đặt vấn đề cho đến nội dung của tác giả bài viết cho thấy trong hệ thống giám sát và PBXH ở nước ta còn có báo chí tham gia giám sát và PBXH nằm trong hệ thống kiểm soát quyền lực từ bên trong hệ thống chính trị. Một số bài viết về giám sát và PBXH đăng tải trên các tạp chí khoa học: So với các sách và công trình nghiên cứu khoa học về giám sát và PBXH thì các bài viết đăng tải trên các báo, tạp chí khoa học ở nước ta xuất hiện nhiều hơn, đa dạng hơn. Có thể kể đến các công trình, như: “Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các đoàn thể nhân dân trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh” của tác giả Đỗ Duy Thường, đăng ở Tạp chí Xây dựng Đảng, số tháng 12- 2006 [106], nêu rằng: phản biện trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh có thể là hoạt động nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định và kiến nghị bằng văn bản đối với các dự án luật, pháp lệnh của cơ quan nhà nước khi được yêu cầu. Sự phản biện làm giảm thiểu những sai sót, sơ hở trong việc xây dựng, ban hành các văn bản luật.
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam (số 2/2007) có bài: “Giám sát xã hội như một giải pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí” của Tạ Ngọc Tấn [98]. Tác giả cho rằng giám sát xã hội (GSXH) là sự vận hành cả một hệ thống xã hội, các thiết chế văn hóa, các phương tiện truyền thông đại chúng… và các công dân nhằm cảnh báo, điều chỉnh và thúc đẩy việc thực thi quyền lực nhà nước. Như vậy có hai bộ phận tham gia GSXH: (1) nằm trong chính bộ máy nhà nước, có thể gọi là hệ thống giám sát hành chính, được nhà nước xây dựng nên nhằm tự giám sát, điều hòa quyền lực một cách hợp lý…; (2) là bộ phận mang tính chất công dân, là đại diện của nhân dân, của công luận, có thể gọi là hệ thống giám sát công dân. Đó là các tổ chức phi chính phủ, các thiết chế văn hóa, các tổ 19 chức công dân, các phương tiện truyền thông đại chúng, các đại diện cộng đồng dân cư và thậm chí là trực tiếp công dân.
Ở một mức độ nào đó, tính chất, mức độ tham gia GSXH của bộ phận này lả thước đo trình độ phát triển, tính ưu việt của chế độ xã hội. Tạp chí Cộng sản số 17 (2006), có bài: “Phản biện xã hội – Một số vấn đề chung” của Trần Anh Tuấn [100]. Tác giả quan niệm PBXH là đưa ra các lập luận, phân tích nhằm phát hiện, chứng minh khẳng định bổ sung hoặc bác bỏ một đề án (phương án, dự án) xã hội đã được hình thành và công bố trước đó PBXH dựa vào các lập lập, phân tích từ một góc nhìn, một hệ thống công cụ với góc nhìn và hệ thống công cụ đã dùng ở đề án xã hội. PBXH thực hiện chủ yếu ở hai trường hợp: Một là đối với các dự thảo chủ trương, chính sách; hai là, phát hiện các điểm chưa hoàn thiện thậm chí sai sót hoặc không còn phù hợp với đường lối, chính sách, quy định pháp lý.
đang được thực hiện trong thực tế để lực lượng cầm quyền có điều chỉnh, sửa đổi hoặc thay đổi chính sách cho phù hợp. “Dân chủ và giám sát xã hội đối với việc thực hiện QLNN ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Mạnh Bình, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4/2009 [7] đã nêu bật về dân chủ và QLNN; về giám sát của nhân dân đối với việc thực thi QLNN là một trong những biện pháp thực thi nền dân chủ. Trong đó tác giả đã khẳng định, phải có cơ chế bảo đảm QLNN không vượt ra ngoài tầm giám sát của nhân dân, vừa có sự phối hợp, hỗ trợ nhau giữa giám sát quyền lực nhà nước và GSXH đối với việc thực thi quyền lực nhà nước, vừa có tính độc lập tương đối trong tổng thể QLNN thuộc về nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giữ vững bản chất Nhà nước XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Còn tác giả Hoàng Hải, có bài: “Phát huy vai trò của MTTQ trong PBXH và giám sát xây dựng Đảng” đăng trên Tạp chí Mặt trận số 37 (2006) [37], cho rằng, nội dung PBXH mà MTTQ Việt Nam thực hiện là phản biện những chủ trương, chính sách, pháp luật có liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích chính 20 đáng của các tầng lớp nhân dân, đến tổ chức bộ máy và cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị, những chính sách cụ thể đối với giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài.
Đối tượng nhận được phản biện của MTTQ, các tổ chức chính trị xã hội và nhân dân là cơ quan tổ chức của hệ thống chính trị. Bài viết: “Vai trò của phản biện xã hội ở Việt Nam hiện nay” của Đỗ Văn Quân, đăng tại Tạp chí Lý luận Chính trị số 2/2009 [84], nêu rõ PBXH là để tạo ra sự đồng thuận trong xã hội, tạo ra năng lực phát triển của quốc gia, dân tộc. Việc tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động PBXH là một điều rất cần thiết. Gây dựng ý thức, tâm huyết, nhu cầu và khả năng của các giai tầng khác nhau trong xã hội về tinh thần PBXH là một điều cần thiết ở Việt Nam.
