mở đầu cho sự hình thành của thể loại truyện Nôm bác học với tác phẩm Song Tinh Bất Dạ. Dù chưa thực sự khảo sát sâu, nhưng Bùi Văn Nguyên đã khái quát được một số đặc điểm tiêu biểu của văn học Đàng Trong thời kỳ này: “tuy về số lượng cũng như chất lượng chưa cao, nhưng đã phát triển được khá đầy đủ các mặt như tình yêu thiên nhiên đất nước, tính tiết tháo, tính trữ tình, tính tố cáo hiện thực xã hội, và do đó đã phản ánh được phần nào chế độ phong kiến Đàng Trong thời bấy giờ” [107, tr. Chúng tôi không hoàn toàn tán thành cách đánh giá văn học nói chung và văn học Đàng Trong nói riêng từ quan điểm mác xít cơ giới như thế nhưng cũng phải thừa nhận đóng góp của các tác giả khi nỗ lực đặt văn học Đàng Trong vào một góc nhìn riêng. Tuy nhiên, đến cuốn tập III của bộ giáo trình này (Lê Trí Viễn - Phan Côn - Đặng Thanh Lê - Phạm Văn Luận - Lê Hoài Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1962), nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam từ giữa thế kỷ XVIII đến 1858, thì chỉ có một 19 số tác giả văn học Đàng Trong được điểm tên khi cần minh định cho một vấn đề nào đó.
Chẳng hạn, Phong trúc tập của Ngô Thế Lân được nhắc đến khi nhóm nghiên cứu phân tích khuynh hướng đấu tranh và tố cáo hiện thực; Hoài Nam khúc của Hoàng Quang là điển hình cho khuynh hướng bi quan và bảo thủ phản động. Không có bất kỳ tác giả nào được nhắc đến ở phần viết riêng. Cũng như không có bất kỳ đánh giá nào dành riêng cho văn học Đàng Trong thời điểm này. Tình hình như thế tiếp tục tái diễn ở bộ giáo trình của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (sau này là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) 1.
Trong cuốn Văn học cổ Việt Nam, Tập II (Thế kỷ XVI - thế kỷ XVII) (Đinh Gia Khánh - Bùi Duy Tân, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1964), nhóm tác giả không có bất kỳ một nhận định hay một lưu ý đặc biệt nào về sự xuất hiện của vùng văn học Đàng Trong trên bản đồ văn học Việt. Mặc dù đã dành một mục riêng giới thiệu về Đào Duy Từ như một gương mặt “tiêu biểu của văn học miền Nam sông Gianh thế kỷ XVII”, nhưng ngoài việc cung cấp hiểu biết thông dụng về hai tác phẩm nổi bật của họ Đào - Ngọa Long cương vãn và Tư Dung vãn, ấn tượng để lại không thực sự sắc nét. Người đọc khó có thể có những hình dung tổng lược về diện mạo của một vùng văn học. Về sau, khi tái bản, lập thành bộ giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam, giai đoạn văn học này gần như được viết lại trong hai tập Văn học Việt Nam thế kỷ thứ X nửa đầu thế kỷ thứ XVIII (Đinh Gia Khánh - Bùi Duy Tân - Mai Cao Chương, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tập I - năm 1978, tập II - năm 1979), nhưng thành tựu của nhóm tác giả chủ yếu tập trung ở việc khắc họa diện mạo văn học Đàng Ngoài/ miền Bắc các thế kỷ.
Sáng tác của các tác giả Đàng Trong/ miền Nam vẫn còn là một “vùng đất trống” chưa được “canh tác” kỹ lưỡng. Mặc dù Bùi Duy Tân khi khảo về “Văn học từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII” đã nhắc đến khu vực văn học này, thậm chí tần suất nhắc đến các tác giả, tác phẩm Đàng Trong có phần dày đặc và thường xuyên hơn nhiều công trình nghiên cứu khác, 1 Riêng trong phần trình bày về bộ giáo trình của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, chúng tôi không tuân thủ cách sắp xếp theo trật tự thời gian xuất bản. Để thuận tiện cho tư duy logic, chúng tôi trình bày hai cuốn do Đinh Gia Khánh chủ biên, khảo về “Văn học cổ Việt Nam (thế kỷ X - thế kỷ XVII)” (xuất bản lần đầu năm 1964) trước cuốn của Hoàng Hữu Yên - Nguyễn Lộc, khảo về “Văn học Việt Nam thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX” (xuất bản lần đầu năm 1962). Và cũng vì mục đích tương tự, nên chúng tôi trình bày “liền khối” những cuốn sách liên quan trong bộ giáo trình văn học sử kể trên của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, chứ không xen kẽ cuốn Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Tập II: “Văn học lịch triều – Việt văn” của Phạm Thế Ngũ, và Lịch sử văn học Việt Nam sơ giản của nhóm Văn Tân - Hồng Phong, dù lượt in đầu tiên là năm 1963, trước cuốn của Hoàng Hữu Yên – Nguyễn Lộc và cuốn của Đinh Gia Khánh chủ biên.
20 nhưng căn bản chỉ coi đó như những cứ liệu cần thiết minh chứng cho “Sự phong phú về mặt đề tài và thể loại văn học biểu hiện những xu thế mới của xã hội Đại Việt từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII” 1. Và dù rằng Bùi Duy Tân đã khẳng định: “Nói về văn học trong các thế kỷ này cần chú ý đến lực lượng sáng tác ở Đàng Trong”, nhưng với cách trình bày về các tác giả, tác phẩm lẩn khuất giữa đông đảo tác giả - tác phẩm Đàng Ngoài vốn đã quá quen thuộc với nhận thức thông thường, người đọc chưa thể có một ấn tượng đặc biệt nào về vùng văn học Đàng Trong. Tương tự, trong giáo trình Văn học Việt Nam thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX (Hoàng Hữu Yên - Nguyễn Lộc, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1962), về sau Nguyễn Lộc tái bản, chỉnh sửa, bổ sung thành hai tập Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX (NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1976 - 1978)2, chất liệu nghiên cứu chủ yếu là các sáng tác ở Đàng Ngoài. Ngoại trừ “Tuồng” (chương mười hai) [89, tr.
