Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý văn hóa (mã số: 9229042) với đề tài "Truyền thông về văn hoá tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2016-2021" do nghiên cứu sinh Đào Thị Tuyết Mai thực hiện tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Từ Thị Loan, bảo vệ năm 2022. Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu theo hướng liên ngành, kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm phân tích hoạt động truyền thông phục vụ công tác quản lý nhà nước về văn hóa.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong công tác quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về văn hóa nói riêng, truyền thông giữ vai trò cung cấp thông tin, định hướng dư luận, thăm dò và thu thập ý kiến xã hội nhằm xây dựng, ban hành và thực thi chính sách khả thi. Văn hóa là lĩnh vực đặc thù, là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực và là hệ điều tiết cho sự phát triển bền vững.

Trong bối cảnh bùng nổ phương tiện truyền thông mới và mạng xã hội, các sự cố thông tin liên quan đến quản lý nhà nước về văn hóa xuất hiện ngày càng nhiều, tiêu biểu như những sai phạm trong tu bổ di tích, phát ngôn của nghệ sĩ, hay các biểu hiện lệch chuẩn văn hóa trên không gian mạng. Thực tiễn này đòi hỏi cơ quan quản lý phải tăng cường đối thoại, giải đáp và xử lý khủng hoảng truyền thông để tạo sự đồng thuận xã hội.

Về mặt học thuật, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tìm hiểu truyền thông đại chúng, mạng xã hội đối với lối sống của giới trẻ hoặc truyền thông sự kiện đơn lẻ. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu về truyền thông chính sách văn hóa dưới góc độ khoa học quản lý văn hóa. Đây là khoảng trống nghiên cứu chính mà luận án tập trung giải quyết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về truyền thông phục vụ quản lý nhà nước về văn hóa tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2016-2021; nhận diện thực trạng truyền thông về văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, sự kiện văn hóa và hiệu quả của các hoạt động này; từ đó xác định vấn đề đặt ra và đề xuất hệ thống giải pháp, mô hình nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông phục vụ quản lý nhà nước về văn hóa.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm ba nội dung:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận về truyền thông gắn với quản lý nhà nước về văn hóa, xác lập khung phân tích và vận dụng lý thuyết phù hợp.
  2. Đánh giá thực trạng hoạt động truyền thông của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2016-2021 thông qua các thành tố: chủ thể, hoạt động phát ngôn, cung cấp thông tin báo chí, truyền thông chính sách, truyền thông sự kiện, mức độ tiếp nhận của công chúng và các nguồn lực bảo đảm.
  3. Nhận diện các vấn đề hạn chế, xác định phương hướng, đề xuất các nhóm giải pháp và mô hình truyền thông chính sách văn hóa phục vụ công tác quản lý nhà nước.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Những thành tố nào tham gia hoạt động truyền thông phục vụ quản lý nhà nước về văn hóa tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch?
  2. Thực trạng công tác truyền thông gắn với quản lý nhà nước về văn hóa tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2016-2021 ra sao?
  3. Giải pháp nào để nâng cao hiệu quả truyền thông phục vụ tốt cho công tác quản lý nhà nước về văn hóa tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nói riêng và ở Việt Nam nói chung?