- Tạp chí Tổ chức nhà nước số 5/2010, có bài: “Vai trò của giám sát và PBXH đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền” của tác giả Đoàn Minh Huấn [42]. Tác giả cho rằng giám sát và PBXH có 7 vai trò, gồm: bảo đảm quyền phản hồi xã hội trực tiếp hoặc bán trực tiếp đối với thể chế cầm quyền; có vai trò kiểm soát quyền lực nhà nước; có tác dụng giải tỏa tâm trạng xã hội; có tác dụng khắc phục các biểu hiện dân chủ hình thức, thúc đẩy minh bạch hóa quản trị quốc gia theo nguyên tắc dân chủ; có tác dụng trực tiếp chống lãng phí, thực hành tiết kiệm; đòi hỏi giới cầm quyền phải chấp nhận sự cọ xát, tranh luận, đối thoại với nhân dân và nhờ đó rèn luyện thêm kỹ năng chính trị; có tác dụng lâu dài góp phần tạo môi trường rèn luyện dân chủ, tăng cường tính tích cực trong thực hành dân chủ. Nhìn chung, các bài viết về đề tài giám sát và PBXH đã nêu được những vấn đề cơ bản của giám sát và PBXH, về vai trò của giám sát và PBXH đối với đời sống xã hội, đã có những soi chiếu lý luận của giám sát và PBXH vào thực tiễn. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chỉ mới tập trung đánh giá thực trạng hoạt động giám sát và PBXH, chưa có những giải pháp cơ bản.
Các kết quả nghiên 21 cứu đi trước sẽ là những gợi mở để NCS kế thừa xây dựng khung lý luận làm nền tảng cho đề tài Luận án. Một số công trình nghiên cứu liên quan đến giám sát và PBXH: - Luận án Tiến sĩ của Vũ Thị Như Hoa: “Nâng cao chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam ở nước ta hiện nay” [40], đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về PBXH và vai trò của MTTQ Việt Nam trong PBXH. Bước đầu xác định tiêu chí đánh giá chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam. Đánh giá khái quát chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Tác giả có đề cập đến báo chí là một phương thức PBXH rất quan trọng và nổi bật, xuất phát từ chức năng của báo chí phản ánh thực hiện đời sống xã hội, định hướng dư luận xã hội, có sức mạnh phản biện chính sách của Nhà nước. Tác giả nhấn mạnh báo chí chỉ phát huy tốt vai trò tác dụng trong điều kiện một xã hội dân chủ, tự do ngôn luận, đồng thời phụ thuộc vào bản lĩnh dũng khí của chính báo chí. - Luận văn Thạc sỹ Chính trị học của Nguyễn Phúc Quỳnh: “Nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam hiện nay” [87], luận văn đã đánh giá khách quan hoạt động PBXH của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam thời gian qua, xác định những kết quả đạt được vag những hạn chế tồn tại; nghiên cứu hệ thống các khái niệm công cụ và cơ sở lý luận về PBXH của MTTQ Việt Nam, nghiên cứu thực trạng về cơ chế và khảo sát thực trạng hoạt động PBXH của MTTQ Việt Nam; đề xuất một số phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng PBXH của MTTQ trong thời gian tiếp theo. Nghiên cứu về vai trò của báo chí trong thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội Nghiên cứu về vai trò của báo chí trong thực hiện chức năng giám sát và PBXH ở trong nước thời gian qua cũng khá nhiều.
Tuy nhiên, các cuốn sách, 22 những công trình nghiên cứu, các bài viết, bài báo khoa học đã được đăng tải hầu như mới chỉ nêu được một vài khía cạnh, một phần nào đó về nội dung giám sát và PBXH chứ chưa đề cập đến vai trò của báo chí trong thực hiện chức năng giám sát và PBXH một cách đầy đủ, có hệ thống, đặc biệt là nghiên cứu về vai trò của báo in trong thực hiện chức năng giám sát và PBXH thì hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, riêng biệt. Một số sách liên quan đến vai trò của báo chí trong giám sát và PBXH: - Cuốn sách: “Định hướng và quản lý báo chí trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay”, nhóm nghiên cứu do Trần Quang Nhiếp chủ trì [77]. Tập trung nêu bật những khó khăn, thuận lợi của báo chí trong điều kiện hiện nay khi mà nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường; nhất là mặt trái của kinh tế thị trường tác động đến báo chí, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những hạn chế, thiếu sót của báo chí, trong đó có tình trạng suy giảm chất lượng văn hóa trong hoạt động báo chí nói chung, sản phẩm báo in nói riêng. - Cuốn sách: “Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 22-CT/TƯ của Bộ Chính trị khóa VIII về đổi mới và và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí”, do Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa – Thông tin, Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp xuất bản và phát hành [3].