Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Văn học Đàng Trong thế kỷ XVII - XVIII trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc" tập trung khảo sát toàn diện diện mạo, đặc điểm và vị trí của bộ phận văn học viết xuất hiện tại vùng đất phía Nam từ năm 1600 đến năm 1802.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong lịch sử nghiên cứu văn học Việt Nam, văn học miền Nam nói chung và văn học Đàng Trong nói riêng từng có thời kỳ chưa được đánh giá đúng mức hoặc bị xem nhẹ trước bề dày truyền thống của văn học miền Bắc. Phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận văn học Đàng Trong ở những lát cắt, trường hợp đơn lẻ hoặc trích lục tư liệu sơ lược mà chưa tái hiện một cách hệ thống, hoàn chỉnh diện mạo văn học vùng trong mối tương quan với tiến trình văn học dân tộc. Hơn nữa, sự chia cắt chính trị - quân sự kéo dài hơn hai thế kỷ giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài đã tạo nên những đặc điểm văn hóa - xã hội dị biệt, đòi hỏi phải có một công trình giải mã logic nội tại của sự phát triển văn học tại vùng đất mới.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm ba nội dung chính:

  1. Hình dung tổng thể về văn học Đàng Trong thế kỷ XVII - XVIII thông qua việc tuyển chọn, xử lý các dữ kiện, văn liệu, thi liệu để đánh giá đặc điểm, vị trí và vai trò của bộ phận văn học này.
  2. Đặt sự vận động của văn học Đàng Trong vào mối tương quan so sánh với văn học Đàng Ngoài cùng thời kỳ và trên tiến trình phát triển của văn học dân tộc nhằm chỉ ra các điểm tương đồng, những nét biệt sắc và định vị vai trò của văn học Đàng Trong.
  3. Đặt các dữ kiện văn học vào bối cảnh lịch sử - văn hóa cụ thể để lý giải quy luật phát triển thực tế và logic nội tại của văn học Đàng Trong.

Đối tượng nghiên cứu là các tác phẩm văn chương hình tượng được sáng tác tại khu vực Đàng Trong giai đoạn 1600 - 1802 bằng chữ Hán và chữ Nôm, gắn liền với các tác giả mang tâm thức Đàng Trong.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Khu vực địa - chính trị Đàng Trong, tính từ phía Nam sông Gianh (Linh Giang, Quảng Bình) trở vào đến Hà Tiên, tập trung chủ yếu vào sáng tác của cư dân vùng đồng bằng.
  • Thời gian: Khảo sát từ mốc năm 1600 (thời điểm Nguyễn Hoàng đưa binh thuyền về Thuận Hóa, chính thức ly khai chính quyền Lê - Trịnh) đến năm 1802 (thời điểm Nguyễn Ánh lên ngôi Gia Long, thống nhất đất nước, chấm dứt thời kỳ chúa Nguyễn). Luận án cũng mở rộng khảo cứu một số tác giả sáng tác trong giai đoạn 1800 - 1802 có cùng phong cách và chất liệu thẩm mỹ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân tích theo hai nhóm công trình:

Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu văn học sử toàn quốc. Tác giả điểm lại sự hiện diện của văn học Đàng Trong qua các bộ sách tiêu biểu: Việt Nam văn học sử yếu (Dương Quảng Hàm, 1943/1950), Việt Nam văn học sử trích yếu (Hạo Nhiên Nghiêm Toản, 1949/1968), ba tập Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (nhóm Lê Quý Đôn: Vũ Đình Liên, Đỗ Đức Hiểu, Lê Trí Viễn, Huỳnh Lý, Trương Chính, Lê Thước, 1957), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (Ban Văn - Sử - Địa, 1957 - 1964), Văn học Việt Nam - văn học sử giảng văn (Phạm Văn Diêu, 1960), Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam tập II và III (Bùi Văn Nguyên, Phan Sĩ Tấn, Lê Trí Viễn..., 1961 - 1962), Văn học cổ Việt Nam và Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII (Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương, 1964, 1978 - 1979), Văn học Việt Nam thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX (Hoàng Hữu Yên, Nguyễn Lộc, 1962, 1976 - 1978), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Phạm Thế Ngũ, 1963), Lịch sử văn học Việt Nam sơ giản (Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong, 1963), Bảng lược đồ văn học Việt Nam (Thanh Lãng, 1967) và Lược khảo lịch sử văn học Việt Nam từ khởi thủy đến cuối thế kỷ 20 (Bùi Đức Tịnh, 2005). Luận án nhận định rằng trong các công trình văn học sử này, văn học Đàng Trong thường chỉ xuất hiện dưới dạng điểm xuyết, giới thiệu tản mạn một số tác giả tiêu biểu (Đào Duy Từ, Nguyễn Cư Trinh, Mạc Thiên Tích, Ngô Thế Lân, Hoàng Quang...) và chủ yếu xếp lồng ghép vào văn học Đàng Ngoài mà chưa nhìn nhận như một vùng văn học có tính độc lập tương đối.

