Luận án tiến sĩ về tổng hợp vật liệu composite UIO-66 và ứng dụng trong xúc tác, phân tích điện hóa

Luận án tiến sĩ hóa học nghiên cứu tổng hợp vật liệu composite trên nền UiO-66, ứng dụng hiệu quả trong xúc tác và phân tích điện hóa.

Trường đại học

Đại học Huế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

158
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về vật liệu khung hữu cơ kim MOFs và UiO 66

Vật liệu khung hữu cơ kim (MOFs) là nhóm vật liệu mới được hình thành từ sự liên kết giữa các phối tử hữu cơ và các nút vô cơ của ion kim loại. Chúng có cấu trúc tinh thể với độ xốp cao, diện tích bề mặt lớn và kích thước mao quản đa dạng. MOFs được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như lưu trữ khí, cảm biến, hấp phụ và xúc tác. UiO-66 là một trong những MOFs nổi bật nhờ độ ổn định hóa học, cơ học và nhiệt. Cấu trúc của UiO-66 bao gồm các cụm oxide zirconi (Zr6O4(OH)4) liên kết với benzen-1,4-dicarboxylate (H2BDC), tạo thành khung 3D. UiO-66 có diện tích bề mặt lớn, dễ tổng hợp và được ứng dụng trong nhiều nghiên cứu về xúc tác và hấp phụ.

1.1. Đặc điểm của MOFs

MOFs có cấu trúc tinh thể với độ xốp cao, diện tích bề mặt lớn và kích thước mao quản đa dạng. Chúng được hình thành từ sự liên kết giữa các phối tử hữu cơ và các nút vô cơ của ion kim loại. MOFs được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như lưu trữ khí, cảm biến, hấp phụ và xúc tác. Đặc biệt, MOFs có khả năng biến tính cấu trúc, giúp tăng cường hiệu quả ứng dụng trong các quá trình xúc tác và hấp phụ.

1.2. Phương pháp tổng hợp MOFs

Các phương pháp tổng hợp MOFs bao gồm phương pháp solvothermal, hydrothermal và microwave. Phương pháp solvothermal là phổ biến nhất, sử dụng dung môi hữu cơ để tạo ra cấu trúc tinh thể của MOFs. Phương pháp hydrothermal sử dụng nước làm dung môi, trong khi phương pháp microwave giúp rút ngắn thời gian tổng hợp. Các phương pháp này đều hướng đến việc tạo ra MOFs với độ xốp cao và diện tích bề mặt lớn.

II. Ứng dụng của vật liệu UiO 66 trong xúc tác và phân tích điện hóa

UiO-66 được ứng dụng rộng rãi trong các quá trình xúc tác và phân tích điện hóa nhờ độ ổn định cao và diện tích bề mặt lớn. Trong xúc tác, UiO-66 được sử dụng như một vật liệu hỗ trợ cho các hạt nano kim loại, giúp tăng hiệu quả của các phản ứng xúc tác dị thể. Trong phân tích điện hóa, UiO-66 được sử dụng để biến tính điện cực, giúp tăng độ nhạy và độ chính xác của các phương pháp phân tích.

2.1. Ứng dụng trong xúc tác

UiO-66 được sử dụng như một vật liệu hỗ trợ cho các hạt nano kim loại trong các phản ứng xúc tác dị thể. Nhờ độ ổn định cao và diện tích bề mặt lớn, UiO-66 giúp tăng hiệu quả của các phản ứng xúc tác, đặc biệt là trong quá trình khử các hợp chất hữu cơ độc hại như 4-Nitrophenol (4-NP) và Methylene blue (MB).

2.2. Ứng dụng trong phân tích điện hóa

UiO-66 được sử dụng để biến tính điện cực trong các phương pháp phân tích điện hóa. Việc sử dụng UiO-66 giúp tăng độ nhạy và độ chính xác của các phương pháp phân tích, đặc biệt là trong việc xác định đồng thời các hợp chất hữu cơ như Ascorbic acid (AA) và Acetaminophen (AC).

III. Tổng hợp vật liệu composite UiO 66 và ứng dụng

Vật liệu composite UiO-66 được tổng hợp bằng cách kết hợp UiO-66 với các hạt nano kim loại hoặc oxide kim loại. Các vật liệu composite này được ứng dụng trong các quá trình xúc tác và xử lý chất ô nhiễm hữu cơ. UiO-66/NiCu2O/Fe3O4/UiO-66 là hai ví dụ điển hình của vật liệu composite được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi.

