Luận án tiến sĩ văn hóa học bản hội trong đạo mẫu tạo lập vốn xã hội trong bối cảnh chuyển đổi

**Mô tả SEO cho bài viết** Luận án tiến sĩ văn hóa học bản hội trong đạo mẫu tạo lập vốn xã hội trong bối cảnh chuyển đổi nghiên cứu sự phát triển văn hóa và xã hội.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Văn hóa dân gian

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2016

235
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

KÍ HIỆU VIẾT TẮT

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.2. Cơ sở lý luận

1.3. Tiểu kết

2. CHƯƠNG 2: BẢN HỘI ĐẠO MẪU: MỘT CỘNG ĐỒNG TÔN GIÁO

2.1. Sự hình thành bản hội Đạo Mẫu

2.2. Cơ cấu tổ chức của bản hội Đạo Mẫu

2.3. Thực hành nghi lễ của bản hội Đạo Mẫu

2.4. Đặc trưng của bản hội Đạo Mẫu

2.5. Tiểu kết

3. CHƯƠNG 3: BẢN HỘI ĐẠO MẪU: MÔI TRƯỜNG TÂM LINH ĐẬM MÀU SẮC KINH TẾ

3.1. Màu sắc kinh tế của bản hội Đạo Mẫu: các khía cạnh biểu hiện

3.2. Sự gắn kết giữa tâm linh và kinh tế trong bản hội Đạo Mẫu: Những lý giải

3.3. Môi trường tâm linh đậm màu sắc kinh tế và cơ sở cho các thành viên bản hội tạo lập vốn xã hội

3.4. Tiểu kết

4. CHƯƠNG 4: BẢN HỘI ĐẠO MẪU: MÔI TRƯỜNG TÂM LINH TRAO QUYỀN LỰC VÀ THỂ HIỆN QUYỀN LỰC CỦA "NHỮNG KẺ BỊ LOẠI TRỪ"

4.1. Bản hội Đạo Mẫu: môi trường tâm linh của những kẻ bị loại trừ

4.2. Bản hội Đạo Mẫu: không gian trao quyền lực và thể hiện quyền lực

4.3. Môi trường tâm linh trao quyền lực, thể hiện quyền lực của "những kẻ bị loại trừ" và cơ sở cho các thành viên bản hội tạo lập vốn xã hội

4.4. Tiểu kết

5. CHƯƠNG 5: TẠO LẬP VỐN XÃ HỘI CỦA CÁC THÀNH VIÊN BẢN HỘI ĐẠO MẪU: NHẬN DIỆN ĐẶC ĐIỂM, PHƯƠNG THỨC, LỢI ÍCH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

5.1. Nhận diện đặc điểm vốn xã hội của các thành viên bản hội Đạo Mẫu

5.2. Phương thức tạo dựng, duy trì và phát triển vốn xã hội của các thành viên bản hội Đạo Mẫu

5.3. Lợi ích của vốn xã hội đối với đời sống của các thành viên bản hội Đạo Mẫu

5.4. Tạo lập vốn xã hội của các thành viên bản hội Đạo Mẫu trong bối cảnh chuyển đổi: những vấn đề đặt ra

5.5. Tiểu kết

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu và bối cảnh nghiên cứu

Luận án tiến sĩ văn hóa học tập trung vào bản hội đạo mẫu và quá trình tạo lập vốn xã hội trong bối cảnh chuyển đổi. Đạo Mẫu, một tín ngưỡng dân gian, đã trải qua sự phục hưng mạnh mẽ trong hai thập kỷ qua, đặc biệt là sự bùng nổ của các bản hội và nghi lễ lên đồng. Bản hội không chỉ là không gian tâm linh mà còn là nơi phát triển các mối quan hệ kinh tế, xã hội, và giới. Luận án này nhằm khám phá bản chất của bản hội và cách nó tạo điều kiện cho các thành viên xây dựng vốn xã hội trong bối cảnh xã hội đang chuyển đổi.