Giả thuyết nghiên cứu

  1. Các thành tố chính tham gia hoạt động truyền thông tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (gồm chủ thể, hoạt động, đối tượng tiếp nhận và nguồn lực truyền thông) gắn bó mật thiết với nội dung và mục tiêu quản lý nhà nước về văn hóa của Bộ.
  2. Công tác truyền thông về văn hóa tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2016-2021 đã được quan tâm, đạt một số kết quả, bám sát yêu cầu chung của cơ quan nhà nước, tuy nhiên hiệu quả thực tế chưa cao.
  3. Để nâng cao hiệu quả truyền thông phục vụ quản lý nhà nước, cần một hệ thống giải pháp đồng bộ, phát huy vai trò của bộ phận chuyên trách và xây dựng mô hình truyền thông bài bản, chuyên nghiệp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác truyền thông về văn hóa tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trên các phương diện: chủ thể, phương thức, nội dung, đối tượng tiếp nhận và hiệu quả truyền thông.
  • Đối tượng khảo sát:
    • Nhà quản lý văn hóa, người làm công tác truyền thông tại Bộ và các cơ quan địa phương (Sở Văn hóa và Thể thao; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Phòng Văn hóa, Trung tâm Văn hóa - Thể thao cấp huyện/thị xã).
    • Đại diện chủ thể sáng tạo và thực hành văn hóa (nghệ nhân, nghệ sĩ, người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật).
    • Người dân sinh sống tại một số địa phương.
  • Phạm vi không gian: Các đơn vị quản lý nhà nước thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các cơ quan báo chí, truyền thông do Bộ làm cơ quan chủ quản (Báo Văn hóa, Báo Điện tử Tổ quốc, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2016-2021, mốc thời gian đánh dấu việc thành lập bộ phận chuyên trách về truyền thông tại Văn phòng Bộ.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào công tác truyền thông văn bản chính sách do Bộ ban hành và các sự kiện, hoạt động văn hóa do Bộ tổ chức nhằm thực thi chính sách; đi sâu khảo sát 3 lĩnh vực có nhiều vấn đề quản lý nổi cộm: di sản văn hóa, quản lý lễ hội và điện ảnh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng quan hệ thống tư liệu nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhóm nội dung chính:

Nhóm nghiên cứu về truyền thông và truyền thông chính sách

  • Công trình quốc tế:
    • Giai đoạn khởi đầu và định hình: Harold Lasswell (1927, 1948) với mô hình cấu trúc truyền thông kinh điển ("Who says what in which channel to whom with what effect"); Carl Hovland và cộng sự nghiên cứu thực nghiệm về hiệu ứng thay đổi thái độ.
    • Giai đoạn thể chế và chính trị: Siebert, Peterson và Schramm (1956) với công trình Four Theories of the Press đặt nền tảng so sánh các hệ thống báo chí.
    • Nghiên cứu hiệu ứng và dòng chảy thông tin: Thuyết Người dẫn đường dư luận (Opinion Leader) và Thuyết Truyền thông hai bước (Two-Step Flow); Báo cáo Many Voices, One World (1980) của Ủy ban Truyền thông Quốc tế thuộc UNESCO chỉ ra sự mất cân bằng thông tin toàn cầu; Hudson nghiên cứu vai trò của viễn thông đối với phát triển kinh tế - xã hội.
    • Giai đoạn tiếp nhận chủ động và truyền thông đa phương tiện: Thuyết Sử dụng và Hài lòng (Uses and Gratifications); Stuart Hall với mô hình mã hóa - giải mã (Encoding/Decoding) thuộc trường phái Nghiên cứu Văn hóa (Cultural Studies); Arthur Asa Berger (1995) trong Essentials of Mass Communication Theory xác định 5 yếu tố cấu thành; Merrill Morris và Christine Ogan (1997) nghiên cứu lý thuyết sự hiện diện xã hội trong truyền thông qua máy tính; David Gauntlett (1998) với Ten Things Wrong With the Media Effects Model; Blake Te'Neil Lloyd (2000) nghiên cứu tác động của video âm nhạc tới nhận thức của thanh thiếu niên; John Fiske (1982, 2002) trong Introduction to Communication Studies coi truyền thông là trung tâm của đời sống văn hóa; Lievrouw và Sonia Livingstone (2006) trong Handbook of New Media; S. Price (2008) trong Media Studies; Ryoo (2009) tiếp cận sự lai tạp (hybridization) qua làn sóng Hàn Quốc; Werner Joseph Severin và James W. Tankard Jr (2014) trong Communication Theories: Origins, Methods, Uses.
  • Công trình trong nước:
    • Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng (2014) trong cuốn Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản phân tích mô hình chu trình truyền thông 5 bước 1 khâu và đối sánh bản chất giữa tuyên truyền và truyền thông.
    • Phan Tân và Bùi Phương Đình (2014) khảo sát sự định hình dư luận và chương trình nghị sự trên môi trường truyền thông mới.
    • Kỷ yếu hội thảo quốc tế Truyền thông chính sách kinh nghiệm Việt Nam và Hàn Quốc (2016) do Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp Báo Đại biểu Nhân dân và KOICA tổ chức.
    • Các khảo sát xã hội học về internet, mạng xã hội và giới trẻ của Lê Thu Quỳnh, Lê Thị Minh Trà, Ngô Lan Hương, Trần Thị Oanh, Lê Minh Thanh, Nguyễn Thị Cẩm Nhung, Hoàng Thị Hải Yến, Nguyễn Minh Hạnh.

