Luận án tiên sĩ y học đề tài nghiên cứu điêu trị glôcôm giả tróc bao bằng tạo hình vùng bè laser chọn lọc

Tài liệu nghiên cứu Luận án tiên sĩ y học đề tài nghiên cứu điêu trị glôcôm giả tróc bao bằng tạo hình vùng bè laser, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Nhãn Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Y Học

2022

148
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Glôcôm giả tróc bao

1.1.1. Đặc điểm dịch tễ

1.1.2. Cơ chế bệnh sinh

1.1.3. Tổn thương dây chẳng Zinn

1.1.4. Tổn thương mống mắt

1.1.5. Tổn thương mạch máu mống mắt

1.1.6. Cơ chế tăng nhãn áp trong hội chứng giả tróc bao

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Phương pháp, công cụ đo lường, thu thập số liệu

2.4. Quy trình nghiên cứu

2.5. Xác định các biến số độc lập và phụ thuộc

2.6. Phương pháp phân tích dữ liệu

2.7. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm bệnh nhân glôcôm giả tróc bao

3.2. Hiệu quả hạ nhãn áp theo thời gian của 2 phương pháp

3.3. Tác dụng ngoại ý và biến chứng của 2 phương pháp

3.4. Kết quả của những trường hợp điều trị bổ sung ở 2 nhóm

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Bàn luận về đặc điểm bệnh nhân glôcôm giả tróc bao

4.2. Bàn luận về hiệu quả hạ nhãn áp theo thời gian của 2 phương pháp

4.3. Bàn luận về tác dụng ngoại ý và biến chứng của 2 phương pháp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu điều trị glôcôm giả tróc bao

Nghiên cứu điều trị glôcôm giả tróc bao bằng tạo hình vùng bè laser chọn lọc là một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực nhãn khoa. Glôcôm giả tróc bao là một dạng bệnh lý phức tạp, thường gặp ở người cao tuổi và có thể dẫn đến mù lòa nếu không được điều trị kịp thời. Việc áp dụng các phương pháp điều trị hiệu quả như tạo hình vùng bè laser chọn lọc không chỉ giúp kiểm soát nhãn áp mà còn giảm thiểu nguy cơ biến chứng cho bệnh nhân.

1.1. Đặc điểm của glôcôm giả tróc bao và tầm quan trọng của nghiên cứu

Glôcôm giả tróc bao là một trong những nguyên nhân chính gây mù lòa. Tình trạng này thường xảy ra ở những người trên 60 tuổi, với tỷ lệ mắc bệnh ngày càng tăng. Nghiên cứu này nhằm mục đích làm rõ đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân, từ đó đưa ra phương pháp điều trị hiệu quả.

1.2. Tình hình nghiên cứu glôcôm trên thế giới và tại Việt Nam

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng glôcôm giả tróc bao có tỷ lệ mắc cao và diễn tiến nhanh. Tại Việt Nam, tình hình nghiên cứu về bệnh lý này còn hạn chế, do đó cần thiết phải có những nghiên cứu sâu hơn để cải thiện chất lượng điều trị.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị glôcôm giả tróc bao

Điều trị glôcôm giả tróc bao gặp nhiều thách thức do tính chất phức tạp của bệnh. Bệnh nhân thường có đáp ứng kém với thuốc hạ nhãn áp, và việc lựa chọn phương pháp phẫu thuật cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Những khó khăn này đòi hỏi các bác sĩ phải tìm kiếm các giải pháp điều trị hiệu quả hơn.

2.1. Khó khăn trong việc sử dụng thuốc hạ nhãn áp

Nhiều bệnh nhân gặp khó khăn trong việc duy trì sử dụng thuốc hạ nhãn áp do chi phí cao và sự không tuân thủ điều trị. Điều này dẫn đến tình trạng tăng nhãn áp và tiến triển của bệnh.

