Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Nhân học của tác giả Lê Anh Đức có tiêu đề “Trang phục truyền thống hiện nay của người Lô Lô Hoa ở huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang”, thuộc chuyên ngành Nhân học (mã số: 9 31 03 02), được bảo vệ năm 2019 tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phạm Văn Dương.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án xác định Lô Lô là một trong những dân tộc có dân số dưới 10 nghìn người tại Việt Nam, thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến. Tại tỉnh Hà Giang, nhóm Lô Lô Hoa chỉ có khoảng 400 người, chiếm tỷ lệ khoảng 35% đến 40% so với nhóm Lô Lô Đen. Địa bàn cư trú của người Lô Lô Hoa tập trung chủ yếu tại thị trấn Mèo Vạc - khu vực chịu tác động trực tiếp của quá trình đô thị hóa, giao lưu văn hóa và sự phát triển dịch vụ thuộc Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn. Thực trạng này khiến trang phục truyền thống của người Lô Lô Hoa bị mai một và biến đổi nhanh trong giai đoạn 10 năm trước thời điểm nghiên cứu. Thêm vào đó, tập quán mặc trang phục truyền thống chôn theo người qua đời làm suy giảm đáng kể số lượng y phục cổ truyền; đến giữa năm 2018, toàn bộ cộng đồng Lô Lô Hoa tại huyện Mèo Vạc chỉ còn lưu giữ được 4 bộ trang phục truyền thống nguyên bản bằng sợi bông dệt thủ công có niên đại khoảng 40 năm. Mặc dù trang phục của nhóm Lô Lô Hoa có nhiều đặc trưng kỹ thuật riêng biệt như nghệ thuật khâu ghép vải và trang trí hoa văn, các công trình đi trước chủ yếu phác thảo khái quát về văn hóa tộc người, thiếu vắng công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống từ góc độ Nhân học.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhận diện những đặc trưng về trang phục truyền thống đang tồn tại hiện nay của người Lô Lô Hoa ở huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang; trên cơ sở đó, góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị của trang phục truyền thống của nhóm Lô Lô Hoa trong bối cảnh hiện nay. Để đạt được mục đích này, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Khảo sát, tìm hiểu về trang phục truyền thống hiện nay của người Lô Lô Hoa ở huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, từ các công đoạn làm ra bộ y phục và các đồ trang sức, trang trí hoa văn đến các thành tố của trang phục;
  2. Làm rõ các chức năng và giá trị của trang phục truyền thống đối với đời sống của người Lô Lô Hoa ở địa bàn trên;
  3. Phân tích những biến đổi của bộ trang phục truyền thống từ Đổi mới năm 1986 đến nay và những nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi;
  4. Đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá đối với trang phục truyền thống hiện nay của người Lô Lô Hoa.

Đối tượng nghiên cứu là trang phục truyền thống của người Lô Lô Hoa ở huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang hiện vẫn đang được gìn giữ. Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba phương diện:

  • Về nội dung: Tập trung vào đặc trưng trang phục truyền thống hiện nay từ quy trình tạo tác, thành tố, chức năng đến các biểu hiện biến đổi từ thời kỳ Đổi mới năm 1986 đến nay, đặc biệt là giai đoạn phát triển du lịch tại Cao nguyên đá Đồng Văn.
  • Về không gian: Địa bàn nghiên cứu chính là nơi cư trú lâu đời và tập trung của người Lô Lô Hoa tại thị trấn Mèo Vạc, trọng tâm là xóm Sảng Pả A (huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang). Để phục vụ mục đích so sánh, tác giả khảo sát mở rộng tại các địa bàn có người Lô Lô sinh sống: xóm Cờ Tảng (xã Xín Cái) và xóm Thèn Pả (xã Thượng Phùng) thuộc huyện Mèo Vạc; thôn Đoàn Kết (xã Sủng Là) và xóm Lô Lô Chải (xã Lũng Cú) thuộc huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang; bản Nà Van (xã Hồng Trị) và bản Khuẩy Khon (xã Kim Cúc) thuộc huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.
  • Về thời gian: Giới hạn từ mốc Đổi mới năm 1986 đến thời điểm thực hiện luận án (năm 2018). Các yếu tố truyền thống nguyên bản được xem xét từ trước năm 1986 qua hồi cố và hiện vật lưu giữ của người cao tuổi; sự biến đổi được theo dõi xuyên suốt từ sau năm 1986 đến nay.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan hơn 60 ấn phẩm trong và ngoài nước liên quan đến tộc người Lô Lô và văn hóa trang phục.