Nhóm thứ hai gồm các công trình khảo sát chuyên biệt về văn học Đàng Trong hoặc văn học Nam Bộ: Văn học miền Nam thời Nam Bắc phân tranh (các thế kỷ XVI - XVIII) (Phạm Việt Tuyền, 1965), Văn học Nam Hà - Văn học xứ Đàng Trong (Nguyễn Văn Sâm, 1974), Tiến trình văn nghệ miền Nam và Văn học Việt Nam nơi miền đất mới (Nguyễn Q. Thắng, 1990, 2007), Văn học miền Nam (Huỳnh Ái Tông, 2009), Văn học miền Nam lục tỉnh (Nguyễn Văn Hầu, 2012), cùng chuyên khảo Văn học miền Nam, Văn học Hà Tiên: Chiêu Anh các - Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh (Đông Hồ, 1970). Ngoài ra còn có các nhận định chuyên sâu của Nguyễn Văn Xuân về tính chất "nói và trình diễn" của văn nghệ miền Nam và các bài khảo cứu của Cao Tự Thanh về văn hóa, văn học Đàng Trong.

Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết là: Khắc phục tính chất phân mảnh, thuần túy liệt kê tác giả tác phẩm của các nghiên cứu trước; xây dựng một hệ thống tiêu chí nhất quán về tác giả Đàng Trong dựa trên "tâm thức Đàng Trong"; đặt văn học Đàng Trong vào mối quan hệ biện chứng với điều kiện văn hóa - xã hội đặc thù của vùng đất mới; đồng thời tiến hành so sánh hệ thống với văn học Đàng Ngoài để xác lập vai trò cấu thành của văn học Đàng Trong đối với tiến trình văn học dân tộc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án triển khai nghiên cứu dựa trên ba cơ sở lý thuyết chính từ các học giả chuyên ngành:

  • Quan niệm về một công trình văn học sử thực thụ của Trần Ngọc Vương: Một công trình văn học sử phải tái hiện lịch sử vận động của đối tượng qua diện mạo từng thời kỳ, vị trí tác giả, tác phẩm tiêu biểu, đồng thời làm rõ chất nền ngôn ngữ và hệ thống thể loại.
  • Quan niệm tiếp cận văn hóa học trong nghiên cứu văn học trung đại của Trần Nho Thìn: Phục nguyên không gian văn hóa ra đời của tác phẩm, xác định sự chi phối của các hệ tư tưởng, tôn giáo, đạo đức, thẩm mỹ thời đại đối với việc xây dựng nhân vật, kết cấu, mô típ và ngôn ngữ nghệ thuật nhằm hạn chế việc hiện đại hóa quá khứ.
  • Quan niệm về sự phát triển không đồng đều của văn hóa dân tộc của Trần Đình Hượu: Tiếp cận tính năng động, tự nhiên, khả năng tiếp nhận yếu tố đương đại của các vùng đất mới vốn ít bị ràng buộc bởi truyền thống Hán học lâu đời.