Nhóm nghiên cứu về truyền thông trong lĩnh vực văn hóa và quản lý văn hóa

  • Theodor W. Adorno (1949) với Philosophy of New Music (trường phái Frankfurt) nhìn nhận truyền thông đại chúng và công nghiệp âm nhạc dưới góc độ phê phán chính trị - văn hóa.
  • Kristin Thompson và David Bordwell (2012) nghiên cứu chiến lược kinh tế - văn hóa của hãng Walt Disney qua phương tiện điện ảnh.
  • Tại Việt Nam, các công trình khảo sát tác động của phương tiện truyền thông mới đến lối sống và văn hóa gồm có: Phạm Việt Long (2001), Nguyễn Thị Minh Phương và Nguyễn Thái Quỳnh Chi (2001), Tây Sơn (2004), Đỗ Nam Liên (2005), Bùi Hoài Sơn (2006, 2008), Bùi Quang Thắng (2007), Nguyễn Quý Thanh (2011).
  • Đề tài cấp Bộ do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nghiệm thu năm 2019: Giải pháp truyền thông trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch (qua khảo sát các hoạt động do Bộ VHTTDL thực hiện) bước đầu chỉ ra thực trạng tiếp nhận thông tin nhưng chưa phân tích sâu theo chu trình truyền thông chính sách văn hóa.

Khoảng trống luận án giải quyết

Phần lớn các nghiên cứu hiện có nhìn nhận truyền thông thuần túy dưới góc độ kỹ thuật báo chí hoặc xã hội học về lối sống. Chưa có công trình nào tích hợp truyền thông chính sách thành một công cụ quản lý nhà nước chuyên ngành để phân tích quy trình ban hành, thực thi và đánh giá chính sách văn hóa tại cơ quan quản lý cao nhất là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Luận án xác định đây là nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về truyền thông chính sách văn hóa tiếp cận từ khoa học quản lý văn hóa tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  • Thuyết Thiết lập chương trình nghị sự (Agenda Setting Theory): Luận án vận dụng luận điểm khởi xướng từ tác phẩm Public Opinion (1922) của Walter Lippmann về mối quan hệ giữa "thế giới bên ngoài và những hình ảnh trong đầu chúng ta" (môi trường giả định). Truyền thông không chỉ phản ánh mà còn lựa chọn, sắp xếp mức độ ưu tiên của các vấn đề công cộng, từ đó tác động đến mối quan tâm của người dân và định hướng quy trình chính sách của nhà nước.
  • Khái niệm Văn hóa: Tiếp cận theo các định nghĩa của E.B. Tylor (1874), Hồ Chí Minh, UNESCO (1998) và quy định pháp lý về các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (di sản văn hóa, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm, bản quyền, thư viện, văn hóa cơ sở...).
  • Khái niệm Chính sách văn hóa (Cultural Policy): Tổng thể các nguyên tắc, phương pháp quản lý và giải pháp nguồn lực của nhà nước can thiệp hoặc không can thiệp vào đời sống văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu nhân dân (UNESCO 1998, Hội nghị Stockholm 1998, Nguyễn Văn Tình 2008).
  • Khái niệm Truyền thông chính sách văn hóa (do tác giả luận án đề xuất): Là quá trình điều phối và quản lý dòng chảy thông tin về chính sách văn hóa, góp phần tác động, điều chỉnh mối quan tâm, sự tham gia đóng góp của các tầng lớp xã hội đối với chính sách văn hóa bằng các phương thức khác nhau. Quá trình này bao gồm truyền thông về văn bản pháp luật và truyền thông các hoạt động văn hóa nhằm tạo sự đồng thuận xã hội.
  • Năng lực truyền thông của công chúng: Được phân chia theo các cấp độ vận động: Tiếp cận thông tin $\rightarrow$ Hiểu rõ $\rightarrow$ Đánh giá/Thảo luận $\rightarrow$ Chủ động tham gia thực thi.
Tiêu chí phân biệt Tuyên truyền Truyền thông
Chủ thể Đề cao (tuyệt đối hóa) chủ thể Đề cao công chúng
Tính tương tác Coi trọng áp đặt, dòng thông tin một chiều Đề cao tương tác hai chiều bình đẳng
Mục tiêu tiếp nhận Truyền đạt để chấp hành, có tính bắt buộc Chia sẻ, tìm kiếm tương đồng, tôn trọng khác biệt
Mục đích xã hội Xóa bỏ sự khác biệt, hướng đến đồng nhất Gia tăng tương đồng, giảm dần khác biệt, bảo lưu đặc thù
Mô hình vận hành Một chiều từ trên xuống dưới Mô hình mạng lưới đa chiều
Tính chất kinh tế Chủ yếu bao cấp vì mục đích tuyên truyền chính trị Ngành kinh tế - dịch vụ xã hội phát triển
Phạm vi áp dụng Phổ biến trong chính sách đối nội và đối ngoại ở các nước XHCN Phương Tây chủ yếu dùng trong đối nội, tuyên truyền dùng trong đối ngoại

