phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận án được xây dựng trên những chương trọng tâm sau: Chƣơng 1: Nghiên cứu tổng quan Nội dung chính của chương là khái lược quá trình nghiên cứu văn chương Tản Đà, qua đó đánh giá những thành tựu đã đạt được từ hướng tiếp cận cũ và đặt ra những vấn đề trọng tâm, cần giải quyết của luận án ở thời điểm hiện tại (27 trang). Chƣơng 2: Vấn đề liên văn hóa trong văn chƣơng của Tản Đà Thông qua việc miêu tả khung lí thuyết liên văn hóa và xác lập tiền đề liên văn hóa trong văn chương Tản Đà, nội dung của chương 2 sẽ tập trung nhận diện nền tảng văn hóa căn cốt, giữ vai trò như những tham số góp phần định hình thế giới quan, nhân sinh quan và tác động tới xu hướng thẩm mĩ của Tản Đà (31 trang). Chƣơng 3: Tƣ duy thẩm mĩ trong văn chƣơng của Tản Đà từ góc nhìn liên văn hóa Từ những tiền đề liên văn hóa đã được nhận diện ở chương 2, luận án sẽ đi sâu vào phân tích, lí giải những biểu hiện trong tư duy thẩm mĩ của văn chương Tản Đà dưới điểm nhìn liên văn hóa. Điều đó được cụ thể hóa bằng các luận điểm: sự tương tác trong quan niệm thẩm mĩ của Tản Đà, sự thay đổi trong quan niệm văn chương của Tản Đà và sự chuyển tiếp quan niệm về con người trong văn chương Tản Đà (37 trang).
Chƣơng 4: Hình thức thẩm mĩ trong văn chƣơng của Tản Đà từ góc nhìn liên văn hóa Chương 4 tập trung vào những vấn đề: sự đa dạng trong hệ thống thể loại của văn chương Tản Đà, sự phối trộn trong ngôn ngữ nghệ thuật của văn chương Tản Đà và sự cộng hưởng trong giọng điệu nghệ thuật của văn chương Tản Đà. Thông qua hệ thống luận điểm đó, luận án hướng tới việc diễn giải những biểu hiện trong hình thức thẩm mĩ của văn chương Tản Đà dưới điểm nhìn liên văn hóa (35 trang). Trang 5 CHƢƠNG 1 NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 1. Khái lƣợc quá trình nghiên cứu văn chƣơng Tản Đà Có thể nói, gần một thế kỉ qua, con đường giải mã văn chương của Tản Đà diễn ra sôi nổi, lấp lánh nhiều mĩ từ, nhưng cũng vấp phải không ít những đối thoại gay gắt, thậm chí trái chiều về những điều còn tồn nghi.
Bởi vậy, trong phần này, chúng tôi tiến hành mô tả khái lược quá trình nghiên cứu về Tản Đà, để thấy được những thành tựu và những vấn đề chưa thấu triệt của các tiền nhân, đồng thời đề xuất một hướng đi mới trong việc tiếp cận văn chương Tản Đà. Hướng nghiên cứu từ góc nhìn tiểu sử học Nghiên cứu văn chương Tản Đà dưới góc nhìn tiểu sử học là một hướng thịnh hành trong thời kì trước 1945. Có thể nói, cuộc đời của Tản Đà rất đặc biệt, với những thăng trầm, biến cố đã tác động mạnh mẽ đến cá tính và in dấu đậm nét trong thế giới nghệ thuật của ông. Nhà thơ Lưu Trọng Lư, dù có lúc không ưa gì cái tôi “kềnh càng” của Tản Đà trong đời thực, nhưng vẫn phải thừa nhận: “Con người Nguyễn Khắc Hiếu chính là cái tác phẩm tuyệt xảo, một bài thơ hay nhất trong sự nghiệp của Tản Đà” [194, tr.