2.2. Nguy cơ biến chứng trong phẫu thuật điều trị glôcôm

Phẫu thuật điều trị glôcôm giả tróc bao có thể gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng. Do đó, việc lựa chọn phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả là rất cần thiết.

III. Phương pháp điều trị glôcôm giả tróc bao bằng laser chọn lọc

Tạo hình vùng bè laser chọn lọc (THVBLCL) là một phương pháp điều trị mới, giúp giảm nhãn áp hiệu quả cho bệnh nhân glôcôm giả tróc bao. Phương pháp này sử dụng laser Nd:YAG để tác động lên các tế bào sắc tố ở vùng bè, từ đó cải thiện khả năng thoát lưu thủy dịch.

3.1. Nguyên lý hoạt động của phương pháp THVBLCL

THVBLCL hoạt động dựa trên nguyên lý sử dụng laser để tác động lên các tế bào sắc tố, giúp cải thiện khả năng thoát lưu thủy dịch và giảm nhãn áp cho bệnh nhân.

3.2. So sánh hiệu quả giữa THVBLCL và thuốc hạ nhãn áp

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng hiệu quả của THVBLCL tương đương với thuốc hạ nhãn áp nhóm prostaglandin, nhưng với chi phí điều trị thấp hơn và ít tác dụng phụ hơn.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng THVBLCL có hiệu quả cao trong việc giảm nhãn áp cho bệnh nhân glôcôm giả tróc bao. Kết quả cho thấy tỷ lệ thành công của phương pháp này cao, đồng thời giảm thiểu nguy cơ biến chứng so với các phương pháp điều trị khác.

4.1. Đánh giá hiệu quả hạ nhãn áp theo thời gian

Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả hạ nhãn áp của THVBLCL duy trì ổn định trong thời gian dài, giúp bệnh nhân kiểm soát tốt tình trạng bệnh.

4.2. Tác dụng ngoại ý và biến chứng của THVBLCL

Mặc dù THVBLCL có nhiều ưu điểm, nhưng vẫn cần theo dõi các tác dụng ngoại ý có thể xảy ra. Nghiên cứu đã ghi nhận tỷ lệ biến chứng thấp, cho thấy tính an toàn của phương pháp này.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu điều trị glôcôm giả tróc bao bằng tạo hình vùng bè laser chọn lọc đã mở ra hướng đi mới trong điều trị bệnh lý này. Kết quả cho thấy phương pháp này không chỉ hiệu quả mà còn an toàn, hứa hẹn sẽ trở thành lựa chọn hàng đầu cho bệnh nhân.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu trong điều trị glôcôm

Nghiên cứu này góp phần nâng cao hiểu biết về glôcôm giả tróc bao và mở ra cơ hội điều trị hiệu quả hơn cho bệnh nhân.

5.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo trong điều trị glôcôm

Cần tiếp tục nghiên cứu để đánh giá lâu dài hiệu quả của THVBLCL và tìm kiếm các phương pháp điều trị mới, nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

27/07/2025
Luận án tiên sĩ y học đề tài nghiên cứu điêu trị glôcôm giả tróc bao bằng tạo hình vùng bè laser chọn lọc

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TÔNG QUAN 1. GLUÔCÔM GIÁ TRÓC BAO 1. Đặc điểm dịch tế 1. Hội chứng giả tróc bao Hội chứng giả tróc là một rỗi loạn của cầu trúc chất nền ngoại bào liên quan đến tuôi, hội chứng giả tróc bao được xem là nguyên nhân dẫn đến bệnh lý glôcôm giả tróc bao.

