Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ triết học với đề tài "Ý thức chính trị của sinh viên ở nước ta hiện nay - thực trạng và những vấn đề đặt ra" do tác giả Phạm Đình Khuê thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Viết Thông, bảo vệ năm 2016. Đề tài thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 62 22 03 02).
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của lực lượng sinh viên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Sinh viên là bộ phận thanh niên ưu tú, có trình độ học vấn, tiếp thu khoa học kỹ thuật và là nguồn nhân lực tương lai của xã hội. Các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI và XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đều nhấn mạnh yêu cầu tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống và bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ.
Bên cạnh những mặt tích cực, thực tiễn đời sống kinh tế thị trường và quá trình mở rộng hội nhập quốc tế đang đặt ra nhiều thách thức. Một bộ phận sinh viên xuất hiện biểu hiện sống buông thả, thực dụng, phai nhạt lý tưởng, thờ ơ với các vấn đề chính trị - xã hội của đất nước, ngại học tập lý luận chính trị và có biểu hiện dao động, hoài nghi trước các luận điệu trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Đồng thời, công tác giáo dục chính trị trong các trường đại học, cao đẳng còn bộc lộ những bất cập về nội dung, phương pháp, sự đơn điệu và tính liên hệ thực tiễn chưa cao.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: Trước đây, các công trình chủ yếu tiếp cận ý thức chính trị của công nhân, lực lượng vũ trang hoặc khảo sát ý thức chính trị của sinh viên trong phạm vi hẹp tại một trường, một địa phương mang tính đặc thù. Chưa có công trình nào nghiên cứu cơ bản, toàn diện và có hệ thống về ý thức chính trị của sinh viên Việt Nam trên bình diện lý luận và thực tiễn diện rộng tại các trung tâm giáo dục lớn trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ những vấn đề lý luận về ý thức chính trị của sinh viên, khảo sát và đánh giá thực trạng, chỉ ra các nguyên nhân và vấn đề đặt ra, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản nhằm nâng cao ý thức chính trị cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở nước ta giai đoạn hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án.
- Làm rõ những vấn đề lý luận về ý thức chính trị và ý thức chính trị của sinh viên.
- Phân tích thực trạng ý thức chính trị của sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
- Làm rõ những vấn đề đặt ra về ý thức chính trị trong sinh viên, đưa ra những giải pháp cơ bản góp phần nâng cao ý thức chính trị cho sinh viên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Ý thức chính trị của sinh viên ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu diễn biến ý thức chính trị của sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng từ năm 1991 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2016).
- Phạm vi không gian: Khảo sát tại một số trường đại học, cao đẳng tiêu biểu ở Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan theo ba nhóm nội dung chính:
Nhóm 1: Các nghiên cứu về quan niệm và bản chất của ý thức chính trị
- Phan Thanh Khôi (2003) với công trình "Ý thức chính trị của giai cấp công nhân trong một số doanh nghiệp ở Hà Nội trong giai đoạn hiện nay" và bài viết "Ý thức chính trị và sự biểu hiện của nó trong thực tiễn ý thức chính trị của giai cấp công nhân nước ta hiện nay", xác định ý thức chính trị là thái độ đối với các thể chế chính trị lớn, là nhận thức về chế độ, đường lối, chính sách và sự hiểu biết về địa vị giai cấp.
- Nguyễn Duy Gia (1994) trong cuốn "Những yếu tố động lực trong hệ thống chính trị ở Việt Nam", phân chia ý thức chính trị thành hai mức độ: tư duy lý luận chính trị và tâm lý chính trị.
- Giáo trình Triết học Mác - Lênin (2004) của Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia khẳng định ý thức chính trị là một hình thái ý thức xã hội xuất hiện trong xã hội có giai cấp và nhà nước, thể hiện trực tiếp và tập trung lợi ích giai cấp.