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đạo Mẫu, với cội nguồn từ tín ngưỡng thờ Mẹ, đã phát triển thành một tôn giáo độc lập vào thế kỷ XVI. Bản hội là không gian quy tụ các con nhang đệ tử, nơi họ thực hành nghi lễ và xây dựng mối quan hệ. Trong bối cảnh xã hội hiện đại, bản hội không chỉ là cộng đồng tâm linh mà còn là nơi phát triển các dịch vụ kinh tế và giải quyết các vấn đề giới. Sự đa dạng hóa này đặt ra câu hỏi về bản chất thực sự của bản hội và vai trò của nó trong việc tạo lập vốn xã hội.

1.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích chính của luận án là nghiên cứu bản hội và quá trình tạo lập vốn xã hội của các thành viên. Luận án đặt ra hai câu hỏi chính: (1) Bản hội là một cộng đồng tôn giáo như thế nào và có những đặc trưng gì? (2) Tại sao bản hội lại là môi trường giúp các thành viên tạo lập vốn xã hội trong bối cảnh chuyển đổi? Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm phân tích cơ cấu tổ chức, hoạt động nghi lễ, và các đặc trưng của bản hội, cũng như cách thức tạo lập và lợi ích của vốn xã hội.

II. Phương pháp nghiên cứu và đối tượng

Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành, kết hợp dân tộc học, tôn giáo học, và kinh tế học để nghiên cứu bản hội và các mối quan hệ xã hội trong đó. Phương pháp chính bao gồm quan sát tham dự và phỏng vấn sâu, giúp hiểu rõ hơn về quan điểm của người trong cuộc. Đối tượng nghiên cứu là bản hội Phúc Minh từ tại Hà Nội, với các thành viên bao gồm đồng Thầy, chấp tác, con nhang đệ tử, và cung văn.

2.1 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp dân tộc học để thâm nhập sâu vào cộng đồng bản hội, kết hợp với tôn giáo họctâm lý học tôn giáo để phân tích các nghi lễ và mối quan hệ giữa các thành viên. Phương pháp kinh tế học được áp dụng để nghiên cứu sự đầu tư và lợi ích từ vốn xã hội. Quan sát tham dự và phỏng vấn sâu là hai phương pháp chính, giúp thu thập dữ liệu từ các hoạt động thực tế của bản hội.

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính là bản hội Phúc Minh từ tại Hà Nội, một cộng đồng tôn giáo đô thị. Luận án tập trung vào các mối quan hệ xã hội và cách thức tạo lập vốn xã hội của các thành viên. Phạm vi nghiên cứu bao gồm các hoạt động nghi lễ, cơ cấu tổ chức, và sự tương tác giữa các thành viên trong bản hội, đặc biệt là trong bối cảnh xã hội chuyển đổi.

III. Kết quả và đóng góp của luận án

Luận án đã làm rõ vai trò của bản hội như một môi trường tạo lập vốn xã hội trong bối cảnh chuyển đổi. Các thành viên bản hội không chỉ xây dựng mối quan hệ tâm linh mà còn phát triển các mối quan hệ kinh tế và xã hội. Vốn xã hội được tạo lập từ nhiều khía cạnh, bao gồm nghi lễ, kinh tế, và đặc điểm cá nhân của các thành viên. Luận án cũng chỉ ra những vấn đề đặt ra từ việc tạo lập vốn xã hội, như mối quan hệ hai chiều giữa xã hội chuyển đổi và vốn xã hội.

3.1 Đặc trưng của bản hội

Bản hội là một cộng đồng đặc biệt, kết hợp giữa tâm linh, kinh tế, và các vấn đề giới. Các thành viên bản hội đến với nhau không chỉ vì nhu cầu tâm linh mà còn vì lợi ích kinh tế và xã hội. Điều này tạo nên một nguồn vốn xã hội đa dạng và phức tạp, khác biệt so với các cộng đồng khác.