Ở hướng tiếp cận này, Trương Tửu là một trong số những học giả đã nghiên cứu khá sâu, rộng về cuộc đời và thi nghiệp của Tản Đà. Dưới góc nhìn tiểu sử học gắn liền với quan điểm lịch sử - xã hội, Uống rượu với Tản Đà (1939) là một công trình nghiên cứu nổi bật của Trương Tửu, khai mở nhiều đường hướng độc đáo trong việc tiếp cận thơ ca của Tản Đà. Trương Tửu cho rằng, xuất phát từ sự đổ vỡ trong tình yêu thời niên thiếu với giai nhân hàng Bồ, nên “khách tài hoa ôm một tiếc hận nặng nề, nghìn thu không cởi được” [136, tr.26] cho nên mãi về sau, thế giới văn chương Tản Đà luôn đeo đẳng cái lãng mạn, sầu muộn của “một tâm hồn dễ xúc động, dễ bị đốt nóng bởi những trạng huống tâm lí của đời tài hoa xấu số” [136, tr. Sự kiện năm 1913, Tản Đà quy ẩn ở Non Tiên, bế quan ở Cổ Đằng, sống ẩn dật, ăn chay trường, sa đọa trong men rượu và sinh sự chán đời, nhưng sau ba tháng trở về quê thì “mỗi ngày cũng chỉ một bữa ăn, hoặc là cái thủ heo, hoặc là con gà con vịt, hoặc con cá, tất toàn thể đặt trong mâm với con dao đĩa muối, rượu thì uống hũ không uống chai” [136, tr.34] đã khiến tâm lí Tản Đà có nhiều thay đổi.
Cùng khai thác vào biến cố “Mối tình đầu của Tản Đà”, tác giả Nguyễn Thiên Thụ, trong cuốn Tản Đà, Thực và Mộng (1975), đã khái quát những luận điểm tương đối gợi mở: “Tản Đã đã ôm ấp bao mộng đẹp nhưng rồi bao mộng ước đã biến thành ảo mộng thảm thương! Mộng khoa danh tan vỡ kéo theo sự sụp đổ của giấc mộng tình. Tản Đà đau khổ. Tản Đà điên loạn. Sau khi say men tình, Tản Đà say men rượu để quên đời, quên mộng.
Tản Đà là một Trang sinh mê hồ điệp. Và đời chính là một cơn trường mộng, Tản Đà say hết mộng này đến mộng khác. Chu Kiều Oanh, Vân Anh là những phó bản của mối tình lý Trang 6 tưởng” [157, tr. Chính cái thời điểm khủng hoảng trong tinh thần này đã biến Tản Đà trở thành một tín đồ Epicurus đích thực với “tư tưởng tôn thờ khoái lạc”.
Dõi theo những bước đường thăng trầm trong cuộc đời và thi nghiệp của Tản Đà, Trương Tửu khẳng định ông là một nhà nho chính thống với những nhân cách cao đẹp: “Tôi nói nhà nho và tôi dụng tâm nhắc đi nhắc lại danh từ ấy. Vì tôi nhận thấy Tản Đà tiên sinh là Nho sĩ hơn là thi sĩ, là Nho sĩ tài hoa hơn là Nho sĩ chính thống. Tiên sinh ngông hay mộng cũng vẫn giữ cốt cách Nho gia” [136, tr. Trước đó, trên Văn học tạp chí (số 16, 1933), trong bài nghiên cứu “Ấm Hiếu không thể làm tú khôi hay là một cái tỷ hiệu - Luận giữa Phan Khôi và Nguyễn Khắc Hiếu”, tác giả Dương Tụ Quán đã nhấn mạnh đến “giềng mối cố kết với Nho học” của Tản Đà từ thủa ấu thơ.
Dương Tụ Quán cho rằng, đó là yếu tố cốt lõi ảnh tưởng tới toàn bộ sáng tác của Tản Đà, và chính nó làm nên điểm khác biệt giữa hai con người đầy cá tính này: “Trong các nhà nho thuần túy ấy, chính Khắc Hiếu là một. Khắc Hiếu cũng được đào tạo bởi cái lò Khổng - Mạnh như Phan Khôi, song Khắc Hiếu không ra ngoài cái phạm vi Khổng giáo, nhất cử nhất động đều lấy thánh mô hiền phạm làm khuôn mẫu cho mình. Coi những cái đó như là thiên kinh địa nghĩa” [33, tr. Đây là những kết luận mà sau này đã vấp phải nhiều ý kiến trái chiều, nhất là những học giả nghiên cứu văn chương Tản Đà dưới góc độ xã hội học.