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm ba phương pháp định tính:

  • Phương pháp văn học sử: Thu thập, phân loại, mô tả và hệ thống hóa các sự kiện, tác gia, tác phẩm Hán - Nôm Đàng Trong từ 1600 đến 1802.
  • Phương pháp so sánh: Đặt các hiện tượng văn học Đàng Trong trong tương quan đồng đại với văn học Đàng Ngoài thế kỷ XVII - XVIII và tương quan lịch đại với toàn bộ tiến trình văn học trung đại Việt Nam trên các bình diện: đội ngũ tác giả, nội dung phản ánh, thể loại và ngôn ngữ.
  • Phương pháp liên ngành văn học - văn hóa: Phân tích mối quan hệ hai chiều giữa các động thái văn hóa - xã hội đặc thù (Nho - Thích song hành, học phong, thành phần cư dân, đô thị hóa) với các đặc trưng nội dung và hình thức nghệ thuật của văn học Đàng Trong.

Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm:

  • Tác phẩm văn học Hán - Nôm Đàng Trong và Đàng Ngoài đã được dịch, phiên âm sang chữ quốc ngữ (Ngọa Long cương vãn, Tư Dung vãn, Song Tinh Bất Dạ, Sãi Vãi, Hoài Nam khúc, Hà Tiên thập vịnh, Phong trúc tập, Nam triều công nghiệp diễn chí, các bài văn tế của Đặng Đức Siêu, Nguyễn Văn Thành...).
  • Thư tịch lịch sử, địa chí: Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam liệt truyện tiền biên, Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục, Lịch triều hiến chương loại chí, Hải ngoại kỷ sự, Nam hành ký đắc tập, Nam Hà tiệp lục, Nam Hà ký văn.
  • Các bộ tổng tập và tuyển tập văn học: Tổng tập văn học Việt Nam, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 giải quyết hai nội dung cơ bản: xác lập các khái niệm thuật ngữ và tổng thuật lịch sử nghiên cứu.

Về mặt thuật ngữ:

  • "Đàng Trong": Được xác định là một thực thể địa - chính trị tồn tại từ năm 1600 (khi Nguyễn Hoàng rời Thăng Long về Thuận Hóa) đến năm 1802 (khi vương triều Nguyễn hoàn thành việc thống nhất đất nước). Luận án phân tích tính chất của các mốc 1558, 1630, 1774, 1778 và luận giải việc chọn khung thời gian 1600 - 1802 gắn liền với ý niệm về vương quyền chúa Nguyễn.
  • "Văn học Đàng Trong": Được định nghĩa là toàn bộ sáng tác Hán và Nôm ra đời tại vùng đất phía Nam sông Gianh trong khoảng thời gian 1600 - 1802 bởi những tác giả mang "tâm thức Đàng Trong". Tiêu chí này cho phép dung nạp các tác giả người Việt sinh trưởng tại chỗ, các nhân sĩ Đàng Ngoài di cư gắn bó với chúa Nguyễn (Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Dật), các tác giả Minh hương xem Đàng Trong là quê hương (họ Mạc, Gia Định tam gia); đồng thời loại trừ những tác giả lưu trú ngắn hạn không mang tâm thức Đàng Trong như Thích Đại Sán (Hải ngoại kỷ sự), Lê Quý Đôn (Phủ biên tạp lục), Phạm Nguyễn Du (Nam hành ký đắc tập) hay các tác giả thuộc triều đại Tây Sơn tại Phú Xuân (Nguyễn Văn Danh, Lê Ngọc Hân).

Về tình hình nghiên cứu: Chương này tổng hợp, phân loại chi tiết các nhận định về văn học Đàng Trong trong các giáo trình, công trình văn học sử từ năm 1943 đến năm 2012, chỉ ra xu hướng chuyển biến từ việc xem nhẹ, trích lược sang việc nhìn nhận văn học Đàng Trong như một bộ phận cấu thành hữu cơ của văn học dân tộc.

Chương 2: Văn hóa - xã hội Đàng Trong thế kỷ XVII - XVIII

Chương 2 phân tích bốn tiền đề văn hóa - xã hội chi phối đặc trưng văn học Đàng Trong:

  1. Mô hình Nho giáo không thuần nhất và xu thế Nho - Thích đan xen: Trong thế kỷ XVII và nửa đầu thế kỷ XVIII, chính quyền chúa Nguyễn thực thi chính sách "cư Nho mộ Thích". Các chúa Nguyễn đều sùng bái đạo Phật, gắn giáo quyền vào vương vị (Hiển tông Nguyễn Phước Châu tự xưng "Quốc chủ Thiên Túng đạo nhân", Túc tông Nguyễn Phước Thụ xưng "Quốc chủ Vân Tuyền đạo nhân", Thế tông Nguyễn Phước Hoạt xưng "Quốc chủ Từ Tế đạo nhân"). Tầng lớp quan lại, danh sĩ (Nguyễn Hữu Dật, Trần Đình Ân, Nguyễn Hữu Hào, Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích) đều tham gia xây dựng chùa chiền, đàm đạo Phật pháp. Đến giữa thế kỷ XVIII, trước yêu cầu nhất hóa quản lý xã hội, chúa Nguyễn mới chuyển dần sang mô hình Nho giáo vô thần (ban hành Huấn điều năm 1726, cải cách y phục phong tục năm 1744). Sự kết hợp Nho - Thích tạo nên một học phong phóng khoáng, dân dã, giảm bớt tính quy phạm nghiêm ngặt của Nho giáo kinh viện.

  2. Học phong không chuộng từ chương cử nghiệp: Chế độ thi cử ở Đàng Trong phát triển muộn và không có các kỳ thi đại khoa (thi Tiến sĩ) như Đàng Ngoài. Chúa Nguyễn mở khoa thi Chính đồ và Hoa văn đầu tiên năm 1632, khoa Thám phỏng năm 1674; tổ chức kỳ thi quận thí (5 năm một lần) và hội thí (9 năm một lần) để tuyển chọn nhân lực hành chính (chia thành ba hạng: giáp, ất, bính). Việc không bị ràng buộc bởi văn chương cử tử giúp các tác giả giải phóng năng lực sáng tạo cá nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho văn học chữ Nôm phát triển (tiêu biểu với Ngọa Long cương vãn, Song Tinh Bất Dạ, Hoa tình, tuồng San hậu).

  3. Thành phần cư dân đặc thù: Dòng người di cư vào Đàng Trong từ năm 1558 gồm lực lượng võ biền (bộ khúc Tống Sơn, nghĩa dũng Thanh Hoa), dân nghèo phiêu tán và tội đồ lưu đày. Cuộc sống khai hoang, đối mặt với thiên nhiên khắc nghiệt và chiến tranh khiến lối sống của cư dân thiên về hành động thực tiễn hơn là suy tư kinh viện. Yếu tố này định hình nên nền văn nghệ phục vụ đại chúng, mang đậm tính diễn xướng, thiên về "nói và trình diễn" (vãn, vè, tuồng, dân ca biến tấu từ điệu thức gốc Bắc kết hợp yếu tố Chăm, Miên, Thượng, Hoa).

  4. Môi trường kinh tế thương nghiệp và xã hội thị dân: Sự mở cửa ngoại thương tại các thương cảng Hội An, Cù Lao Phố, Sài Gòn, Hà Tiên ("Cảng khẩu quốc") cùng sự tham gia của thương nhân quốc tế và cộng đồng người Hoa tị nạn (Trần Thượng Xuyên, Mạc Cửu) tạo nên một tầng lớp thị dân tương đối sớm. Xã hội thị dân tạo tiền đề cho sự nảy sinh các nhu cầu tâm lý cá nhân, thị hiếu giải trí phi cổ truyền, thúc đẩy sự ra đời sớm của truyện Nôm tài tử giai nhân miêu tả tình yêu và sắc dục (Song Tinh Bất Dạ của Nguyễn Hữu Hào), đồng thời hình thành ý thức in ấn, phổ biến tác phẩm rộng rãi trong xã hội và ký kiểu thơ văn trên đồ gốm sứ.