Tỉ lệ mắc hội chứng giả tróc bao tăng theo tuôi, các nghiên cứu cho thấy có đến 30% người trên 60 tuôi có những bất thường vi thể biểu hiện bằng sự lắng đọng của các chất dạng sợi nhỏ trên bề mặt các cầu trúc nội nhãn ở phần trước nhãn cầu, những chất này được gọi là “chất giả tróc bao” [109]. Ngày nay, hội chứng giả tróc bao được xem là một tình trạng toàn thân với chất liệu giả tróc bao hiện diện ở khắp nơi †rong cơ thê, liên quan đến một số bệnh lý tim mạch, bệnh lý mạch máu não và điếc cảm nhận thần kinh [24]. Khoảng 90 năm trước, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy sự thay đối của bề mặt bao trước thê thủy tinh trong hội chứng giả tróc bao và cho rằng đó là nguyên nhân của tình trạng glôcôm thứ phát. Những phát hiện về sau cho thấy trong hội chứng giả tróc bao có sự thay đổi mô học liên quan đến nhiều cấu trúc ở phần trước nhãn cầu như tình trạng rung thể thủy tinh, lệch thể thủy tinh, giôcôm góc đóng, lắng đọng sắc tố, giảm khả năng thoát lưu vùng bè, dính mồng mắt và bệnh lý nội mô giác mạc mất bù.

Những thay đôi về mặt cấu trúc này cũng là nguyên nhân dẫn đến các biến chứng liên quan đến phẫu thuật thường gặp liên quan đến hội chứng giả tróc bao như: đứt dây chằng Zimn, rách bao sau gây thoát dịch kính, phản ứng viêm sau mô, cơn tăng nhãn áp và tình trạng lệch kính nội nhãn. Một nghiên cứu cho thấy có khoảng 16% bệnh nhân khi được chân đoán hội chứng giả tróc bao đã phải điều trị thuốc hạ nhãn áp ngay tại thời điểm phát hiện và trong những bệnh nhân còn lại có đến 449% cần được điều trị trong thời gian 15 năm tiếp theo [49]. Bệnh nhân có tăng nhãn áp kèm theo hội chứng giả tróc bao có nguy cơ tiến triển thành giôcôm cao gấp 2-3 lần so với bệnh nhân tăng nhãn áp đơn thuần không kèm theo hội chứng giả tróc bao [34]. Hội chứng giả tróc bao có ở khắp nơi trên thế giới nhưng có tần suất cao tại các nước vùng Scandinavia.

Tần suất thay đổi theo từng quốc gia, theo từng vùng trong mỗi quốc gia, theo chủng tộc và theo tuôi. Tần suất khoảng 20% ở Phần Lan và cao hơn 28% ở Iceland, nhưng chỉ có 5% ở Đan mạch, cao đến 38% ở Arizona Navajo [23]. Một số nghiên cứu dịch tế cho rằng tỷ lệ hội chứng xảy ra ở nữ nhiều hơn nam, một số khác lại không thấy sự khác biệt giữa 2 giới [23I. Glôcôm giả trúc bao Giôcôm giả tróc bao xảy ra ở khoảng 40 — 50% bệnh nhân có hội chứng giả tróc bao và tỷ lệ này tăng theo tuổi của bệnh nhân.

Nghiên cứu của tác giả Drolsum (1993) đã cho thấy ở những mắt có hội chứng giả tróc bao có đến 48,9% mắt tiễn triển thành glôcôm giả tróc bao, trong khi đó chỉ có 6,8% mắt không có hội chứng giả tróc bao tiến triển thành glôcôm [24]. Tại Phần Lan, tần suất là 10% ở người 60 — 69 tuổi, tăng đến 33% ở người 80 — 89 tuổi [23], [107]. Một nghiên cứu khác cho thấy phần trăm nguy cơ tích lũy phát triển thành glôcôm trên bệnh nhân có hội chứng giả tróc bao là 5,3% sau 5 năm theo dõi và 15,4% sau 10 năm theo dõi, điều này tương đương với nguy cơ phát triển thành glôcôm cao gấp 10 lần so với dân số bình thường [110]. Mặc dù glôcôm giả tróc bao là bệnh lý glôcôm góc mở thứ phát thường gặp nhất, nhưng vẫn có từ 9-18% bệnh nhân glôcôm giả tróc bao là góc đóng (do tình trạng suy yếu của dây chăng Zinn làm thể thủy tinh di lệch ra trước) [29].