- Các tác giả khác như Đỗ Tư (1992), Lê Văn Quang (2001), Dương Thị Thanh Xuân (2007), Vũ Quang Vinh, Trần Văn Bình (1997), Phùng Văn Ngọc (1997), Nguyễn Cao Tiến, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thị Thìn nghiên cứu ý thức chính trị trong các nhóm xã hội như công nhân, sĩ quan quân đội, học sinh phổ thông.
Nhóm 2: Các nghiên cứu về ý thức chính trị của thanh niên và sinh viên
- Ninel Olessitch và Victor Privalov trong tác phẩm "V.Lênin, các học sinh và cuộc cách mạng" phân tích vai trò và tiềm năng cách mạng của học sinh, sinh viên Nga trong giai đoạn 1905–1907.
- Viện Nghiên cứu Thế giới của Nhật Bản (thập niên 80, thế kỷ XX) thực hiện nghiên cứu khảo sát mẫu thanh niên độ tuổi 18–24 tại 11 quốc gia (Nhật Bản, Mỹ, Anh, Cộng hòa Dân chủ Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Nam Tư, Philippines, Hàn Quốc, Brazil) về thái độ chính trị - xã hội.
- Bùi Quốc Hưng với đề tài "Phát triển ý thức chính trị của sinh viên trường Đại học Hàng hải Việt Nam" nêu cấu trúc ý thức chính trị sinh viên gồm tri thức Mác - Lênin, giác ngộ giai cấp, niềm tin XHCN và động cơ học tập, rèn luyện.
- Vương Hồng Sơn với đề tài nghiên cứu về ý thức chính trị của học viên Trường Quân sự Quân khu 5.
Nhóm 3: Các nghiên cứu về thực trạng và giải pháp giáo dục ý thức chính trị cho sinh viên
- Lê Hữu Ái và Lâm Bá Hoà nghiên cứu về ý thức chính trị của sinh viên Đại học Đà Nẵng, chỉ ra cả mặt tích cực lẫn hiện tượng sống thực dụng, suy giảm đạo đức truyền thống.
- Chu Mạnh Cường nghiên cứu tại Trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Thái Nguyên; Trần Thị Ngọc Yến nghiên cứu thực trạng giáo dục ý thức chính trị tại tỉnh Hải Dương.
- Nguyễn Lương Bằng phân tích giáo dục ý thức chính trị cho sinh viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
- Các luận án tiến sĩ chuyên ngành của Nguyễn Đình Đức (về yếu tố khách quan, chủ quan tác động đến tư tưởng chính trị sinh viên), Lương Ngọc Vĩnh (hiệu quả giáo dục chính trị tư tưởng trong học viện quân sự), Trần Hùng (hiệu quả giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh), Trần Doãn Tiến (phê phán quan điểm sai trái trên Internet).
| Nhóm nghiên cứu |
Tác giả tiêu biểu |
Trọng tâm nội dung đã công bố |
| Lý luận về ý thức chính trị |
Phan Thanh Khôi (2003), Nguyễn Duy Gia (1994), Hội đồng biên soạn giáo trình Quốc gia (2004) |
Bản chất hình thái ý thức xã hội, cấu trúc cấp độ lý luận và tâm lý chính trị, phản ánh quan hệ giai cấp |
| Ý thức chính trị thanh niên, sinh viên |
Ninel Olessitch & Victor Privalov, Bùi Quốc Hưng, Vương Hồng Sơn |
Đặc điểm nhận thức, giác ngộ lý tưởng cách mạng, vai trò tiềm năng của sinh viên |
| Thực trạng và giải pháp giáo dục |
Lê Hữu Ái, Lâm Bá Hoà, Trần Thị Ngọc Yến, Nguyễn Đình Đức, Trần Hùng |
Đánh giá thực trạng tại các trường/địa phương cụ thể, đề xuất đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về ý thức chính trị của sinh viên từ góc độ Triết học Mác - Lênin; đồng thời thực hiện khảo sát, đánh giá thực trạng trên mẫu đại diện ở cả 3 miền (Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh) từ năm 1991 đến 2016, chỉ ra các mâu thuẫn thực tiễn và xác lập hệ thống giải pháp đồng bộ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Khung lý thuyết: Dựa trên hệ thống quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về hình thái ý thức xã hội, tồn tại xã hội, đấu tranh giai cấp và quyền lực nhà nước; tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; các nghị quyết, văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách pháp luật của Nhà nước.