Về tình hình nghiên cứu của các học giả nước ngoài, tác giả ghi nhận các công trình thời kỳ đầu thế kỷ XX của các tác giả người Pháp đăng trên Tạp chí Viễn Đông Bác Cổ (BEFEO) như: A. Bonifacy (1908) với công trình nghiên cứu ngôn ngữ của cư dân vùng thượng lưu sông Chảy; M. Alered Lietard với các bài viết về ngữ pháp tiếng Lô Lô và thổ ngữ Lô Lô. Các nghiên cứu này chỉ tập trung vào ngôn ngữ, chưa khảo tả văn hóa vật chất hay trang phục. Tác giả giải thích lý do không mở rộng nghiên cứu sang người Di ở Trung Quốc do tính chất phức tạp về vấn đề biên giới và dân tộc xuyên quốc gia. Bên cạnh đó, tác giả tiếp thu khung lý thuyết và phương pháp tiếp cận từ các học giả quốc tế: Eric Broudy với công trình về khung dệt để nhận diện quy trình dệt vải; Joanne B. Eicher với nghiên cứu về trang phục và tộc người trong sự biến đổi qua không gian và thời gian; David Jay Brown và Rebecca Ann Hill về vai trò của phụ nữ trong nghệ thuật thị giác và trao truyền tri thức.

Về tình hình nghiên cứu trong nước, tác giả phân chia theo các nhóm chủ đề:

  • Nguồn gốc lịch sử, kinh tế và xã hội: Nguyễn Chí Huyên, Hoàng Hoa Toàn, Lương Văn Bảo nghiên cứu nguồn gốc tộc người vùng biên giới phía Bắc; Nguyễn Anh Ngọc phân tích canh tác ruộng màu và thổ canh hốc đá; Mai Văn Tùng khảo sát tập quán canh tác truyền thống; Lâm Tâm giới thiệu người Lô Lô ở Đồng Văn; Hoàng Hoa Toàn viết về người Lô Lô ở Bảo Lạc; Nguyễn Văn Huy khảo cứu văn hóa và nếp sống Hà Nhì - Lô Lô; Khổng Diễn và Trần Bình chủ biên công trình về dân tộc Lô Lô ở Việt Nam; Vương Xuân Tình chủ biên bộ sách Các dân tộc ở Việt Nam (tập 4 quyển 1) với phần viết của Nguyễn Thị Thu.
  • Văn hóa vật chất và tinh thần: Lý Hành Sơn và Nguyễn Văn Căn nghiên cứu nhà ở và phong tục làm nhà; Ngô Vĩnh Bình, Hoàng Nam, Lò Giàng Páo sưu tầm dân ca và truyện cổ; Trịnh Minh Ngọc nghiên cứu nghệ thuật múa và múa tang ma; Lò Giàng Páo và Nguyễn Thị Hảo khảo sát di sản trống đồng; Đào Huy Khuê, Đặng Thị Hoa, Phạm Dương, Bàn Tuấn Năng, Mông Thị Xoan nghiên cứu hôn nhân, tang ma và nghi lễ chu kỳ đời người.
  • Nghiên cứu về trang phục Lô Lô và các tộc người thiểu số: Quỳnh Lan, Tiến Thiều, Vũ Đình Giáp, Lý Hành Sơn, Lê Mai Oanh khảo sát trang phục phụ nữ Lô Lô; Đỗ Thị Hòa nghiên cứu trang phục nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến; Ngô Đức Thịnh khảo cứu trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, tác giả kế thừa hệ thống lý luận, tiêu chí phân loại và chức năng trang phục từ công trình nghiên cứu về trang phục cổ truyền người Thái của Lê Ngọc Thắng (1990, 1991), kỹ thuật trang trí và hoa văn của Hoàng Lương, Trần Từ, Nguyễn Từ Chi, cùng các công trình nghiên cứu nghề dệt của Lâm Bá Nam, Vương Thị Bình, Nguyễn Thị Thanh Nga.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định rõ: Các công trình trước đây chỉ dừng lại ở mức độ phác thảo diện mạo văn hóa chung hoặc mô tả khái quát trang phục nữ Lô Lô, chưa có công trình chuyên khảo nào tiếp cận toàn diện, có hệ thống từ quy trình sản xuất nguyên liệu, công đoạn tạo tác, hệ thống thành tố, ý nghĩa biểu tượng hoa văn đến các chức năng và giá trị văn hóa của trang phục Lô Lô Hoa ở Mèo Vạc. Đồng thời, chiều kích biến đổi của trang phục này dưới tác động của kinh tế thị trường, đô thị hóa và hoạt động du lịch từ sau năm 1986 đến nay chưa từng được phân tích cụ thể.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng ba lý thuyết nhân học làm khung phân tích:

  • Lý thuyết chức năng (đại diện là Bronislaw Malinowski): Luận án tiếp cận trang phục như một thiết chế văn hóa vật chất tồn tại nhằm đáp ứng các nhu cầu của con người và xã hội, bao gồm chức năng bảo vệ sinh học, chức năng xã hội và chức năng thẩm mỹ.
  • Lý thuyết bản sắc văn hóa tộc người (khởi xướng bởi Franz Boas): Nhấn mạnh tính đặc thù văn hóa của từng tộc người được hình thành qua lịch sử. Lý thuyết này được vận dụng để nhận diện các nét khu biệt trên trang phục người Lô Lô Hoa so với nhóm Lô Lô Đen và các dân tộc láng giềng, đồng thời xem xét cách thức chủ thể văn hóa tái tạo, "dân tộc hóa" các chất liệu mới du nhập từ bên ngoài.
  • Lý thuyết biến đổi văn hóa: Kết hợp quan điểm tiến hóa xã hội (E.B. Tylor, L.H. Morgan), thuyết truyền bá văn hóa và thuyết sinh thái văn hóa. Khung lý thuyết này giúp giải thích quá trình biến đổi trang phục qua hai động lực: tự thân thích ứng từ bên trong và tiếp biến văn hóa do tương tác với môi trường kinh tế, xã hội bên ngoài.

Về mặt khái niệm, tác giả định nghĩa trang phục bao gồm y phục (đồ mặc che thân như khăn, áo, quần, váy), đồ trang sức (trâm, vòng, khuyên tai, xà tích) và các phụ kiện đi kèm. Luận án phân biệt rõ hai trạng thái: “trang phục truyền thống nguyên bản” (lưu giữ qua nhiều thế hệ, làm bằng sợi bông dệt thủ công) và “trang phục dạng truyền thống” (đã thay đổi chất liệu công nghiệp nhưng vẫn giữ kiểu dáng, bố cục hoa văn và màu sắc chủ đạo). Việc phân loại trang phục trong luận án được triển khai dựa trên trục giới tính: trang phục nam và trang phục nữ.

Về phương pháp nghiên cứu, phương pháp điền dã dân tộc học giữ vai trò chủ đạo, được tiến hành qua các đợt khảo sát thực địa từ năm 2016 đến năm 2018 tại tỉnh Hà Giang và tỉnh Cao Bằng. Các kỹ thuật thu thập thông tin bao gồm:

  • Phỏng vấn sâu: Thực hiện đối với già bản, trưởng bản, nghệ nhân may thêu, thầy cúng và người dân am hiểu phong tục.
  • Thảo luận nhóm: Tổ chức lấy ý kiến của nhiều độ tuổi, giới tính về kỹ thuật chế tác, sự biến đổi và nhu cầu bảo tồn trang phục.
  • Quan sát tham dự: Trực tiếp ghi nhận quy trình cắt may, kỹ thuật ghép vải màu, thêu hoa văn, cũng như cách thức đồng bào mặc trang phục trong sinh hoạt thường nhật và các nghi lễ (lễ cầu mưa, lễ mừng ngô mới, tang ma).
  • Đo vẽ, chụp ảnh, quay phim, ký họa tốc ký: Ghi chép chính xác kích thước, thông số kỹ thuật, cấu trúc hoa văn và màu sắc trang phục.
  • Phương pháp phân loại, phương pháp so sánh (đồng đại và lịch đại giữa các nhóm địa phương), phương pháp chuyên gia và nghiên cứu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam (Thái Nguyên) và Bảo tàng tỉnh Hà Giang.