Bảng tổng hợp các nhân tố văn hóa - xã hội và hệ quả văn học tại Đàng Trong:

Nhân tố văn hóa - xã hội Biểu hiện lịch sử cụ thể Tác động đến diện mạo văn học
Hệ tư tưởng Nho - Thích đan xen Chúa Nguyễn xưng đạo hiệu; quan lại mộ Phật; chuyển dần sang Nho giáo thế tục ở thế kỷ XVIII. Tư tưởng cởi mở, dung hòa tam giáo; văn chương ít chịu áp lực kinh viện, mang sắc thái tự nhiên, thế tục.
Học phong ít khoa cử Không tổ chức thi Tiến sĩ; chỉ thi quận thí (5 năm), hội thí (9 năm) để tuyển lại dịch. Không bị trói buộc bởi văn từ chương; tạo điều kiện cho văn quốc âm (chữ Nôm) phát triển mạnh.
Cơ cấu dân cư mở cõi Lực lượng di dân chủ yếu là binh lính võ biền, dân nghèo, tội đồ lưu đày. Văn học mang tính đại chúng, ngôn ngữ bình dân; phát triển mạnh các thể loại "nói và trình diễn" (vè, vãn, tuồng).
Kinh tế thương nghiệp - thị dân Phát triển các đô thị, thương cảng (Hội An, Gia Định, Hà Tiên); tiếp nhận cư dân Minh hương. Giải phóng tình cảm cá nhân; nảy sinh truyện Nôm tả sắc dục (Song Tinh Bất Dạ); gia tăng hoạt động in ấn, phổ biến thi phẩm.

Chương 3: Văn học Đàng Trong xét trong mối tương quan với văn học Đàng Ngoài thế kỷ XVII – XVIII

Chương 3 tiến hành khảo sát so sánh văn học hai miền trên các phương diện:

  • Đội ngũ tác giả: Đàng Trong hình thành hai bộ phận tác giả chính là nhà nho gốc Việt (Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Cư Trinh, Ngô Thế Lân, Hoàng Quang, Đặng Đức Siêu, Nguyễn Văn Thành) và nhà nho gốc Minh hương (Mạc Thiên Tích và các thành viên Chiêu Anh các, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh). Cả hai nhóm đều gắn bó trực tiếp với sự nghiệp khai mở và bảo vệ vùng đất mới của chúa Nguyễn.
  • Nội dung phản ánh: Bên cạnh mảng thơ đề vịnh cảnh quan thiên nhiên phương Nam mang cảm quan tự hào lãnh thổ (chùm thơ Hà Tiên thập vịnh, thơ vịnh cảnh của Nguyễn Phước Châu, Nguyễn Cư Trinh), văn học Đàng Trong cũng xuất hiện khuynh hướng tố cáo hiện thực xã hội và phản ánh nỗi thống khổ của nhân dân giai đoạn khủng hoảng cuối thế kỷ XVIII qua sáng tác của Ngô Thế Lân (Phong trúc tập, Thiệp thế ngâm, Trư điểu đề).
  • Thể loại: Cùng phát triển các thể loại truyền thống (thơ Đường luật chữ Hán, phú, văn tế, truyện Nôm, tiểu thuyết chương hồi), văn học Đàng Trong định hình lối đi riêng với các thể loại đặc thù phương Nam như vãn (Ngọa Long cương vãn, Tư Dung vãn), vè (Sãi Vãi của Nguyễn Cư Trinh), và nghệ thuật tuồng hát bội (San hậu).
  • Ngôn ngữ văn học: Ngôn ngữ văn học Đàng Trong ghi nhận sự thâm nhập tự nhiên của phương ngữ Nam Bộ, lời ăn tiếng nói bình dân của cư dân lưu dân, tạo nên phong cách diễn đạt mộc mạc, sống động khác với tính quy phạm, đài các của văn chương Đàng Ngoài.

Chương 4: Vai trò của văn học Đàng Trong đối với văn học dân tộc

Chương 4 đúc kết vai trò lịch sử của văn học Đàng Trong trên ba phương diện:

  1. Hoàn chỉnh bản đồ văn học Việt Nam: Văn học Đàng Trong mở rộng không gian văn học dân tộc về phương Nam với sự hình thành ba trung tâm văn học lớn: trung tâm Thuận - Quảng (khởi đầu từ Đào Duy Từ), trung tâm Hà Tiên (gắn với Mạc Thiên Tích và Tao đàn Chiêu Anh các), và trung tâm Gia Định (với nhóm Gia Định tam gia).
  2. Sáng tạo hình tượng văn học mới: Khắc họa hình tượng người hào kiệt, người anh hùng thời loạn và con người hành động mang tinh thần mở cõi, phiêu lưu, vượt thoát khỏi khuôn mẫu nhà nho ẩn dật truyền thống.
  3. Khởi đầu hai thể loại tự sự trường thiên: Đóng góp tác phẩm mở đầu thể loại tiểu thuyết chương hồi lịch sử bằng chữ Hán (Nam triều công nghiệp diễn chí / Nguyễn triều khai quốc công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm) và tác phẩm mở đầu thể loại truyện Nôm bác học viết theo thể song thất lục bát (Song Tinh Bất Dạ của Nguyễn Hữu Hào).

