Chương 1: Khung nghiên cứu về ảnh hưởng của sinh kế đến bảo tồn tài nguyên rừng ở các KBTNN Chương 2: Ảnh hưởng của hoạt động sinh kế đến bảo tồn Tài nguyên rừng tại “ KBTTN Hoàng Liên - Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai ” Chương 3: Định hướng và các giải pháp nhằm kết hợp sinh kế với bảo tồn tài nguyên rừng tại KBTTN Hoàng Liên - Văn Bàn 7 CHƢƠNG 1: KHUNG NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƢỞNG CỦA SINH KẾ ĐẾN BẢO TỒN TÀI NGUYÊN RỪNG Ở CÁC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN 1.1 Khu bảo tồn thiên nhiên và yêu cầu đặt ra vớiKhu bảo tồn thiên nhiên 1.1 Khu bảo tồn thiên nhiên 1.1 Khái niệm Theo định nghĩa của IUCN (Hội bảo vệ thiên nhiên và các nguồn tài nguyên quốc tế): “KBTTN là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác”[5]. Hiện nay, các KBTTN trên thế giới đang có chiều hướng tăng dần cả về diện “ tích và số lượng. Trên thế giới hiện nay có khoảng hơn 100.000 KBTTN chiếm khoảng 11,7% diện tích đất liền trên thế giới. Trong đó, VQG chiếm số lượng và diện tích lớn nhất, tiếp đến là các KBT loài và sinh cảnh [5].
Công ước ĐDSH (1992) xác định:“các KBTTN là công cụ hữu hiệu và có vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học tại chỗ. Tại điều 8 Bảo tồn tại chỗ của Công Ước có các mục (a), (b) và (c) qui đinh rõ các nước tham gia công ước ĐDSH có trách nhiệm thành lập hệ thống KBTTN, xây dựng các hướng dẫn lựa chọn, thành lập và quản lý các KBTTN, quản lý các tài nguyên sinh học bên trong các KBTTN để đảm bảo bảo tồn và sử dụng bền vững”[1]. Theo Luật đa dạng sinh học Việt Nam được ban hành tháng 11 năm 2008: “KBTTN là khu vực địa lý được xác lập ranh giới và phân khu chức năng để bảo tồn đa dạng sinh học". + Về phân hạng của các KBTTN Việt Nam được chia như sau: Theo Điều 16 mục 1 chương III của Luật đa dạng sinh học Việt Nam thì KBT gồm: “a) Vườn quốc gia ; b) Khu dự trữ thiên nhiên ; c) Khu bảo tồn loài - sinh 8 cảnh; d) Khu bảo vệ cảnh quan.
Trừ vườn quốc gia, các loại sau được chia ra cấp quốc gia và cấp tỉnh theo tiêu chí ghi trong Luật Đa dạng sinh học” [11]. Hiện nay, nước ta có hệ thống các KBT bao gồm165 khu. Các KBTTN được quản lý một cách có hệ thống và đáp ứng các mục tiêu quốc gia đề ra đó là: Bảo vệ “ đời sống hoang dã, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên của hệ sinh thái tự nhiên, bảo vệ các đặc điểm tự nhiên và văn hóa, nghiên cứu khoa học , bảo vệ đa “ ” “ dạng loài và nguồn gen , duy trì các dịch vụ môi trường, du lịch sinh thái, giáo dục, ” “ ” gìn giữ các bản sắc văn hóa truyền thống.2Đặc điểm của KBTTN KBTTN được thiết lập vì mục đích chung của quốc gia là quản lý và bảo vệ “ “ các tài nguyên sinh học bên trong KBTTN, đảm bảo cho công tác bảo tồn và sử ” “ dụng tài nguyên một cách bền vững. Các KBTTN đóng vai trò chính trong công tác ” ” “bảo tồn đa dạng sinh học tại chỗ”.
Tuy nhiên, các KBTTN không thể đạt được “ mục tiêu đề ra nếu quản lý một cách độc lập. Quy hoạch hệ thống KBTTN chú “ “ ” trọng tới mối quan hệ giữa các KBTTN và đặt hệ thống KBTTN trong bối cảnh và mối quan hệ với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa của đất nước. Do đó, hệ thống KBTTN cần đảm bảo đầy đủ các đặc điểm chung, mang tính thống nhất để đảm bảo hiệu quả của mạng lưới KBTTN quốc gia. KBTTN đơn lẻ nằm trong hệ ” thống KBTTN quốc gia cần có các đặc điểm sau: a) Tính toàn diện, đại diện và cân bằng Các KBTTN cần được lựa chọn căn cứ vào giá trị về đa dạng sinh học của nó, “ ” “ mang tính chất đại diện cho khu vực của đất nước, có tính cân bằng và thể hiện toàn diện ở các mặt như: loài, nguồn gen, sinh cảnh (hệ sinh thái),cảnh quan và cả văn hoá.
Do đó, cần tiến hành điều tra xác định các kiểu sinhcảnh và đa dạng sinh học với mục đích rà soát, quy hoạch và hình thành các KBTTN đảm bảo tínhtoán diện, đại diện và cân bằng. ” b) Tính đầy đủ 9 KBTTN cần được xem xét và đảm bảo đầy đủ các yếu tố về vị trí, ranh giới và diện tích sau: + Khu vực cư trú của các loài động thực vật quý hiếm, quy mô cần thiết để các loài này có thể tồn tại. ” + Khả năng liên kết với các KBTTN khác cho phép sự di chuyển, hoạt động “ của động vật + Mối liên kết với hệ thống tự nhiên và ranh giới KBTTN “ + Khả năng tổ chức quản lý và phát hiện các tác động tiềm ẩn “ ” + Các mối đe dọa từ bên ngoài và nguy cơ thoái hóa, suy giảm đa dạng sinh học “ ” + Chi phí cho việc thành lập KBTTN “ c) Tính gắn kết “KBTTN cần phải có tính gắn kết với các KBTTN trong hệ thống của quốc gia. Cần phải tăng cường được cả số lượng diện tích và chất lượng đa dạng sinh học, tính toàn diện cho hệ thống các Khu bảo tồn của đất nước.