3.1. Tổng hợp vật liệu UiO 66 Ni

UiO-66/Ni được tổng hợp bằng cách kết hợp UiO-66 với các hạt nano nickel. Vật liệu này được ứng dụng trong các phản ứng khử 4-Nitrophenol (4-NP) và phân hủy Methylene blue (MB). UiO-66/Ni có hiệu quả xúc tác cao nhờ sự kết hợp giữa các tâm kim loại Ni và khung UiO-66.

3.2. Tổng hợp vật liệu Cu2O Fe3O4 UiO 66

Cu2O/Fe3O4/UiO-66 được tổng hợp bằng cách kết hợp UiO-66 với đồng (I) oxide (Cu2O) và sắt (II, III) oxide (Fe3O4). Vật liệu này được ứng dụng trong các phản ứng xúc tác Fenton để xử lý các hợp chất hữu cơ độc hại như Reactive blue 19 (RB19). Cu2O/Fe3O4/UiO-66 có khả năng tái sử dụng cao nhờ tính chất từ tính của Fe3O4.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ hóa học tổng hợp vật liệu composite trên nền uio 66 ứng dụng trong xúc tác và phân tích điện hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tài liệu; - Chương 2: Nội dung, phương pháp nghiên cứu và thực nghiệm; - Chương 3: Kết quả và thảo luận; - Kết luận và kiến nghị; - Tài liệu tham khảo; - Danh mục các công trình công bố liên quan đến luận án. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIỚI THIỆU VỀ VẬT LIỆU KHUNG CƠ KIM (MOFs) VÀ UiO-66 1. Đặc điểm của MOFs Thuật ngữ “khung hữu cơ - kim loại” được Yaghi công bố vào năm 1995 [156] và ngày nay được sử dụng rộng rãi cho tất cả các vật liệu vi xốp được kết hợp các tâm kim loại và các hợp chất hữu cơ để hình thành cấu trúc khung ba chiều.

Vật liệu này đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và bắt đầu cho một kỷ nguyên nghiên cứu loại vật liệu mới. Năm 1999, một nghiên cứu về loại vật liệu MOFs trên cơ sở kim loại đồng (Cu) có tên là HKUST-1 với công thức [Cu3(BTC)2] (Hình 1.1) với đường kính lỗ xốp 10 Å, diện tích bề mặt riêng 917,6 m2/g và độ xốp 40% được Chui, Anne và nhóm nghiên cứu công bố [16], [107].1 Cấu trúc MOFs có độ xốp cao: HKUST-1 (a); MIL-101 (b); CMUM-2 (c); MOF-180 (d); MOF-200 (e); MOF-205 (f) và MOF-210 (g) [7] Vật liệu khung hữu cơ kim loại (MOFs) được biết đến như lớp vật liệu lai hình thành từ những điểm nút kim loại và những cầu nối hữu cơ tạo nên một cấu trúc với độ xốp cao. Như trong Hình 1.2, những điểm nút kim loại (có thể 7 là ion kim loại hoặc cụm kim loại) đóng vai trò như những điểm kết nối và những phối tử hữu cơ sẽ là các cầu nối để kết nối với những nút kim loại hình thành nên cấu trúc 3-D. Sự liên kết này tạo nên cấu trúc lỗ trống bền vững và không bị vỡ trong quá trình loại dung môi cũng như các phân tử khác chiếm giữ lỗ trống trong quá trình tổng hợp.

Sự có mặt cả thành phần hữu cơ và vô cơ cho phép vật liệu này có những tính chất đặc biệt. Cấu trúc liên kết của MOFs liên quan mật thiết đến khả năng phối trí giữa ion kim loại và cấu tạo hình học của những nhóm liên kết hữu cơ.2 Mô hình cấu trúc của MOFs: Phối tử hữu cơ phối trí với các nút kim loại để tạo vật liệu có cấu trúc không gian ba chiều [117]. Trong MOFs, những ion kim loại chuyển tiếp Cr3+, Fe3+, Cu2+ và Zn2+ thường được dùng nhiều trong vật liệu MOFs để liên kết với các cầu nối hữu cơ, tạo thành khung ba chiều với những tính chất xốp đặc biệt [151], [33], [58]. Ngoài ra, các ion kim loại kiềm, kiềm thổ và các kim loại đất hiếm gần đây đã được sử dụng như những điểm nút kim loại trong cấu trúc MOFs [152].