- Khái niệm ý thức chính trị: Là một bộ phận của hình thái ý thức xã hội trong xã hội có giai cấp và nhà nước, là hệ thống quan điểm, lý luận phản ánh các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội giữa các giai cấp, dân tộc và quốc gia, cũng như thái độ của một giai cấp, tầng lớp về địa vị lịch sử, nhiệm vụ chính trị, chiến lược, sách lược và thái độ đối với quyền lực nhà nước.
- Cấu trúc ý thức chính trị:
- Tri thức chính trị: Gồm tri thức kinh nghiệm thực tiễn và tri thức lý luận chính trị (mang tính trừu tượng, khái quát hóa cao).
- Tình cảm, niềm tin và ý chí chính trị: Tình cảm giai cấp, lòng yêu nước, niềm tin chuẩn mực, niềm tin tích cực và năng lực hành động tự giác vượt qua khó khăn.
- Lý tưởng xã hội: Quan niệm về mô hình xã hội hoàn thiện (chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản), đóng vai trò định hướng mục tiêu và phương tiện hành động.
- Cấp độ ý thức chính trị: Phân chia theo trình độ nhận thức (ý thức chính trị thông thường và ý thức chính trị lý luận); phân chia theo chủ thể mang ý thức (ý thức chính trị cộng đồng và ý thức chính trị cá nhân).
- Khái niệm sinh viên: Nhóm xã hội - nhân khẩu đặc thù gồm những người đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng, đa số trong độ tuổi từ 18 đến 25 (giai đoạn thứ hai của tuổi thanh niên), có trình độ học vấn, đang chuẩn bị thực hiện vai trò chuyên môn trong lĩnh vực sản xuất tinh thần và vật chất.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận chung là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các phương pháp thu thập và xử lý thông tin cụ thể gồm:
- Phương pháp phân tích tài liệu: Khai thác, xử lý thông tin từ các nghị quyết của Đảng, báo cáo của Ban Tuyên giáo Trung ương, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Thành đoàn các thành phố, cùng hệ thống giáo trình, luận án, bài báo khoa học.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thu thập dữ liệu định tính thông qua tương tác trực tiếp với các nhóm đối tượng: sinh viên, cán bộ quản lý giáo dục, nhà hoạch định chính sách cho sinh viên.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên sinh viên tại một số trường đại học, cao đẳng trên địa bàn Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh để thu thập thông tin định lượng sơ cấp về nhận thức, thái độ và hành vi chính trị.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Chương này điểm luận chi tiết ba luồng tài liệu học thuật: các quan niệm về ý thức chính trị; ý thức chính trị của thanh niên, sinh viên; thực trạng và giải pháp giáo dục chính trị. Tác giả khẳng định các công trình đi trước đã làm rõ ý thức chính trị là sự phản ánh lợi ích giai cấp và nhà nước. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước còn tồn tại hai khoảng trống lớn:
- Về lý luận: Chưa có công trình nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống và chuyên sâu về bản chất, cấu trúc, phương thức thể hiện đặc thù của ý thức chính trị sinh viên Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
- Về thực tiễn: Các khảo sát thực trạng trước đây chủ yếu dừng lại ở phạm vi hẹp, mang tính đặc thù ngành hoặc địa phương, thiếu dữ liệu điều tra diện rộng trên các địa bàn trọng điểm.
