hợp với UBND tỉnh Phú Thọ, Sở VHTTDL tỉnh Phú Thọ tổ chức Hội thảo góp ý Bộ tiêu chí quốc gia về thực hiện Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và đề án “Truyền thông về phát triển văn hóa cơ sở đến năm 2020 tầm nhìn đến 2030”, khu vực phía Bắc (…). Các hội nghị và hội thảo cũng đã chỉ ra những bất cập, tồn tại, thực tế hoạt động của các thiết chế văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa và phát triển VHCS.

trong đó có đề cập đến thực trạng đội ngũ cán bộ VHCS trong cả nƣớc. Có thể nhận xét rằng, hầu hết các công trình nghiên cứu, bài viết, hội thảo đều thống nhất khẳng định vai trò của cán bộ và công tác bồi dƣỡng cán bộ. Tuy vậy, cho đến nay rất ít các nghiên cứu sâu về phát triển đội ngũ cán bộ VHCS, cũng chƣa có công trình nghiên cứu, luận văn thạc sỹ nào về vấn đề tổ chức bồi dƣỡng NVCM cho đội ngũ cán bộ VHCS ở một huyện cụ thể. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng và tính cần thiết, khả thi của vấn đề bồi dƣỡng NVCM cho đội ngũ cán bộ VHCS, tác giả đề tài này sẽ đi sâu nghiên cứu, đề xuất biện pháp tổ chức bồi dƣỡng NVCM cho đội ngũ cán bộ VHCS huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Qua đó, góp phần nâng cao chất lƣợng cán bộ VHCS, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Văn hóa cơ sở và cán bộ văn hóa cơ sở 1. Văn hóa cơ sở Văn hóa, cho tới nay, theo thống kê trên thế giới có hơn 600 định nghĩa về văn hóa.

Trong luận văn này, khái niệm văn hóa đƣợc sử dụng theo định nghĩa văn hóa của UNESCO đƣợc thông qua trong bản tuyên bố về những chính sách văn hóa tại Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ ngày 26/7 đến ngày 6/8 năm 1982 tại Mêhicô [10]: “Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt 9 tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm ngƣời trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chƣơng, những lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời, những hệ thống các giá trị, các tập tục và những tín ngƣỡng. Văn hóa đem lại cho con ngƣời khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý.

Chính nhờ văn hóa mà con ngƣời tự thể hiện, tự nhận thức đƣợc bản thân, tự biết mình là một phƣơng án chƣa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ, những công trình vƣợt trội bản thân”. Đảng ta quan niệm về văn hóa: "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng văn minh, con ngƣời phát triển toàn diện. Văn hóa là kết quả của kinh tế đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế.

Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phƣơng diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cƣơng. biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển" [12]. Đơn vị cơ sở, “là đơn vị ở cấp dƣới cùng, nơi trực tiếp thực hiện các hoạt động nhƣ sản xuất, công tác,… của một hệ thống tổ chức, trong quan hệ với các bộ phận lãnh đạo cấp trên” [37, tr. Đơn vị cơ sở đƣợc quy định trong hệ thống bộ máy hành chính Nhà nƣớc Việt Nam với 4 cấp, trong đó cấp cơ sở gồm xã, phƣờng, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là cấp đơn vị hành chính thấp nhất.

Theo tinh thần văn kiện Đại hội Đảng lần thứ V thì nhà máy, công trƣờng, nông trƣờng, hợp tác xã, đơn vị quân đội, công an, trƣờng học, bệnh viện… đều đƣợc coi là một đơn vị 10 cơ sở. Tuy nhiên, không phải ở bất cứ đơn vị cơ sở nào cũng có cán bộ văn hóa và có các thiết chế văn hóa. Văn hóa cơ sở, từ cách hiểu về văn hóa và đơn vị cơ sở, có thể xác định VHCS theo tiếp cận văn hóa học là hình thức tổ chức cơ bản của đời sống văn hóa, đó là những cộng đồng dân cƣ (có địa bàn sống và tổ chức hành chính ổn định) liên kết với nhau trong các sinh hoạt vật chất và tinh thần trong đời sống hàng ngày. Xã, phƣờng, thị trấn đƣợc coi là đơn vị cơ sở điển hình.

Cán bộ văn hóa cơ sở Cán bộ cơ sở: Theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 [6] của Chính phủ về chức danh, số lƣợng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phƣờng, thị trấn và những ngƣời hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thì có 7 chức danh công chức cấp xã: Trƣởng Công an; Chỉ huy trƣởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trƣờng; Tài chính - kế toán; Tƣ pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội. Theo Thông tƣ 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 [1] của Bộ Nội vụ hƣớng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phƣờng, thị trấn thì công chức cấp xã có chức trách làm công tác chuyên môn thuộc biên chế của UBND cấp xã, có trách nhiệm tham mƣu, giúp UBND cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc về lĩnh vực công tác đƣợc phân công và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch UBND cấp xã giao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