Dữ liệu điền dã thực địa của luận án được tổng hợp cụ thể trong bảng sau:

Địa bàn khảo sát Đơn vị hành chính cấp cơ sở Số lượng phỏng vấn sâu Số lần thảo luận nhóm Nhóm đối tượng khảo sát chính
Huyện Mèo Vạc (Hà Giang) Thị trấn Mèo Vạc (xóm Sảng Pả A) 15 người 05 lần Trưởng xóm, nghệ nhân nữ, người cao tuổi Lô Lô Hoa
Xã Thượng Phùng (xóm Thèn Pả) 07 người 01 lần Người dân Lô Lô Đen
Xã Xín Cái (xóm Cờ Tảng) 12 người 02 lần Người Lô Lô Đen và Lô Lô Hoa
Huyện Đồng Văn (Hà Giang) Xã Sủng Là (thôn Đoàn Kết) 03 người 00 Người Lô Lô Hoa
Xã Lũng Cú (xóm Lô Lô Chải) 10 người 01 lần Người Lô Lô Đen
Huyện Bảo Lạc (Cao Bằng) Xã Hồng Trị (bản Nà Van) 10 người 01 lần Người Lô Lô Đen
Xã Kim Cúc (bản Khuẩy Khon) 11 người 01 lần Người Lô Lô Đen
Tổng cộng 07 điểm nghiên cứu 68 người 10 lần Chủ thể văn hóa Lô Lô Hoa và Lô Lô Đen

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và khái quát về người Lô Lô Hoa ở huyện Mèo Vạc

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu liên quan, xác lập khung lý thuyết và phương pháp luận, đồng thời phác thảo bức tranh toàn diện về tự nhiên, dân cư, lịch sử và xã hội của địa bàn nghiên cứu. Huyện Mèo Vạc được thành lập ngày 15/12/1962 (tách ra từ huyện Đồng Văn cũ); thị trấn Mèo Vạc được thành lập ngày 20/8/1999. Huyện có tổng diện tích tự nhiên 57.418,21 ha, độ cao trung bình 1.150 m so với mực nước biển, độ dốc địa hình phổ biến từ 25° đến 35°, có nơi lên tới 60°. Địa bàn có 17 xã và 1 thị trấn với 17 dân tộc cùng sinh sống; dân số năm 2015 là 77.054 người, trong đó đồng bào thiểu số chiếm 96,39% (dân tộc Hmông chiếm 77,3%, Giáy chiếm 6,73%, Dao chiếm 5,61%, Kinh chiếm 3,57%, Tày chiếm 3,06%, Nùng chiếm 2,11%, còn lại là Lô Lô và các nhóm khác). Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều của huyện tính đến hết năm 2015 là 66,00%.

Người Lô Lô Hoa tại thị trấn Mèo Vạc cư trú tập trung ở xóm Sảng Pả A; số liệu thống kê năm 2017 ghi nhận 60 hộ với 267 nhân khẩu, đến tháng 11/2018 tăng lên 66 hộ với 276 nhân khẩu. Tại xã Xín Cái có 10 hộ với khoảng 40 người Lô Lô Hoa; tại thôn Đoàn Kết (xã Sủng Là, huyện Đồng Văn) có 20 hộ với 74 người. Lịch sử di cư ghi nhận tổ tiên người Lô Lô từng thuộc cư dân Vương quốc Nam Chiếu chuyển cư sang Việt Nam khoảng thế kỷ VIII. Về kinh tế, đồng bào chủ yếu canh tác ngô hốc đá, lúa nương, chăn nuôi gia súc theo phương thức truyền thống. Tập quán trồng bông dệt vải và trồng chàm chiết xuất thuốc nhuộm trước đây nay đã mai một. Gần đây, xóm Sảng Pả A phát triển dịch vụ thêu may thổ cẩm và trang phục bán cho khách du lịch, với 20 nghệ nhân tay nghề cao và sự hình thành các cơ sở kinh doanh tư nhân thu gom hàng hóa. Về xã hội, người Lô Lô Hoa duy trì chế độ phụ quyền, gia đình hạt nhân, gồm các dòng họ gốc như Lò, Cán, Thàng, Lèng, Doãn, Dình, Lùng. Các sinh hoạt văn hóa tinh thần tiêu biểu gồm có lễ mừng ngô mới (tổ chức vào tháng 9 hoặc tháng 10 dương lịch sau thu hoạch) và lễ cầu mưa (tổ chức đầu tháng 3 âm lịch với đồ tế lễ gồm gà trống, chó, kiếm gỗ, chén rượu, ống hương tre tượng trưng bốn phương, đàn nhị và bộ trống đồng của dòng họ).