Tác giả Nguyễn Văn Phúc, một người cháu của Tản Đà, do có thời gian tiếp xúc trực tiếp với thi nhân từ nhỏ, nên khi nghiên cứu văn chương Tản Đà dưới góc độ tiểu sử học, ông đã có nhiều trang viết chân thực và xúc động, ẩn chứa một tình cảm trân quý, dạt dào dành cho thi nhân. Trong cuốn Tôi với Tản Đà, in lần đầu 1945 tại nhà xuất bản Đời Mới, Nguyễn Văn Phúc đã tái hiện lại chân dung thi nhân xoay quanh những kỉ niệm với chính bản thân mình, đặc biệt là thời niên thiếu của Tản Đà. Sau gia biến, cha mất, mẹ và chị quay lại xóm bình khang, “cậu ấm Hiếu” ở cùng người anh Nguyễn Tái Tích ở Khê Thượng: “Tản Đà thưởm đượm được những tư tưởng thanh cao, đã sống được ra ngoài vòng tầm thường của thế tục, hơn nữa đã súc tích được một nguồn thơ mãnh liệt, đã ủ ấp được những cảm xúc dồi dào. Tâm hồn người rung động theo nhịp điệu của hồn quê” [136, tr.
Sau này, những hình ảnh về cuộc sống giản dị, những tình cảm chân chất, cùng thứ ngôn ngữ mộc mạc, đời thường đã trở thành một điểm ưu trội trong thế giới nghệ thuật của Tản Đà. Nó tựa như sợi dây vô hình, liên kết nguồn mĩ cảm trong tư duy của một văn sĩ đô thị với thứ văn chương nôm na, bình dân, gắn liền với cuộc sống “sau lũy tre làng”. Nguyễn Mạnh Bổng với bài “Thân thế và sự nghiệp văn chương của thi sĩ” in năm 1944, nhà xuất bản Hương Sơn, và Ngô Bằng Giực với bài “Góp phần tìm hiểu Tản Đà” in trên Văn hóa tùng thư năm 1951, đã mang đến những cảm nhận mới mẻ về cuộc đời Tản Đà. Đó là hai công trình nghiên cứu nghiêm cẩn, công phu, tái hiện gần Trang 7 như toàn bộ văn nghiệp và cuộc đời của Tản Đà từ khi còn là “cậu ấm” ở Sơn Tây, cho đến khi thi nhân về cõi vĩnh hằng ở Ngã Tư Sở.
Nguyễn Mạnh Bổng đã lí giải tương đối chi tiết những bước đường thăng trầm trong cuộc đời Tản Đà gắn liền với những biến thiên trong nội dung văn chương. Dẫu còn một số luận điểm còn tương đối chủ quan, nhưng cơ bản, Nguyễn Mạnh Bổng đã đưa ra nhiều nội dung thuyết phục, là một tài liệu quan trọng để hậu thế có thể căn cứ giải mã “hiện tượng văn chương” phức tạp như Tản Đà. Tác giả cho rằng, ở tuổi thơ ấu, khi cha mất sớm, mẹ và chị gái trở lại xóm bình khang, những sự kiện này đã trở thành “cái mầm yếm thế”, “mà trong văn chương và tác phẩm tiên sinh mới có đôi bài chưa giọng chán đời vậy” [43, tr. Cho đến mãi sau này, dù tâm trạng chán chường không còn thúc giục thường xuyên, nhưng sự “chán đời” và cái thăng trầm của số phận vẫn đeo đẳng thi nhân, như một ám ảnh trong tâm thức lẫn thi hứng.
Khi làm chủ bút An Nam tạp chí (1926-1933), dẫu ban đầu mang cái nhiệt thành hăng hái, nhưng thời thế lận đận, Tản Đà vào Nam ra Bắc, sống dở chết dở tới 5 lần cùng tờ báo, cho nên Nguyễn Mạnh Bổng gọi Tản Đà là một nhà “tư bản chuồn chuồn”: “Nhà thi sĩ sống với cảm tình của quốc dân cũng không được vững vàng bền dai, rồi lại tự đình bản để dịch Đường thi cho báo Ngày nay, chú thích truyện Kim Vân Kiều và dịch Liêu trai cho nhà xuất bản Tân Dân […]. Sinh nhai đạm bạc mới tính đến cách xem thêm số Hà Lạc” [43, tr.