3.2 Lợi ích của vốn xã hội

Vốn xã hội mang lại nhiều lợi ích cho các thành viên bản hội, bao gồm hỗ trợ kinh tế, tăng cường mối quan hệ xã hội, và củng cố bản sắc cá nhân. Các thành viên sử dụng vốn xã hội để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, từ kinh tế đến tâm lý, và tạo dựng vị thế trong cộng đồng.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ văn hóa học bản hội trong đạo mẫu tạo lập vốn xã hội trong bối cảnh chuyển đổi

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu 13 cho cuộc đấu tranh giành sự bình đẳng với nam giới của nữ giới Việt. Bằng thực hành tín ngưỡng, người phụ nữ muốn tìm kiếm sự che chở, dung dưỡng, tìm sự cân bằng về vị trí và quyền lực của mình trong gia đình và ngoài xã hội dù chỉ trên phương diện tinh thần [92; tr707]. Ngoài ra, các nghiên cứu khác như nghiên cứu của Nguyễn Kim Hoa còn phân tích những biểu hiện giới, bản sắc giới của những người lên đồng; nghiên cứu Barley Norton chỉ ra rằng cấu trúc âm nhạc trong hầu đồng không chỉ chịu ảnh hưởng của tộc người mà còn chịu ảnh hưởng bởi giới. Khi được thần thánh nhập vào, người hầu đồng “xuyên qua giới”- khi người hầu đồng thuộc một giới được thần thánh thuộc một giới khác nhập vào, người này tiếp nhận những đặc điểm về giới và cách ứng xử của vị khách đó.

Tác giả kết luận: thông qua việc tạo nên nhận dạng của thần thánh, âm nhạc trong lên đồng có thể được hiểu như là tính biến đổi, các bài chầu văn giúp cho người hầu đồng băng qua thế giới con người và thần linh, xuyên qua ranh giới của giới và tộc người [11; tr331] Những nghiên cứu từ góc độ triết học Có một số công trình nghiên cứu Đạo Mẫu từ góc độ triết học như: Minh Triết trong Đạo Mẫu ở Việt Nam của Lê Thị Chiêng [18], Khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ của Nguyễn Hữu Thụ [115]…Với cách tiếp cận này, các tác giả đã làm rõ và sâu sắc hơn giá trị về mặt tư tưởng triết học của loại hình tín ngưỡng này. Cụ thể, theo các tác giả, mặc dù chỉ dừng lại là một loại hình tín ngưỡng dân gian, nhưng tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ đã phản ánh vào trong nội dung, nghi lễ và không gian thờ cúng những sự giải thích của mình (dù là trực quan cảm tính) về tự nhiên, xã hội và con người. Với sự đồng nhất tự nhiên là Mẹ/Mẫu, người Việt đã kéo tự nhiên lại gần hơn với cuộc sống của mình, đồng thời mối quan hệ Mẹ (tự nhiên) – Con (con người) đã nói lên thái độ cũng như mong muốn của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ trong mối quan hệ với tự nhiên. Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ cũng phản ánh phần nào mối quan hệ giữa con người với xã hội thông qua những mong muốn, khát vọng giải phóng con người (trước hết là giải phóng phụ nữ) khỏi những ràng buộc và chế ngự của các thể chế xã hội, đặc biệt là xã hội phong kiến Việt Nam thế kỉ XVI –XVII [115; tr 104] Ngoài những tiếp cận từ các góc độ cụ thể trên, Đạo Mẫu còn được tiếp cận từ các góc độ khác như nhân học (Oscar Salemink) [89] hoặc tiếp cận liên ngành (Nguyễn Ngọc Mai) [78] … Có thể nói, những công trình nghiên cứu với các hướng 14 tiếp cận của các tác giả kể trên là những nguồn tài liệu vô cùng quý giá.