Chương 2: Quy trình làm ra trang phục

Nội dung chương 2 tập trung phục dựng và mô tả chi tiết chuỗi thao tác kỹ thuật thủ công để hoàn thành một bộ trang phục truyền thống của người Lô Lô Hoa:

  • Nguồn nguyên liệu sản xuất vải: Trước năm 1986, nguyên liệu chủ yếu là cây bông và cây lanh do đồng bào tự gieo trồng trên nương rẫy.
  • Chế biến sợi và dệt vải: Quá trình xử lý sợi bông trải qua các khâu bật bông, cán bông lấy xơ, se sợi bằng con quay hoặc xa quay sợi, luộc sợi và mắc sợi vào khung dệt thủ công để dệt thành các khổ vải hẹp đặc trưng của vùng cao.
  • Kỹ thuật trồng chàm, chế biến cao chàm và nhuộm: Cây chàm được thu hái, ngâm ủ trong thùng gỗ để chiết xuất sắc tố, phối trộn với nước vôi tôi nhằm tạo kết tủa cao chàm. Vải và sợi bông được ngâm nhuộm nhiều lần qua nước chàm kết hợp phơi nắng để đạt được sắc xanh chàm đậm hoặc màu đen bền chắc.
  • Kỹ thuật cắt may y phục và nghệ thuật trang trí: Đây là khâu thể hiện kỹ thuật tinh xảo của người phụ nữ Lô Lô Hoa. Kỹ thuật cắt may được thực hiện hoàn toàn thủ công theo các đường kỷ hà thẳng, ghép nối các mảnh vải lại với nhau. Nghệ thuật trang trí nổi bật là kỹ thuật khâu táp vải (ghép các miếng vải màu nhỏ hình tam giác, hình vuông, quả trám) kết hợp thêu chỉ màu tạo thành các dải băng hoa văn dày đặc trên ngực áo, tay áo và khăn đội đầu.
  • Kỹ thuật chế tác đồ trang sức: Đồng bào tự chế tác hoặc thuê thợ bạc trong bản đúc, chạm khắc các loại vòng cổ, vòng tay, hoa tai, xà tích và cúc áo bằng kim loại bạc hoặc đồng để hoàn thiện diện mạo trang phục.

Chương 3: Các thành tố và chức năng của trang phục

Chương 3 khảo tả chi tiết từng thành tố cấu thành bộ trang phục theo giới tính, giải mã hệ thống hoa văn biểu tượng và phân tích các chức năng xã hội:

  • Các thành tố y phục: Bộ y phục nữ Lô Lô Hoa bao gồm khăn đội đầu (gồm hai loại: khăn "mỏ thô qua" khổ rộng 20 - 22 cm, dài 220 - 310 cm; khăn "mơ thúc" chắp từ hai khổ vải, rộng 40 cm, dài 110 - 130 cm), áo ngắn chui đầu xẻ ngực viền hoa văn, quần dài thụng đũng, tạp dề buộc trước bụng, thắt lưng vải và xà cạp quấn chân. Trang phục nam giới đơn giản hơn, gồm khăn quấn đầu, áo cánh ngắn, quần chân què và giày dép tiện cho việc lao động vùng núi đá. Đồ trang sức gồm có vòng cổ bạc, khuyên tai, nhẫn, vòng tay và dây xà tích.
  • Hoa văn, màu sắc và ý nghĩa: Màu sắc chủ đạo trên trang phục nữ Lô Lô Hoa là sự tương phản rực rỡ giữa màu nền chàm/đen với các mảng táp vải màu đỏ, vàng, trắng, hồng. Hoa văn trang trí chủ yếu là mô típ hình học (tam giác, đường ziczac, ô vuông, quả trám), mô phỏng thiên nhiên, hoa lá và thế giới động vật gắn với môi trường sống và quan niệm vũ trụ của cư dân nông nghiệp.
  • So sánh trang phục Lô Lô Hoa và Lô Lô Đen: Luận án chỉ ra nét tương đồng về cấu trúc cơ bản của y phục nam giới và công năng bảo vệ, nhưng có sự khác biệt rõ nét ở trang phục nữ. Nữ phục Lô Lô Hoa sử dụng gam màu sặc sỡ, bố cục hoa văn dày đặc bằng kỹ thuật khâu ghép vải màu; trong khi nữ phục Lô Lô Đen sử dụng nền vải chàm đen tối màu làm chủ đạo, hoa văn trang trí tập trung ở phần cổ áo, tay áo và gấu áo với kỹ thuật thêu chỉ màu thanh mảnh hơn.
  • Chức năng của trang phục: Phân tích 3 chức năng cốt lõi: chức năng bảo vệ cơ thể sinh học trước khí hậu giá lạnh vùng núi cao; chức năng xã hội (nhận diện tộc người, phân định giới tính, lứa tuổi, địa vị và tham gia vào các nghi thức vòng đời như cưới xin, tang ma); chức năng thẩm mỹ (thể hiện chuẩn mực khéo léo của người phụ nữ và quan niệm cái đẹp của cộng đồng).