Bảng: So sánh đặc trưng giữa Tuyên truyền và Truyền thông theo tiếp cận lý luận của luận án.

Bốn phương thức truyền thông về văn hóa

  1. Truyền thông trực tiếp (Face-to-face communication): Thông qua đối thoại, hội nghị, hội thảo, tọa đàm lấy ý kiến trực tiếp.
  2. Truyền thông đại chúng và mạng xã hội (Mass communication): Báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình và cổng thông tin điện tử, fanpage.
  3. Truyền thông trực quan (Visual communication): Trưng bày, triển lãm, panô, áp phích, ấn phẩm đồ họa.
  4. Truyền thông qua ngôn ngữ nghệ thuật (Performance arts communication): Lồng ghép thông điệp chính sách vào các tác phẩm sân khấu, âm nhạc, điện ảnh.

Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành giữa Quản lý văn hóa (trọng tâm), Văn hóa học, Xã hội học và Lý luận Báo chí - Truyền thông.

  • Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp: Khảo sát các văn bản quy phạm pháp luật (Luật, Nghị định, Thông tư, Quyết định), báo cáo tổng kết giai đoạn 2016-2021 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các đơn vị chuyên môn.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (định lượng): Kế thừa dữ liệu điều tra xã hội học từ đề tài khoa học cấp Bộ (2018-2019) với cỡ mẫu 500 phiếu hỏi, chia làm 2 nhóm: nhóm cán bộ quản lý văn hóa và nhóm người dân.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu (định tính): Thực hiện 30 cuộc phỏng vấn sâu với các nhà quản lý, chuyên gia truyền thông, nghệ nhân, nghệ sĩ và phóng viên theo dõi mảng văn hóa.
  • Phương pháp chuyên gia: Tổ chức xin ý kiến tư vấn từ các nhà khoa học, nhà quản lý văn hóa uy tín về các dự thảo giải pháp và mô hình truyền thông chính sách văn hóa.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án có tổng dung lượng chính văn gồm 3 chương (133 trang), không kể phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục.

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về hoạt động truyền thông của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (41 trang)

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu lý thuyết truyền thông thế giới và Việt Nam; xác lập hệ thống khái niệm nòng cốt; luận giải vai trò của truyền thông trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, nâng cao trách nhiệm giải trình và tạo lập đồng thuận xã hội trong quản lý văn hóa. Tác giả phân tích các thành tố tham gia quy trình truyền thông (chủ thể, khách thể, hoạt động, nguồn lực) và chu trình 5 bước 1 khâu của hoạt động truyền thông chính sách.