Mặc dù chúng không liên quan trực tiếp đến hướng nghiên cứu của tôi, nhưng tôi hết sức trân trọng những công trình nghiên cứu đó. Bởi, chính những công trình đó đã giúp tôi có cái nhìn thông suốt và hệ thống về Đạo mẫu, gợi mở cho tôi những khoảng trống trong nghiên cứu còn bỏ ngỏ. Cụ thể, các cách tiếp cận trên thường chỉ tập trung nghiên cứu bản thân Đạo Mẫu với các yếu tố cấu thành cũng như nguồn gốc, bản chất, đặc điểm và giá trị của nó, tác dụng của nghi lễ hầu đồng. Những công trình nghiên cứu về những người thực hành tín ngưỡng này và mối quan hệ giữa họ còn rất ít ỏi và lẻ tẻ.

Vì vậy, ở đây với cách tiếp cận nhân học văn hóa, sử dụng khung lý thuyết vốn xã hội, sử dụng các phương pháp nghiên cứu của nhân học, luận án đi vào nghiên cứu cộng đồng của những người thực hành Đạo Mẫu, cụ thể là nghiên cứu về bản hội, các thành viên bản hội và các mối quan hệ của họ trong việc tạo lập vốn xã hội.2 Những nghiên cứu về cộng đồng, cộng đồng tôn giáo và bản hội. Trong luận án này, tôi sẽ nhìn nhận bản hội Đạo Mẫu như một cộng đồng tôn giáo vì vậy, tôi sẽ bắt đầu phần tổng quan này với những phác thảo về nghiên cứu cộng đồng và cộng đồng tôn giáo để có cơ sở làm toát lên những đặc trưng khác biệt của cộng đồng tín đồ Đạo Mẫu so với các cộng đồng tôn giáo khác. Những nghiên cứu về cộng đồng Cộng đồng là một khái niệm đã và đang được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học xã hội như sử học, văn hóa học, nhân học, tâm lí học, triết học, xã hội học.Thuật ngữ này trong tiếng Anh gọi là “community”, tiếng Pháp là “communité”, tiếng Đức là “Gemeinschaft”. Vì là một khái niệm quan trọng có tính chất thao tác trong nghiên cứu của nhiều nghành khoa học xã hội nên cộng đồng được nghiên cứu rất nhiều cả về lý thuyết lẫn các nghiên cứu về các loại cộng đồng cụ thể.

Trong các nghiên cứu lý thuyết về cộng đồng, người ta thường tập trung vào các vấn đề như khái niệm, phân loại cộng đồng, đặc trưng của cộng đồng và cộng đồng khác gì so với các khái niệm gần với nó như đoàn thể, hiệp hội. Một trong những công trình nghiên cứu về cộng đồng đáng được nhắc tới nhất là “Gemeinschaft und Gesellschaft” (1887) (Cộng đồng và Hiệp hội) của một nhà xã hội học người Đức- Ferdinand Toennies. Theo tác giả này, cộng đồng là một thực thể xã hội có độ gắn kết bền vững hơn so với “hiệp hội” vì “cộng đồng” được đặc trưng bởi “sự đồng thuận về ý chí” của các thành viên. Toenies cũng nhấn mạnh vai trò của ý chí cộng đồng khi cho rằng cộng đồng được hình thành trên cơ sở của việc mỗi thành viên của cộng đồng nhận thức được rằng mình là một bộ phận của cộng đồng.

15 Từ góc độ kinh tế học, cộng đồng được xem như một loại vốn xã hội. Tiêu biểu cho cách tiếp cận này là các luận điểm của Robert D.Putnam được trình bày trong công trình nổi tiếng “Bowling alone: the collapse and revival of American community” (2000). Theo tác giả này, có hai yếu tố tạo nên cộng đồng với tính cách là một nguồn vốn xã hội chính là tinh thần đoàn kết và sự hình thành các mạng lưới xã hội, trong đó từng người cảm thấy yên tâm, an toàn khi họ ở trong cộng đồng, trong mạng lưới và do đó sẵn sàng đóng góp, hy sinh vì cộng đồng, bảo vệ lợi ích của cộng đồng trong môi trường cạnh tranh khốc liệt. Các nhà khoa học chính trị hiện đại lại quan tâm đến cộng đồng như một hình thức tổ chức trong quá trình chính trị, bao gồm các nhóm lợi ích đến các chính đảng, các dạng công xã cho đến nhà nước-dân tộc.