Chương 2: Ý thức chính trị và ý thức chính trị của sinh viên Việt Nam
Chương 2 xây dựng khung khái niệm và phân tích các phương diện bản chất của ý thức chính trị:
- Bản chất và cấu trúc ý thức chính trị: Phân tích nguồn gốc kinh tế - xã hội, các chức năng cơ bản (nhận thức, tư tưởng, giao tiếp, dự báo, giáo dục) và mối quan hệ biện chứng giữa tri thức chính trị, tình cảm - niềm tin - ý chí chính trị và lý tưởng xã hội.
- Đặc điểm sinh viên và phương thức thể hiện ý thức chính trị: Sinh viên từ 18 đến 25 tuổi có sự phát triển mạnh mẽ về thể chất, tâm lý, trí tuệ; giàu khát vọng cống hiến nhưng thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị kích động hoặc rơi vào trạng thái hoài nghi, cực đoan khi gặp khó khăn. Ý thức chính trị của sinh viên Việt Nam biểu hiện qua: tinh thần yêu nước, tính tích cực trong hoạt động chính trị - xã hội, thái độ đối với các giá trị truyền thống, tư tưởng lập thân lập nghiệp gắn liền với sự phát triển của đất nước.
- Sự cần thiết nâng cao ý thức chính trị cho sinh viên: Xuất phát từ vị trí chiến lược của sinh viên là nguồn nhân lực chất lượng cao; yêu cầu đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa phát triển toàn diện; và nhiệm vụ trực tiếp tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, âm mưu "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.
Chương 3: Thực trạng ý thức chính trị của sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Chương 3 phân tích bối cảnh tác động và thực trạng ý thức chính trị của sinh viên từ năm 1991 đến 2016:
- Các yếu tố tác động:
- Yếu tố khách quan: Sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và toàn cầu hóa; môi trường chính trị - xã hội ổn định; tác động của văn hóa, giáo dục và sự chống phá của các thế lực thù địch.
- Yếu tố chủ quan: Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 18–25, trình độ nhận thức, sự trải nghiệm thực tiễn của bản thân sinh viên.
- Thực trạng biểu hiện của ý thức chính trị sinh viên:
- Thái độ học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Đa số nhận thức được tầm quan trọng, song vẫn còn một bộ phận học tập thụ động, mang tính đối phó để tích lũy tín chỉ.
- Niềm tin đối với sự nghiệp đổi mới và định hướng lý tưởng: Phần lớn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH; tuy nhiên một bộ phận biểu hiện dao động, hoài nghi trước các mặt tiêu cực của xã hội.
- Thái độ gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa truyền thống: Đa số có ý thức tự hào dân tộc, một bộ phận có xu hướng sùng ngoại, phai nhạt bản sắc văn hóa.
- Nhận thức và ý chí thực hiện đường lối, pháp luật: Tôn trọng Hiến pháp và pháp luật, song tình trạng vi phạm nội quy, quy chế, thiếu ý thức tự giác vẫn còn diễn ra.
- Hành vi chính trị trong hoạt động đoàn thể: Tham gia các phong trào tình nguyện, phong trào thanh niên nhưng mức độ tự giác và chiều sâu chính trị chưa đồng đều.
- Nguyên nhân thực trạng:
- Nguyên nhân tích cực: Sự lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm của hệ thống chính trị, truyền thống yêu nước của dân tộc, môi trường giáo dục đại học đổi mới.
- Nguyên nhân hạn chế: Mặt trái của kinh tế thị trường; nội dung và phương pháp giáo dục lý luận chính trị chậm đổi mới, xơ cứng; sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện tự thân của một bộ phận sinh viên.
Chương 4: Những vấn đề đặt ra và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao ý thức chính trị cho sinh viên Việt Nam
Chương 4 xác định các mâu thuẫn chủ yếu và đề xuất các nhóm giải pháp:
- Một số vấn đề đặt ra (3 mâu thuẫn cơ bản):
- Mâu thuẫn giữa việc phát huy yếu tố tích cực chính trị với sự thiếu quan tâm tự giác, biểu hiện sai lệch về ý thức chính trị của một bộ phận sinh viên.
- Mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao ý thức chính trị của chủ thể giáo dục với những hạn chế, bất cập trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trước thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội phức tạp.
- Mâu thuẫn giữa chính sách đào tạo, việc làm và các chính sách khác với những bất cập trong quá trình thực thi chính sách trên thực tế.
- Bốn nhóm giải pháp cơ bản:
| Nhóm giải pháp |
Nội dung trọng tâm đề xuất |
| Nhóm giải pháp kinh tế |
Nâng cao đời sống vật chất cho sinh viên; hoàn thiện chính sách học bổng, tín dụng sinh viên; giải quyết vấn đề việc làm sau tốt nghiệp nhằm tạo động lực vật chất cho niềm tin chính trị. |
| Nhóm giải pháp chính trị - tư tưởng |
Tăng cường sự lãnh đạo của tổ chức Đảng trong trường học; đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy các môn Lý luận chính trị; chủ động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng trước âm mưu "diễn biến hòa bình". |
| Nhóm giải pháp văn hóa - xã hội |
Xây dựng môi trường văn hóa học đường lành mạnh; giữ gìn bản sắc truyền thống kết hợp hội nhập văn hóa quốc tế; phát huy vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên. |
| Tăng cường giáo dục kết hợp tự rèn luyện |
Chuyển hóa quá trình đào tạo thành tự đào tạo; nâng cao tính tự giác, tinh thần tự phê bình, khả năng tự đề kháng của sinh viên trước các thông tin sai lệch, độc hại. |
Kết quả và những đóng góp mới
-
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa, phân tích làm sâu sắc khái niệm ý thức chính trị, cấu trúc (tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí, lý tưởng), các cấp độ và chức năng của ý thức chính trị từ góc độ Triết học Mác - Lênin.
- Xác định các phương thức biểu hiện đặc thù của ý thức chính trị sinh viên Việt Nam hiện nay, nhấn mạnh tinh thần yêu nước, tính tích cực chính trị - xã hội, thái độ với truyền thống, tư tưởng lập thân lập nghiệp và khát vọng cống hiến cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
-
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh thực trạng ý thức chính trị của sinh viên Việt Nam (thông qua khảo sát tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh từ năm 1991 đến 2016), chỉ ra các mặt tích cực, hạn chế và nguyên nhân cốt lõi.
- Phát hiện và luận giải 3 mâu thuẫn lớn trong quá trình hình thành, phát triển ý thức chính trị của sinh viên giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ (kinh tế, chính trị - tư tưởng, văn hóa - xã hội, giáo dục kết hợp tự rèn luyện) mang tính khả thi nhằm nâng cao ý thức chính trị cho sinh viên trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tế của luận án giới hạn tại một số trường đại học, cao đẳng thuộc 3 trung tâm đô thị lớn (Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh) trong khung thời gian từ năm 1991 đến năm 2016, chưa khảo sát đầy đủ các cơ sở đào tạo tại các vùng sâu, vùng xa hoặc các khối ngành chuyên biệt ngoài dân sự.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Luận án gợi mở việc tiếp tục khảo sát mở rộng trên nhiều địa bàn và mô hình cơ sở đào tạo khác nhau; đi sâu phân tích tác động của các phương tiện truyền thông mới, không gian mạng xã hội và phương thức đào tạo tín chỉ đối với sự biến đổi ý thức chính trị của sinh viên trong giai đoạn tiếp theo.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý và tổ chức chính trị - xã hội: Cung cấp cơ sở lý luận và luận cứ thực tiễn cho Ban Tuyên giáo, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên Việt Nam và Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc xây dựng, hoàn thiện chính sách quản lý, định hướng tư tưởng và chế độ chính sách cho sinh viên.
- Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học: Làm tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Triết học (Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), Khoa học chính trị, Xã hội học giáo dục; hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy các môn Khoa học Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh tại các trường đại học, cao đẳng.