Giôcôm giả tróc bao có diễn tiến nhanh hơn so với giôcôm góc mở nguyên phát, theo nghiên cứu Early Manifest Glaucoma Trial (EMGT) thì giôcôm giả tróc bao có nguy có tiến triển cao gấp 2,12 lần so với glôcôm góc mở nguyên phát [37]. So với bệnh lý glôcôm góc mở nguyên phát thì glôcôm giả tróc bao có diễn tiễn nhanh hơn và nặng hơn với biên độ dao động nhãn áp trong ngày cao, tôn thương thần kinh thị tiến triển nhanh và khả năng đáp ứng với điều trị kém hơn [23], [34]. Cơ chế bệnh sinh Đặc trưng của hội chứng giả tróc bao là sự hình thành và tích tụ các chất dạng sợi hay còn gọi “chất giả tróc bao” bất thường chất nền ngoại bào ở phần trước nhãn câu. Nghiên cứu về cấu trúc vi thể cho thấy các chất giả tróc bao được tạo ra bởi nhiều loại tế bào nội nhãn bao gồm: các tế bào biêu mô thể thủy tinh quanh xích đạo, tế bào biểu mô thể mi không sắc tố, tế bào nội mô vùng bè, tế bào nội mô giác mạc, tế bào nội mô mạch máu và các loại tế bào của mống mắt [90].

Chất giả tróc bao bao gồm các sợi có độ dày từ 10-12nm, được sắp xếp dưới dạng ma trận hoặc cuộn lại hình xoắn ốc. Nhuộm hóa mô miễn dịch cho thấy các chất giả tróc bao gồm thành phân protein và glyeosaminoglycans. Tuy nhiên, các nghiên cứu chuyển hóa về sự kết hợp giữa các axit amin thành protein đã không cho thấy sự khác biệt giữa mô bình thường và chất giả tróc bao [39]. Có nhiều giả thuyết về cơ chế bệnh sinh của chất giả tróc bao được đưa ra bao gồm: giả thuyết về tình trạng thoái hóa dạng tinh bột, giả thuyết về bệnh lý màng đáy và giả thuyết vi sợi đàn hồi.

Cơ chế bệnh sinh và thành phần chính xác của chất giả tróc bao cho đến nay vẫn chưa được biết rõ. Tuy nhiên, sự xuất hiện của chất giả tróc bao có thê liên quan đến yếu tổ di truyền, môi trường, chân thương và/hoặc yếu tô miễn dịch [25]. Các nghiên cứu về bất thường gen trong những năm gân đây đã cho thấy có mối liên quan giữa đột biến trên gen lysil-oxydase-like 1 (LOXLI) và nguy cơ mắc hội chứng giả tróc bao. Gen LOXL1 mã hóa cho enzyme cần thiết cho quá trình tổng hợp elastine.

Do đó, bất thường của gen LOXLI có thể dẫn đến sự sản xuất bất thường elastin và tích tụ các chất dạng sợi từ đó gia tăng kháng lực ở vùng bè. Bên cạnh đó, biểu hiện bất thường của gen LOXLI1 có thể dẫn đến sự thoái hóa của mô liên kết, đặc biệt là ở vùng lá sàng dẫn đến tăng nguy cơ tôn thương đầu thân kinh thị khi nhãn áp tăng [84]. Tổn thương dây chẳng Zinn Về mặt hình thái, bao trước và bao sau của thê thủy tinh vẫn giữ độ dày và độ đàn hồi tương tự như mắt bình thường. Tuy nhiên, bao thê thủy tính ở vùng quanh xích đạo nơi chứa các tế bào biểu mô thể thủy tinh và là nơi bám vào của các dây chằng Zimn lại có sự thay đổi đáng kể.