Chương này cũng khái quát chức năng quản lý nhà nước đa ngành của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và cơ cấu tổ chức bộ máy truyền thông của Bộ (Văn phòng Bộ, Trung tâm Công nghệ thông tin, Báo Văn hóa, Báo Điện tử Tổ quốc, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật).

Chương 2: Thực trạng truyền thông gắn với quản lý nhà nước về văn hóa tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2016-2021 (57 trang)

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực tế và phân tích số liệu thứ cấp về các mảng hoạt động truyền thông của Bộ trong giai đoạn 2016-2021:

  • Về chủ thể và hoạt động truyền thông: Khảo sát công tác phát ngôn, họp báo định kỳ, cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí; thực trạng truyền thông dự thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật; truyền thông các sự kiện văn hóa lớn (liên hoan phim, festival, ngày hội văn hóa dân tộc). Phân tích chi tiết 3 lĩnh vực trọng điểm:
    • Quản lý di sản văn hóa: Truyền thông trong công tác bảo tồn, tu bổ di tích trước phản ánh của dư luận xã hội.
    • Quản lý lễ hội: Tuyên truyền thực hiện nếp sống văn minh, kiểm soát các hiện tượng phản cảm, thương mại hóa lễ hội.
    • Quản lý điện ảnh: Truyền thông quá trình xây dựng dự thảo Luật Điện ảnh (sửa đổi), phổ biến và kiểm duyệt phim.
  • Về đối tượng tiếp nhận và hiệu quả truyền thông: Phân tích mức độ tiếp cận thông tin chính sách và sự kiện của người dân và cán bộ quản lý địa phương thông qua các biểu đồ số liệu:
Số hiệu Tên biểu đồ số liệu trong chương 2 Trang thể hiện
Biểu đồ 1 Tỉ lệ các nguồn tiếp cận thông tin Trang 67
Biểu đồ 2 Tỉ lệ nghe/nói/trao đổi thông tin về các văn bản chính sách (chia theo nhóm trả lời phỏng vấn) Trang 90
Biểu đồ 3 Tỉ lệ người biết về các sự kiện lĩnh vực văn hóa Trang 93
Biểu đồ 4 Tỉ lệ đánh giá về nguồn tài chính cho công tác truyền thông Trang 95
Biểu đồ 5 Tỉ lệ biết về các kênh thông tin của Bộ Trang 101

Bảng: Danh mục các biểu đồ số liệu khảo sát thực trạng trong Chương 2 của luận án.

  • Về nguồn lực truyền thông: Đánh giá nguồn nhân lực (đội ngũ phát ngôn, phóng viên, biên tập viên), nguồn tài lực (kinh phí chi cho truyền thông chính sách còn hạn hẹp) và nguồn vật lực (hạ tầng công nghệ thông tin, mô hình cơ quan báo chí hội tụ).
  • Đánh giá chung: Tổng kết những kết quả tích cực (bám sát chỉ đạo, mở rộng kênh thông tin) và chỉ rõ các hạn chế: thông tin còn một chiều, tính tương tác chưa cao, chậm ứng phó với khủng hoảng truyền thông mạng xã hội.

Chương 3: Những vấn đề đặt ra, phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông phục vụ quản lý nhà nước về văn hóa (35 trang)

Chương 3 chỉ ra 6 vấn đề cấp bách đặt ra từ thực tiễn:

  1. Nhận thức về vai trò của truyền thông gắn với quản lý nhà nước về văn hóa chưa tương xứng với yêu cầu thực tế.
  2. Môi trường chính sách và cơ chế vận hành truyền thông còn nhiều bất cập.
  3. Khoảng cách giữa quy định chính sách văn hóa và thực tiễn đời sống chưa được lấp đầy bằng truyền thông.
  4. Thiếu chiến lược truyền thông văn hóa dài hạn, tính chuyên nghiệp của đội ngũ chưa cao.
  5. Khó khăn trong việc kiểm soát dòng thông tin và định hướng dư luận trong bối cảnh thời đại số.
  6. Tính tương tác giữa cơ quan quản lý và công chúng còn yếu, năng lực truyền thông của cộng đồng chưa được chú trọng bồi dưỡng.