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự đúc kết các kết quả và đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  • Nhận diện một cách hệ thống diện mạo văn học Đàng Trong giai đoạn 1600 - 1802 như một chỉnh thể văn học vùng hoàn chỉnh, xác lập tiêu chí nhận diện tác giả Đàng Trong dựa trên tâm thức chính trị - văn hóa.
  • Xác định bản chất văn học Đàng Trong là kết quả tương tác của các động thái văn hóa đặc thù: mô hình Nho giáo không thuần nhất, học phong phi từ chương, cơ cấu cư dân mở cõi và kinh tế thương nghiệp thị dân.
  • Minh chứng tính quy luật trong sự phát triển của văn học Việt Nam trung đại: văn học Đàng Trong vừa bảo lưu tính thống nhất của văn mạch dân tộc về mặt ngôn ngữ và thể loại cơ bản, vừa tạo ra những biến dị thể loại và phong cách mang tính tiên phong, bù đắp những khoảng trống mà văn học Đàng Ngoài chưa định hình.
  • Định vị vai trò tiên khởi của văn học Đàng Trong đối với thể loại tự sự trường thiên (tiểu thuyết chương hồi chữ Hán và truyện Nôm bác học), đồng thời hoàn chỉnh bản đồ văn học viết của toàn thể dân tộc.

Về mặt giải pháp và kiến nghị học thuật, luận án đề xuất:

  • Cần bổ sung và đánh giá tương xứng dung lượng văn học Đàng Trong trong các giáo trình lịch sử văn học Việt Nam ở bậc đại học và trung học phổ thông.
  • Tiếp tục sưu tầm, dịch thuật và công bố đầy đủ các di sản văn bản Hán - Nôm thời chúa Nguyễn, đặc biệt là các văn bản văn chương chữ Nôm và thư tịch liên quan đến cộng đồng Minh hương tại Nam Bộ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án tự xác định các điểm giới hạn do điều kiện tư liệu và phạm vi nghiên cứu:

  • Luận án chỉ khảo sát sáng tác của các tác giả thuộc vùng đồng bằng, chưa mở rộng nghiên cứu bộ phận sáng tác của các cộng đồng dân tộc thiểu số (Chăm, Khmer, các tộc người thiểu số vùng Trường Sơn - Tây Nguyên) cùng sinh sống tại Đàng Trong.
  • Phạm vi khảo sát chủ yếu tập trung vào văn chương hình tượng, chưa bao quát toàn diện mảng văn chương chức năng (văn thư hành chính, chiếu biểu, địa chí, thư tịch tôn giáo).
  • Việc tiếp cận nguồn tư liệu văn bản Hán - Nôm phần lớn dựa trên các bản dịch và phiên âm quốc ngữ hiện hành, chưa tiến hành giám định văn bản học nguyên bản đối với toàn bộ các dị bản Hán Nôm còn lưu trữ rải rác.

Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng khảo sát bộ phận văn chương chức năng và sáng tác của các tộc người khác tại Đàng Trong trong một công trình toàn diện hơn khi điều kiện tư liệu cho phép.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Văn hóa học khi tiếp cận các đề tài về văn học trung đại, lịch sử Đàng Trong và văn hóa Nam Bộ.
  • Giảng viên các trường đại học, cao đẳng sư phạm và khoa học xã hội nhân văn trong việc biên soạn bài giảng, giáo trình văn học sử giai đoạn thế kỷ XVII - XVIII.
  • Các nhà nghiên cứu văn bản học Hán - Nôm và các nhà quản lý văn hóa trong việc quy hoạch bảo tồn di sản văn học thời chúa Nguyễn.