Tránh tình trạng riêng lẻ, độc lập, thành lập KBTTN nhưng không đóng góp được nhiều về giá trị đa dạng sinh học và còn gây lãng phí nguồn lực của nhà nước. ” d) Tính hiệu quả, hiệu suất và công bằng Việc thành lập và quản lý KBTTN cần đảm bảo sự cân đối giữa chi phí và lợi “ ” “ ” ích có được, và sự công bằng trong phân bổ chi phí” và lợi ích giữa các bên có liên “ “ quan, trong đó chú trọng đảm bảo lợi ích của cộng đồng dân cư địa phương và đồng ” “ ” bào dân tộc thiểu số. Hiệu suất thể hiện ở số lượng tối thiểu các KBTTN cần có để “ ” đảm bảo mục đích bảo tồn của toàn hệ thống quốc gia. “ “ ” “Thành lập và quản lý các KBTTN cần được coi là một loại hoạt động kinh tế - “ ” “” xã hội.
KBTTN được thành lập nhằm mục đích đem lại một số lợi ích cho xã hội và “ ” “ sự nghiệp bảo tồn thiên nhiên. Do vậy, hoạt động của các khu BTTN phải bảo đảm ” “ có hiệu quả, tương xứng với chi phí bỏ ra và được quản lý sao cho các tác động và lợi ” “ ích được phân bổ và chia sẻ công bằng với các cộng đồng và các bên có liên quan.2 Yêu cầu đặt ra với KBTTN 10 (1) Khu BTTN “là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm” , ” do đó Khu BTTN phải là vùng đất tự nhiên có dự trữ tài nguyên thiên nhiên và có giá trị đa dạng sinh học cao. Trong đó, giá trị đa dạng sinh học cao là sự phong phú về nguồn gen, loài sinh vật và hệ sinh thái tự nhiên bên trong nó. “ Nguồn tài nguyên đa dạng sinh học trong tự nhiên tập trung ở 3 hệ sinh thái “ ” (HST) chính là: HST trên cạn (HST rừng), HST đất ngập nước và HST biển.
Ở “ ” nước ta, các hệ sinh thái “của rừng rất đa dạng, mỗi hệ sinh thái rừng” thực chất là một phức hệ rất phức tạp, được vận hành và chi phối bởi các quy luật nội vi và “ ” ngoại vi. Một số hệ sinh tháirừngnhư: rừng trên núi đá vôi, rừng rụng lá và nửa “ ” “ rụng lá, rừng thường xanh núi thấp, núi trung bình, núi cao , HST ruộng nương, ” HST đồng cỏ.đây là những HST có giá trị đa dạng sinh học cao và có ý nghĩa rất “ ” “ lớn đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học của nước ta. Việt Nam là đất nước có diện ” “ tích rừng lớn so với diện tích đất nước, tuy nhiên độ che phủ lại có nhiều biến ” “ ” “ động. Theo thống kê của tác giả Paul Maurand (1943): “năm 1943 Việt Nam có ” ” diện tích rừng là 14,3 triệu hecta, đạt tỷ lệ che phủ lãnh thổ là 43%.
Từ năm 1943- 1975, diện tích rừng đã bị suy giảm còn 11,2 triệu hecta với tỷ lệ che phủ là 34% (Viện Điều tra quy hoạch rừng, năm 1976). Giai đoạn 1976 đến 1990 là thời kỳ tài nguyên rừng bị khai thác mạnh để phục vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước sau chiến tranh. Diện tích rừng trong giai đoạn này tiếp tục giảm xuống, diện tích rừng năm 1990 chỉ còn chưa đầy 9,2 triệu hecta với tỷ lệ che phủ chỉ đạt 27,8%”. Về HST biển:“Việt Nam có vùng lãnh hải gắn với bờ biển rộng khoảng 226.
Do vậy hệ sinh thái biển cũng rất phong phú, có 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, có tính đa dạng và năng suất sinh học cao. Trong lãnh hải của nước ta đã phát hiện được khoảng 11.000 loài sinh vật cư trú. Thành phần quần xã trong hệ sinh thái giàu, có cấu trúc phức tạp, thành phần loài phong phú. Đây là môi trường sản xuất thuận lợi và rộng lớn có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống của hàng triệu cư dân sống ven biển của Việt Nam” [3].
“ 11 Đối với yêu cầu cần có sự phong phú về nguồn gen và loài sinh vật, yêu cầu này thể hiện qua số lượng loài sinh vật, số lượng gen có sẵn tại các KBTTN. Đồng thời, để tăng cường tính đa dạng sinh học thì khả năng thuần hóa các loài sinh vật mới, lai ghép để phát hiện ra nguồn gen mới cũng rất cần thiết. Theo đánh giá của Jucovski (1970):“Việt Nam là một trong 12trung tâm nguồn gốc giống cây trồng và cũng là trung tâm thuần hóa vật nuôi nổi tiếng thế giới.Các loài cá nuôi có nguồn gốc từ nước ngoài được nhập và thuần dưỡng ở Việt Nam khoảng 50 loài. Trong đó có 35 loài cá cảnh còn lại là các loài cá nuôi lấy thịt.
Các giống cây trồng ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú. Hiện nay đã thống kê được 802 loàicây trồng phổ biến thuộc 79 họ” [8].