Chương 4: Giá trị của trang phục truyền thống, sự biến đổi và vấn đề đặt ra

Chương 4 đúc kết các giá trị, đánh giá thực trạng biến đổi và đề xuất các giải pháp bảo tồn:

  • Giá trị của trang phục: Luận án xác lập ba giá trị cơ bản: giá trị văn hóa (chứa đựng tri thức dân gian về tạo tác vật chất và chuẩn mực ứng xử); giá trị thẩm mỹ (nghệ thuật phối màu và kỹ thuật khâu táp vải hình học); giá trị lịch sử (phản ánh nguồn gốc, quá trình thích ứng môi trường và mối quan hệ giao lưu với các tộc người láng giềng).
  • Thực trạng biến đổi trang phục hiện nay: Từ năm 1986 đến nay, trang phục truyền thống Lô Lô Hoa biến đổi sâu sắc:
    • Về nguyên liệu: Người dân hoàn toàn ngừng trồng bông, dệt vải và nhuộm chàm thủ công; chuyển sang mua vải dệt công nghiệp, len sợi hóa học và phụ liệu may mặc từ chợ thị trấn hoặc nguồn gốc biên mậu.
    • Về kỹ thuật: Kỹ thuật khâu tay thủ công dần bị thay thế một phần bởi máy may công nghiệp; hoa văn khâu táp vải thu hẹp diện tích, một số mẫu hoa văn cổ bị đơn giản hóa.
    • Về tần suất sử dụng: Trang phục truyền thống hầu như không còn được mặc thường nhật trong lao động sản xuất, mà chuyển hóa thành lễ phục chỉ dùng trong dịp Tết cổ truyền, lễ hội mừng ngô mới, lễ cầu mưa, đám cưới, đám tang hoặc biểu diễn phục vụ khách du lịch.
  • Nguyên nhân biến đổi: Tác động của cơ chế thị trường, sự xâm nhập của hàng hóa công nghiệp giá rẻ, quá trình đô thị hóa tại thị trấn Mèo Vạc, tác động từ hoạt động du lịch Công viên địa chất toàn cầu và sự thay đổi tâm lý, thị hiếu thẩm mỹ của thế hệ trẻ.
  • Vấn đề đặt ra và kiến nghị: Đứng trước nguy cơ mai một di sản, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp: nâng cao nhận thức cộng đồng thông qua giáo dục di sản; khôi phục một số công đoạn thủ công truyền thống; hỗ trợ các nghệ nhân may thêu tại xóm Sảng Pả A phát triển mô hình kinh tế du lịch gắn với bảo tồn; đưa trang phục truyền thống vào các hoạt động sinh hoạt văn hóa học đường và lễ hội địa phương.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác định các đóng góp mới về khoa học và thực tiễn:

  • Là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về trang phục truyền thống hiện nay của người Lô Lô Hoa ở huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang dưới góc độ Nhân học văn hóa.
  • Góp phần phục dựng lại quy trình sản xuất trang phục thủ công truyền thống đã bị mai một của người Lô Lô Hoa (từ khâu chế biến sợi, dệt vải, nhuộm chàm đến kỹ thuật cắt may), đồng thời làm rõ nét đặc thù của nghệ thuật khâu ghép vải và trang trí hoa văn.
  • Cung cấp nguồn tư liệu thực địa mới về thực trạng biến đổi, nguyên nhân và xu hướng biến đổi của trang phục Lô Lô Hoa từ năm 1986 đến nay trong bối cảnh tác động của kinh tế thị trường và phát triển du lịch di sản.
  • Đưa ra hệ thống giải pháp, kiến nghị có cơ sở khoa học nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trang phục Lô Lô Hoa nói riêng và dân tộc Lô Lô nói chung, phù hợp với định hướng văn hóa theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI của Đảng.

Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa trang phục truyền thống và bản sắc văn hóa tộc người, củng cố tiêu chí phân loại và khung phân tích biến đổi văn hóa vật chất, đồng thời khẳng định vai trò trung tâm của phụ nữ dân tộc thiểu số trong việc sáng tạo, lưu giữ và trao truyền di sản. Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp luận cứ khoa học cho các cơ quan quản lý nhà nước về dân tộc và văn hóa trong việc hoạch định chính sách bảo tồn gắn liền với phát triển du lịch bền vững tại tỉnh Hà Giang.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án thừa nhận việc nghiên cứu quy trình dệt vải và nhuộm chàm nguyên bản trước năm 1986 chủ yếu dựa trên phương pháp hồi cố từ trí nhớ của các cụ già cao tuổi, do tại địa bàn Mèo Vạc các hoạt động này đã ngừng thực hiện từ nhiều thập kỷ. Số lượng hiện vật trang phục nguyên bản bằng sợi bông tự nhiên còn lại trong cộng đồng quá ít (chỉ 4 bộ vào giữa năm 2018), gây khó khăn nhất định cho việc khảo sát trực tiếp diện rộng. Bên cạnh đó, tác giả chủ động giới hạn phạm vi nghiên cứu trong biên giới Việt Nam, không tiến hành khảo sát so sánh trực tiếp với các nhóm người Di tại Trung Quốc do tính chất nhạy cảm của các vấn đề tộc người xuyên biên giới.

Về hướng nghiên cứu tiếp, từ các dữ liệu và khoảng trống mà luận án gợi mở, các nghiên cứu tương lai có thể theo dõi biến động dài hạn của các sản phẩm thổ cẩm Lô Lô Hoa khi tham gia sâu vào chuỗi giá trị hàng hóa du lịch thương mại; nghiên cứu so sánh chuyên sâu về trang phục giữa các nhóm Lô Lô xuyên quốc gia khi điều kiện cho phép; hoặc nghiên cứu ứng dụng các giải pháp thiết kế đương đại trên nền tảng hoa văn khâu táp vải truyền thống.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với giới nghiên cứu và giảng viên chuyên ngành Nhân học, Dân tộc học, Văn hóa học: Luận án cung cấp bộ dữ liệu điền dã dân tộc học chuẩn xác về một nhóm địa phương có dân số rất ít; đóng góp khung lý thuyết phân tích văn hóa vật chất và sự biến đổi trang phục trong bối cảnh giao lưu tiếp biến văn hóa.
  • Đối với sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh: Phần tổng quan tình hình nghiên cứu với hơn 60 công trình và phương pháp tiếp cận điền dã kết hợp phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm là tài liệu tham khảo bổ ích về thao tác nghề nghiệp.
  • Đối với các cơ quan quản lý văn hóa, chính sách dân tộc và chính quyền địa phương (UBND huyện Mèo Vạc, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Giang): Các dữ liệu về biến đổi kinh tế - xã hội tại xóm Sảng Pả A và hệ thống kiến nghị trong chương 4 cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng đề án bảo tồn văn hóa gắn với sinh kế du lịch cộng đồng.
  • Đối với cán bộ bảo tàng: Tài liệu khảo tả chi tiết về kích thước, cấu tạo hai loại khăn đội đầu, kỹ thuật khâu táp vải và đồ trang sức bạc là nguồn cứ liệu quan trọng phục vụ công tác sưu tầm, giám định, bảo quản và trưng bày hiện vật dân tộc học.