Phần nội dung đáng tham khảo nhất là Chương 2 (phân tích bốn tiền đề văn hóa - xã hội tác động đến văn học Đàng Trong) và Chương 4 (luận giải vai trò khởi đầu của văn học Đàng Trong đối với thể loại tự sự trường thiên).

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án giới hạn mốc thời gian văn học Đàng Trong từ năm 1600 đến năm 1802? Luận án lựa chọn năm 1600 vì đây là thời điểm Nguyễn Hoàng đưa binh thuyền về Thuận Hóa, chấm dứt quan hệ thần phục trên thực tế với chính quyền Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài, xác lập thực thể địa - chính trị Đàng Trong. Mốc kết thúc năm 1802 là thời điểm Nguyễn Ánh thống nhất đất nước lên ngôi hoàng đế, chấm dứt hoàn toàn thể chế chúa Nguyễn và sự tồn tại của danh xưng Đàng Trong.

2. Luận án xác định tiêu chí nào để một tác giả được coi là tác giả văn học Đàng Trong? Tác giả Đàng Trong phải là người sáng tác với tâm thức thuộc về Đàng Trong, bao gồm người sinh trưởng tại Đàng Trong, người gốc Đàng Ngoài di cư tự nguyện gắn bó phục vụ chúa Nguyễn (như Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Dật), hoặc người gốc Minh hương xem Đàng Trong là quê hương (như cha con họ Mạc, Gia Định tam gia). Luận án loại trừ những người ghi chép vãng lai như Lê Quý Đôn, Phạm Nguyễn Du hay các văn sĩ triều Tây Sơn ở Phú Xuân.

3. Yếu tố nào trong học phong Đàng Trong đã tạo điều kiện cho văn học chữ Nôm phát triển? Chính quyền chúa Nguyễn tổ chức thi cử muộn, không tổ chức thi Tiến sĩ, chỉ tổ chức các kỳ thi quận thí và hội thí để tuyển dụng lại dịch hành chính. Sĩ tử không bị ép buộc vào lối học từ chương cử nghiệp nghiêm ngặt, từ đó giải phóng tư duy sáng tạo và thúc đẩy việc sử dụng chữ Nôm trong sáng tác văn học bác học và bình dân.

4. Hai thể loại tự sự trường thiên nào của văn học dân tộc được khởi đầu từ Đàng Trong? Đó là thể loại tiểu thuyết chương hồi lịch sử bằng chữ Hán với tác phẩm Nam triều công nghiệp diễn chí (còn gọi là Nguyễn triều khai quốc công nghiệp diễn chí) của Nguyễn Khoa Chiêm và thể loại truyện Nôm bác học viết theo thể song thất lục bát với tác phẩm Song Tinh Bất Dạ của Nguyễn Hữu Hào.

5. Vì sao văn nghệ Đàng Trong lại mang đặc trưng nổi bật là "nặng về nói và trình diễn"? Do cơ cấu dân cư Đàng Trong chủ yếu gồm binh lính võ biền, dân nghèo tha hương và tội đồ lưu đày, phải liên tục lao động khai phá đất đai và chiến đấu. Lối sống thiên về hành động khiến nhu cầu tiếp nhận nghệ thuật của họ hướng tới các hình thức nghe nhìn trực quan, bình dân hóa, thúc đẩy sự phát triển của các thể loại vãn, vè, tuồng và diễn xướng dân gian.

Kết luận

Luận án "Văn học Đàng Trong thế kỷ XVII - XVIII trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc" đã tái hiện một cách hệ thống diện mạo văn học tại vùng đất phía Nam trong hơn hai thế kỷ phân tranh lịch sử. Bằng việc vận dụng phương pháp tiếp cận văn hóa học và so sánh văn học sử, công trình đã lý giải thành công mối liên hệ giữa các điều kiện văn hóa - xã hội đặc thù với tính chất tự nhiên, đại chúng và tinh thần thị dân của văn chương Đàng Trong. Kết quả nghiên cứu khẳng định văn học Đàng Trong không chỉ kế thừa văn mạch truyền thống mà còn giữ vai trò cấu thành, bổ sung các thể loại tự sự trường thiên và hình tượng văn học mới, góp phần hoàn chỉnh bản đồ văn học dân tộc Việt Nam thời trung đại.