Từ nửa sau thế kỉ XX, trong giới nghiên cứu chính trị học, đặc biệt là văn hóa chính trị, xuất hiện khái niệm về loại hình “cộng đồng tưởng tượng” (imagined community). Đây chính là cơ sở để Benidict Anderson phát triển thành lý thuyết mới về cộng đồng nói chung và quốc gia dân tộc nói riêng, trong đó nhấn mạnh sự chia sẻ giữa các thành viên của cộng đồng về cách mà họ hình dung về cộng đồng nói chung và vai trò của họ với tính cách là bộ phận hợp thành của cộng đồng ấy. Những thành tựu có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất, xét cả trên mặt học thuật và phương diện thực tiễn là những kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lí học về cộng đồng trong đó không thể không nhắc tới nghiên cứu của D.Chavis về ý thức cộng đồng, cảm giác thuộc về cộng đồng (sense of community) công bố lần đầu tiên vào năm 1986. Theo hai ông, “ý thức cộng đồng là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sức bền cố kết nội tại của cộng đồng.

Bốn yếu tố sau đây chính là cơ sở của ý thức cộng đồng: 1) tư cách thành viên; 2) ảnh hưởng; 3) sự hội nhập và sự đáp ứng các yêu cầu; 4) sự gắn bó chia sẻ tình cảm” [Dẫn theo 118; tr23] Những nghiên cứu về cộng đồng tôn giáo Cho đến nay, các học giả đã phân loại cộng đồng thành nhiều loại khác nhau. Theo Phạm Hồng Tung (2009) [122], về cơ bản người ta chia cộng đồng thành 3 loại: cộng đồng địa lý (geographic community) bao gồm các cộng đồng láng giềng như xóm, phố, làng xã, thành phố, vùng, quốc gia; cộng đồng văn hóa (community of cutural) bao gồm các loại phe phái, tiểu văn hóa, nhóm tộc người, các cộng đồng tôn giáo, cộng đồng đa văn hóa…;cộng đồng tổ chức (community of Organizations) bao gồm gia đình, dòng họ, các mạng lưới, cho tới các tổ chức chính thức, các tập đoàn kinh tế, hiệp hội nghề nghiệp…Như vậy, cộng đồng tôn giáo là một trong 16 những loại hình của cộng đồng văn hóa, loại hình cộng đồng này dựa trên cơ sở niềm tin tôn giáo. Có nhiều nghiên cứu về cộng đồng tôn giáo như cộng đồng Công giáo, Hồi giáo, Tin Lành…Người ta đã nghiên cứu nhiều khía cạnh của các cộng đồng tôn giáo này như sự ra đời, sinh hoạt nghi lễ và những yếu tố cố kết của nó…Trong số đó, gần gũi hơn cả trong nghiên cứu của chúng tôi là “Vốn xã hội của các đoàn thể tôn giáo Mỹ” của tác giả Lưu Bành (2010) [9]. Trong bài viết này tác giả khẳng định: hàng triệu triệu người dân Mỹ thuộc các loại đoàn thể tôn giáo khác nhau, bất luận là hoàn cảnh kinh tế xã hội của họ như thế nào, khi họ tham gia vào tổ chức tôn giáo và hoạt động tôn giáo thì đồng thời một mặt họ nhận được sự giúp đỡ hết sức cụ thể từ giáo hội, đặc biệt là có được cái cảm nhận về sự an toàn và sự an ủi về mặt tinh thần, một mặt khác chính hoạt động của họ làm lớn mạnh thêm vốn xã hội cho giáo hội.

Giáo hội là con đường tốt nhất thu gom nguồn vốn xã hội, là nơi hứng thú giao lưu tiếp xúc, giữ gìn quy tắc và học tập rèn luyện kĩ năng trong cuộc sống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