Câu hỏi thường gặp

1. Địa bàn cư trú và đặc điểm dân số của nhóm Lô Lô Hoa tại huyện Mèo Vạc được ghi nhận như thế nào trong luận án?
Theo số liệu trong luận án, người Lô Lô Hoa ở Hà Giang có khoảng 400 người, cư trú tập trung đông nhất tại xóm Sảng Pả A thuộc thị trấn Mèo Vạc (năm 2017 có 60 hộ với 267 nhân khẩu; tháng 11/2018 có 66 hộ với 276 nhân khẩu). Ngoài ra, có 10 hộ (khoảng 40 nhân khẩu) sống tại xóm Cờ Tảng, xã Xín Cái (huyện Mèo Vạc) và 20 hộ (74 nhân khẩu) cư trú tại thôn Đoàn Kết, xã Sủng Là (huyện Đồng Văn).

2. Đến giữa năm 2018, cộng đồng người Lô Lô Hoa ở Mèo Vạc còn lưu giữ được bao nhiêu bộ trang phục truyền thống nguyên bản?
Kết quả khảo sát điền dã của tác giả xác định đến giữa năm 2018, trong toàn bộ cộng đồng người Lô Lô Hoa huyện Mèo Vạc chỉ còn lưu giữ được đúng 4 bộ trang phục truyền thống nguyên bản làm bằng sợi bông tự dệt và chế tác bằng công cụ thủ công từ cách thời điểm nghiên cứu khoảng 40 năm.

3. Tác giả luận án vận dụng những lý thuyết nhân học nào để giải quyết mục tiêu nghiên cứu?
Luận án kết hợp ba lý thuyết nhân học chính: Lý thuyết chức năng của B. Malinowski (phân tích chức năng sinh học, xã hội, thẩm mỹ của trang phục); Lý thuyết bản sắc văn hóa tộc người của F. Boas (nhận diện tính đặc thù và quá trình "dân tộc hóa" các yếu tố văn hóa mới); Lý thuyết biến đổi văn hóa tổng hợp từ quan điểm tiến hóa luận (Tylor, Morgan), thuyết truyền bá văn hóa và thuyết sinh thái văn hóa (phân tích động lực biến đổi nội tại và tiếp biến văn hóa bên ngoài).

4. Dữ liệu thực địa của luận án được thu thập qua quy mô khảo sát cụ thể ra sao?
Tác giả đã tiến hành điền dã từ năm 2016 đến năm 2018 tại 7 điểm thuộc 3 huyện (Mèo Vạc, Đồng Văn của tỉnh Hà Giang và Bảo Lạc của tỉnh Cao Bằng); thực hiện 68 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân (riêng tại Sảng Pả A là 15 cuộc) và tổ chức 10 cuộc thảo luận nhóm (riêng tại Sảng Pả A là 5 lần), kết hợp quan sát tham dự và đo vẽ chi tiết hiện vật.

5. Vì sao trang phục của người Lô Lô Hoa biến đổi nhanh hơn so với nhóm Lô Lô Đen?
Luận án chỉ ra hai nguyên nhân chính: Thứ nhất, người Lô Lô Hoa có dân số rất ít (chỉ bằng 35 - 40% nhóm Lô Lô Đen) và cư trú tập trung ngay tại thị trấn Mèo Vạc - trung tâm kinh tế, hành chính chịu tác động mạnh của đô thị hóa và dịch vụ du lịch Công viên địa chất. Ngược lại, người Lô Lô Đen có dân số đông hơn (hơn 4 nghìn người) và chủ yếu cư trú tại các vùng sâu, vùng cao hẻo lánh nên duy trì môi trường văn hóa khép kín hơn, giúp việc bảo lưu trang phục truyền thống trong sinh hoạt thường nhật diễn ra bền vững hơn.

Kết luận

Luận án tiến sĩ Nhân học của Lê Anh Đức là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên phản ánh toàn diện diện mạo trang phục truyền thống của nhóm Lô Lô Hoa tại huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang. Dựa trên nguồn dữ liệu điền dã thực địa phong phú và khung lý thuyết nhân học vững chắc, công trình đã phục dựng quy trình tạo tác thủ công, phân tích hệ thống thành tố, hoa văn khâu táp vải và các chức năng văn hóa - xã hội cốt lõi của trang phục. Đồng thời, luận án đã làm rõ quy luật biến đổi văn hóa từ sau năm 1986 dưới tác động của kinh tế thị trường và hoạt động du lịch di sản, cung cấp luận cứ khoa học xác đáng cho công tác bảo tồn văn hóa tộc người thiểu số tại vùng cao phía Bắc.