391 - 420] là chương duy nhất được Nguyễn Lộc dành riêng để khảo sát về một loại hình văn học - nghệ thuật đặc biệt khởi phát từ Đàng Trong, còn tất cả các dẫn liệu liên quan đến văn học Đàng Trong khác chỉ được điểm xuyết một cách sơ sài. Hoàng Hữu Yên khi “Sơ bộ giới thiệu văn học chữ Hán thế kỷ thứ XVIII và nửa đầu thế kỷ thứ XIX”, đã xếp những sáng tác miêu tả xã hội Đàng Trong nửa đầu thế kỷ XVIII của Ngô Thế Lân vào “bộ phận thơ văn chữ Hán ưu tú” [193, tr. 379] và bản thân Ngô Thế Lân cũng được xếp vào lớp “nhà thơ ưu tú” [193, tr. Nhưng cũng chỉ có hai bài thơ của ông (Thiệp thế ngâm - Từng trải việc đời, Trư điểu đề - Tiếng chim lợn kêu) được dẫn trong phần chú thích.
Cùng với Ngô Thế Lân, chỉ còn nhóm Chiêu Anh các với chùm thơ “Hà Tiên thập vịnh” được nhắc qua khi đề cập đến bộ phận thơ vịnh cảnh [193, tr. Ngô Thế Lân, Hoàng Quang cũng được Nguyễn Lộc điểm tên khi trình bày chung về “Các xu hướng trong văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX”; đặc biệt, Ngô Thế Lân được đánh giá là “nhà thơ xuất sắc nhất” của văn học Đàng Trong cuối thế kỷ XVIII [88, tr. Ngoài những trình bày sơ lược nhằm chứng minh cho một luận điểm nghiên cứu nào đó (mà chúng tôi vừa kể ở trên), không một tác giả nào của văn học Đàng Trong được đề cập ở phần viết 1 Tên các chương mục trong cuốn sách. 2 Năm 1999, NXB Giáo dục tập hợp hai cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX nói trên và cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX thành một cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX.
Điều đó phản ánh phần nào sự thiếu hụt tư liệu và diện quan tâm của các nhà nghiên cứu. Bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ được biên soạn khá chu đáo, kỹ lưỡng với những tư liệu phong phú, các nhận định đánh giá được cân nhắc thận trọng. Chúng tôi đặc biệt lưu tâm đến cuốn Tập II - Văn học lịch triều: Việt văn (Quốc học tùng thư, 1963, Sài Gòn), vì liên quan trực tiếp đến giai đoạn khảo sát của đề tài. Đáng quý của công trình này là, khi trình bày sơ lược về nội dung - hình thức của “Văn Nôm Nam Hà” và giới thiệu một số tác giả Nôm tiêu biểu của Đàng Trong (Đào Duy Từ, Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Hữu Hào, Hoàng Quang…), Phạm Thế Ngũ đã đưa ra một số bình luận tái hiện được phần nào không gian văn hóa - văn học đặc biệt của xứ Đàng Trong (so với Đàng Ngoài), rằng: “Miền Nam nói chung thiếu cái phong vị văn học, cái không khí thông thái cao đạt” [106, tr.
201]; “Đất Nam Hà thiếu bóng nhà nho, và thơ phú văn chương chẳng dễ nảy nở như ở miền Bắc. Những danh nhân miền Nam đều là người có công trạng đánh dẹp, khai thác, chẳng phải là nhà khoa bảng hay văn học” [106, tr. 201]; “Do đó mà Nam Hà thiếu sự đào luyện lâu đời của Hán học, thiếu không khí văn học, phần Việt văn cũng không có gì kiệt xuất, vì chỉ mới đi những bước đầu tiên” [106, tr. Đây được coi là những gợi ý quý giá khi chúng tôi tiếp cận, tìm hiểu về “căn nguyên” văn học Đàng Trong.
Tuy nhiên, về căn bản, công trình này mới chỉ cung cấp những nhận định sơ giản về một vài thể loại, một lối văn Nôm của Đàng Trong (vãn, vè), chưa đủ để khái quát toàn bộ diện mạo văn học vùng giai đoạn này. Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong, khi trình bày Lịch sử văn học Việt Nam sơ giản (NXB Khoa học, Hà Nội, 1963) đã giới thiệu sơ lược về các tác giả, tác phẩm tiêu biểu trong từng thời kỳ lịch sử văn học, với tiêu chí lựa chọn là “do ở giá trị tiêu biểu của nó, ở nội dung phản ánh hiện thực của nó phản ánh được một vài khía cạnh cơ bản của cuộc sống” [135, tr. Tuy nhiên, với tiêu chí đó, trong tổng số 198 trang sách viết về văn học thế kỷ XV - XVIII, chỉ có bốn trang giới thiệu sơ lược về một tác giả duy nhất của văn học Đàng Trong thế kỷ XVII: Đào Duy Từ. Điều đó phản ánh phần nào vị trí của văn học Đàng Trong trên thang điểm giá trị mà các nhà nghiên cứu đặt ra.
22 Bảng lược đồ văn học Việt Nam của Thanh Lãng (Trình Bầy xuất bản, Sài Gòn, 1967) “là những nét bút chì” phác họa sơ giản lược trình văn học Việt Nam.