Tại vùng này, các bó sợi giả tróc bao xuất phát từ các tế bào biểu mô thể thủy tinh phá vỡ bao thể thủy tinh và xâm lắn vào các sợi dây chẳng Zinn. Từ đó, dẫn đến sự phân tách giữa các sợi dây chẳng Zinn với bao thê thủy tinh [112]. Tương tự như vậy, tại vị trí nguyên ủy nơi các sợi dây chăng Zinn bám vào lớp tế bào biểu mô không sắc tố của thê mi, lớp màng đáy của lớp tế bào biểu mô bị phá vỡ do sự lắng đọng đan xen của các sợi giả tróc bao. Từ đó phá vỡ sự liên kết với các sợi dây chăng Zimn [112].

Những thay đôi của các cầu trúc phía sau mống mắt thường không quan sát được trên lâm sàng. Tuy nhiên, khi các sợi dây chẳng Zinn mất đi tính ôn định đáng kể trên lâm sàng sẽ có biểu hiện như rung thê thủy tinh hoặc lệch thê thủy tinh (hình 1. Khi thể thủy tinh đi chuyển ra phía trước sẽ gây ra tình trạng nghẽn đồng tử hoặc glôcôm góc đóng.1: Dây chẳng Zinn vùng thể mi và xích đạo thê thủy tỉnh với kính hiển vi điện tử. “Nguồn: Schlötzer-Schrehardi, 1994 [112J” Khi chụp hình trên kính hiễn vi điện tử cho thấy sự tích tụ của chất giả tróc bao trên các sợi dây chẳng Zinn ở vùng thể mi và xích đạo thể thủy tinh (hình 1.

Tổn thương mỗng mắt Trong hội chứng giả tróc bao, sự thay đổi của mống mắt được ghi nhận sớm nhất, trong đó tất cả các câu trúc và tế bào của mống mắt đều bị ảnh hưởng. Về mặt lâm sàng, quan sát thấy đồng tử cứng, giãn kém, nguyên nhân là do các chất giả tróc bao lắng đọng trong nhu mô mống mắt kèm theo đó là sự thoái hóa của các cơ vòng và cơ tia mống mắt [60]. Lớp tế bào biểu mô sắc tố ở mặt sau mống mắt bị thoái hóa với sự phá vỡ màng đáy khu trú, dẫn đến sự hình thành các lỗ teo mống mắt chu biên và sự phân tân các hạt sắc tố melanin vào trong tiền phòng. Bên cạnh đó là sự thoái hóa của mạch máu trong nhu mô mống mắt, dẫn đến tình trạng giảm tưới máu và giảm oxy cung cấp cho tiền phòng.

Trên hình chụp fluorescein bán phân trước, có thể thấy tình trạng thoát dịch từ mạch máu mồng mắt [38]. Tổn thương mạch máu mống mắt trong hội chứng giả tróc bao còn liên quan đến sự phá vỡ hàng rào máu - thủy dịch, dẫn đến tình trạng giả viêm màng bồ đào do tăng phóng thích các protein vào trong thủy dịch (hình 1. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến sự tăng tình trạng viêm sau mô (mồ đục thể thủy tinh, mỗ cắt bè củng mạc. ) trên bệnh nhân có hội chứng giả tróc bao [69], [92].2: Sự thay đối cầu trúc mạch máu mống mắt.

Cơ chế tăng nhãn áp trong hội chứng giả tróc bao Hội chứng giả tróc bao có thể gây nên tình trạng tăng nhãn áp và dẫn đến bệnh lý glôcôm thứ phát hay còn gọi là glôcôm giả tróc bao. Mặc dù phần lớn các trường hợp glôcôm giả tróc bao là góc mở, nhưng do tình trạng suy yếu dây chẳng Zimn và thay đổi của mống mắt nên một số trường hợp thể thủy tinh bị đây lệch về phía trước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