Câu hỏi thường gặp
1. Ý thức chính trị theo khung lý luận của luận án được cấu thành từ những yếu tố nào?
Theo luận án, ý thức chính trị được tạo thành bởi ba thành tố thống nhất biện chứng: (1) Tri thức chính trị (gồm tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận); (2) Tình cảm, niềm tin và ý chí chính trị (lòng yêu nước, sự nhạy cảm chính trị, niềm tin chuẩn mực, niềm tin tích cực và năng lực vượt khó); (3) Lý tưởng xã hội (quan niệm về mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa hoàn thiện, định hướng mục tiêu và hành vi).
2. Tác giả xác định sinh viên là đối tượng có đặc điểm tâm sinh lý và xã hội như thế nào?
Sinh viên là một tầng lớp xã hội - nhân khẩu đặc thù, đa số trong độ tuổi từ 18 đến 25 tuổi (giai đoạn thứ hai của tuổi thanh niên). Họ đang trong quá trình phát triển hoàn thiện thể chất, trí tuệ, nhân cách; có trình độ học vấn; giàu hoài bão, ước mơ cống hiến nhưng thiếu kinh nghiệm thực tiễn, tâm lý nhạy cảm, dễ nảy sinh tư tưởng cực đoan hoặc hoài nghi khi đối diện với khó khăn, mâu thuẫn đời sống.
3. Thực trạng ý thức chính trị của sinh viên được luận án đánh giá trên những phương diện biểu hiện cụ thể nào?
Luận án đánh giá thực trạng ý thức chính trị sinh viên qua 5 phương diện: (1) Thái độ trong việc học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; (2) Niềm tin đối với sự nghiệp đổi mới và định hướng lý tưởng chính trị; (3) Thái độ trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc; (4) Nhận thức và ý chí chính trị trong việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; (5) Hành vi chính trị trong các hoạt động đoàn thể chính trị - xã hội.
4. Luận án chỉ ra những mâu thuẫn cơ bản nào đang đặt ra đối với việc nâng cao ý thức chính trị của sinh viên?
Có 3 mâu thuẫn cơ bản:
- Mâu thuẫn giữa việc phát huy yếu tố tích cực chính trị với sự thiếu tự giác, biểu hiện sai lệch về ý thức chính trị của sinh viên.
- Mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao ý thức chính trị của chủ thể giáo dục với những hạn chế, bất cập trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trước thực tiễn kinh tế - xã hội phức tạp.
- Mâu thuẫn giữa chính sách đào tạo, việc làm với những bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện các chính sách đó.
5. Hệ thống giải pháp của luận án gồm những nhóm giải pháp nào?
Luận án đề xuất 4 nhóm giải pháp: (1) Nhóm giải pháp về kinh tế (đời sống, học bổng, việc làm); (2) Nhóm giải pháp về chính trị - tư tưởng (lãnh đạo của Đảng, đổi mới dạy học lý luận chính trị, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái); (3) Nhóm giải pháp về văn hóa - xã hội (môi trường học đường, tổ chức Đoàn - Hội); (4) Giải pháp tăng cường giáo dục kết hợp với tự rèn luyện ý thức chính trị của sinh viên.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Đình Khuê đã làm rõ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về ý thức chính trị và ý thức chính trị của sinh viên Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Qua khảo sát thực tiễn tại các trường đại học, cao đẳng ở Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1991–2016, công trình đã phân tích toàn diện các mặt tích cực, hạn chế, nguyên nhân và chỉ ra 3 mâu thuẫn cơ bản đang đặt ra. Hệ thống 4 nhóm giải pháp (kinh tế, chính trị - tư tưởng, văn hóa - xã hội, giáo dục kết hợp tự rèn luyện) được xây dựng đồng bộ, đóng góp luận cứ khoa học cho công tác hoạch định chính sách thanh niên và giảng dạy lý luận chính trị hiện nay.