Từ việc xác định các phương hướng phát triển, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể:

  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Đào tạo kỹ năng phát ngôn, kỹ năng truyền thông số và xử lý khủng hoảng cho cán bộ quản lý văn hóa.
  • Tăng cường nguồn lực thông tin: Xây dựng dữ liệu thông tin chính sách minh bạch, đa dạng hóa nội dung thông điệp dễ hiểu với công chúng.
  • Tăng cường nguồn lực kênh thông tin: Tối ưu hóa Cổng thông tin điện tử của Bộ, đẩy mạnh truyền thông qua các nền tảng mạng xã hội và phát triển mô hình tòa soạn số.
  • Đầu tư thỏa đáng về tài chính: Bố trí hạng mục ngân sách riêng cho công tác truyền thông chính sách văn hóa ngay từ khâu soạn thảo văn bản.
  • Xây dựng chiến lược truyền thông chuyên biệt: Thiết kế chiến lược riêng cho từng lĩnh vực đặc thù (di sản, lễ hội, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn...).
  • Đề xuất mô hình: Xây dựng mô hình truyền thông chính sách văn hóa tổng thể tại Việt Nam (trình bày tại trang 145 của luận án) vận hành theo chu trình tương tác hai chiều giữa chủ thể chính sách và công chúng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án đề xuất định nghĩa khoa học về "Truyền thông chính sách văn hóa", bổ sung vào hệ thống lý luận của chuyên ngành Quản lý văn hóa tại Việt Nam.
  • Xác lập khung phân tích liên ngành, làm sáng tỏ các thành tố cấu thành quy trình truyền thông chính sách văn hóa và thang đo năng lực tiếp nhận truyền thông của công chúng (từ tiếp cận, hiểu, đánh giá đến hành động thực thi).
  • Khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa công tác phát ngôn, cung cấp thông tin báo chí, truyền thông chính sách với hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng (500 phiếu điều tra, 30 phỏng vấn sâu) phản ánh trung thực thực trạng truyền thông tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2016-2021.
  • Làm rõ thực trạng và nguyên nhân của những tồn tại trong truyền thông 3 lĩnh vực then chốt: quản lý di sản, tổ chức lễ hội và quản lý điện ảnh.
  • Đề xuất mô hình truyền thông chính sách văn hóa và hệ thống 5 nhóm giải pháp có tính khả thi, làm tài liệu tham khảo trực tiếp cho các nhà hoạch định chính sách và cán bộ truyền thông của ngành văn hóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát thực nghiệm tại cơ quan Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và 3 đơn vị báo chí trực thuộc (Báo Văn hóa, Báo Điện tử Tổ quốc, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật); mốc thời gian khảo sát dừng lại ở giai đoạn 2016-2021. Dữ liệu chuyên sâu mới chỉ tập trung vào 3 lĩnh vực (di sản văn hóa, lễ hội, điện ảnh), chưa bao quát toàn bộ các lĩnh vực khác như bản quyền tác giả, mỹ thuật - nhiếp ảnh, thể thao hay du lịch.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng khảo sát mô hình truyền thông chính sách văn hóa tại các cơ quan quản lý văn hóa cấp địa phương (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh/thành phố).
    • Nghiên cứu ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong việc lắng nghe mạng xã hội (social listening) và xử lý khủng hoảng truyền thông chính sách văn hóa.
    • Nghiên cứu truyền thông quảng bá thương hiệu văn hóa quốc gia ra thị trường quốc tế thông qua các sản phẩm công nghiệp văn hóa.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước: Lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Văn phòng Bộ, Cục Di sản văn hóa, Cục Điện ảnh, Cục Văn hóa cơ sở và các Sở Văn hóa - Thể thao địa phương sử dụng để đổi mới công tác phát ngôn, xây dựng kế hoạch truyền thông chính sách khi soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật.
  2. Cơ quan báo chí, truyền thông ngành: Các cơ quan báo chí trực thuộc Bộ tham khảo nhằm tối ưu hóa phương thức truyền tải thông điệp, xây dựng nội dung tương tác trên môi trường số.
  3. Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Quản lý văn hóa, Báo chí học, Xã hội học văn hóa sử dụng làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu chuyên khảo về truyền thông chính sách và quản trị văn hóa.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định các thành tố cơ bản nào tham gia hoạt động truyền thông văn hóa tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch? Luận án xác định 4 thành tố chính gồm: (1) Chủ thể truyền thông (Lãnh đạo Bộ, người phát ngôn, các Cục/Vụ, đơn vị báo chí của Bộ); (2) Khách thể/Đối tượng tiếp nhận truyền thông (Chủ thể sáng tạo văn hóa, đối tượng thụ hưởng văn hóa và toàn xã hội); (3) Hoạt động truyền thông (Phát ngôn, cung cấp thông tin báo chí, truyền thông văn bản chính sách, truyền thông sự kiện văn hóa); (4) Nguồn lực truyền thông (Nguồn lực thông tin, nguồn vật lực/kênh thông tin và nguồn tài lực).

2. Ba lĩnh vực quản lý nhà nước nào được luận án lựa chọn đi sâu phân tích thực trạng truyền thông? Luận án tập trung phân tích sâu 3 lĩnh vực có nhiều vấn đề nổi cộm trong công tác quản lý gồm: di sản văn hóa (các sai phạm và tranh luận trong tu bổ di tích), quản lý lễ hội (thực hiện nếp sống văn minh, xử lý thương mại hóa lễ hội) và điện ảnh (xây dựng dự thảo Luật Điện ảnh sửa đổi và quản lý phổ biến phim).

3. Tác giả luận án định nghĩa "Truyền thông chính sách văn hóa" như thế nào? Truyền thông chính sách văn hóa là quá trình điều phối và quản lý dòng chảy thông tin về chính sách văn hóa, góp phần tác động, điều chỉnh mối quan tâm, sự tham gia đóng góp của các tầng lớp xã hội đối với chính sách văn hóa bằng các phương thức khác nhau. Hoạt động này bao gồm cả truyền thông về văn bản chính sách và các hoạt động văn hóa nhằm thực thi chính sách để tạo lập sự đồng thuận xã hội.

4. Dữ liệu thực nghiệm của luận án được thu thập từ những nguồn nào? Dữ liệu định lượng kế thừa từ đề tài cấp Bộ (2018-2019) do nghiên cứu sinh làm thư ký, gồm 500 phiếu hỏi khảo sát 2 nhóm đối tượng (cán bộ quản lý và người dân). Dữ liệu định tính được bổ sung qua 30 cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp với các nhà quản lý, nhà nghiên cứu, nghệ nhân, nghệ sĩ và phóng viên theo dõi ngành văn hóa.

5. Luận án chỉ ra những phương thức truyền thông nào có thể áp dụng trong ngành văn hóa? Luận án phân chia thành 4 nhóm phương thức: (1) Giao tiếp trực tiếp (hội thảo, tọa đàm, đối thoại); (2) Phương tiện truyền thông đại chúng và mạng xã hội (báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình, cổng thông tin); (3) Sản phẩm trực quan (panô, áp phích, ấn phẩm triển lãm); (4) Ngôn ngữ biểu đạt nghệ thuật (lồng ghép thông điệp vào sân khấu, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Đào Thị Tuyết Mai đã hoàn thành việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng công tác truyền thông phục vụ quản lý nhà nước tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2016-2021. Bằng cách tiếp cận liên ngành giữa quản lý văn hóa và lý luận truyền thông, công trình làm rõ những bất cập về nguồn lực, cơ chế phát ngôn và tính tương tác của dòng thông tin chính sách. Hệ thống giải pháp và mô hình truyền thông chính sách văn hóa do luận án đề xuất cung cấp luận cứ khoa học hữu ích nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về văn hóa trong bối cảnh truyền thông số.