Cấu trúc của MOFs được xác định thông qua cấu trúc hình học phối trí của ion kim loại và hình dáng, kích cỡ của cầu nối hữu cơ. Số lượng phối trí của ion kim loại phụ thuộc vào bản chất kim loại và trạng thái oxy hóa của nó. Điều này làm tăng sự xuất hiện của các dạng hình học khác nhau như dạng phẳng vuông, 8 tứ diện, dạng kim tự tháp đáy vuông (square-pyramidal), bát diện, v.v, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc MOFs (Hình 1.3 Hình học phối trí của các ion kim loại [67]. Các nhóm chức thường được sử dụng để tạo liên kết phối trí với ion kim loại gồm carboxylate, photphonate, sulfonate, amine hoặc nitril.4 trình bày ví dụ về các cầu nối hữu cơ được dùng nhiều trong tổng hợp MOFs có cấu trúc cứng, và các vòng thơm thường chiếm ưu thế hơn là chuỗi ankyl của mạch carbon.

Liên kết phối trí giữa phức đa càng và ion kim loại hình thành nên khối đa diện kim loại-phối tử; phần lớn là khối đa diện kim loại-oxi. Các khối đa diện này có thể liên kết với nhau để tạo thành các đơn vị cấu trúc thứ cấp (secondary building units) (SBUs) [17], [99].4 Một số cầu nối hữu cơ thường được sử dụng trong MOFs [157] Trong quá trình tổng hợp vật liệu MOFs, SBUs là các bó liên kết giữa các phối tử hữu cơ sơ cấp với các ion kim loại để tạo nên các cấu trúc không gian ba chiều. Các SBUs kết nối lại với nhau và tạo thành cấu trúc MOFs với các dạng hình học khác nhau. Các SBUs khá bền bởi vì các ion kim loại bị khóa bằng các nhóm carboxylate.

Do đó, MOFs được cấu tạo bởi các SBUs thường thể hiện cấu trúc có độ bền cao. Yaghi và các cộng sự đã mô tả các dạng hình học của SBUs với nhiều điểm liên kết (từ 3 đến 66 điểm) trong Hình 1.5 tạo nên một sự đa dạng trong quá trình thiết kế khung MOFs [158].5 Các SBUs carboxylate của MOFs. Trong đó đa diện kim loại: màu xanh; O: đỏ; C: đen. Cấu trúc liên kết của MOFs được xác định thông qua dạng hình học phối trí của các nút điểm kim loại (có thể là những ion kim loại hoặc các nhóm SBUs kim loại-carboxylate) và những liên kết hữu cơ.

Do đó, dựa vào SBUs có thể dự đoán được cấu trúc hình học của vật liệu tổng hợp, thiết kế và tổng hợp vật liệu xốp có cấu trúc, trạng thái xốp và độ bền mong muốn bằng cách thay đổi ion kim loại và cầu nối hữu cơ thì có thể thu được một loại MOFs mới.6 là một ví dụ về cấu trúc liên kết của MOFs với các thành phần: hai SBUs kim loại-carboxylate là Cr3O(CO2)6M3 (CO2: nhóm carboxylate; M: những phân tử không liên kết phối trí như H2O, v. Sự liên kết của cùng SBUs Zn4O(CO2)6 bằng liên kết BTB ba 11 càng tạo nên kiến trúc liên kết khác là MOF-177 ([Zn4O(BTB)2]). Do đó, tính chất của các vật liệu khung cơ kim như đường kính lỗ xốp, cấu trúc lỗ xốp và độ rỗng cấu trúc sẽ khác nhau.6 Cấu trúc của MOFs từ những SBUs và các liên kết khác nhau. Trong đó đa diện kim loại: xanh; O: đỏ, C: đen.

Quả cầu màu vàng là quả cầu van der Waals lớn nhất trong lỗ trống mà không chạm vào khung [157]. Các phương pháp tổng hợp MOFs Phương pháp được sử dụng phổ biến để tổng hợp vật liệu MOFs là nhiệt dung môi (nếu dung môi được sử dụng là dung môi hữu cơ) hay thủy nhiệt khi nước là dung môi để tổng hợp. Hỗn hợp bao gồm các phối tử hữu cơ và các muối kim loại hòa tan trong dung môi (hoặc hỗn hợp các dung môi) được đun nóng ở nhiệt độ cao (<300 °C) trong 8–48 giờ để phát triển tinh thể [31]. Ngoài phương pháp này, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra quy trình tổng hợp MOFs sử dụng phương pháp vi sóng [57], phương pháp điện hóa [95] hoặc tổng hợp cơ-hóa học [107] với thời gian rút ngắn, nhưng các phương pháp này không tạo ra tinh thể có đủ chất lượng để xác định cấu trúc bằng XRD so với phương pháp nhiệt dung môi và thủy nhiệt.

Ứng dụng vật liệu MOFs Phương pháp được sử dụng phổ biến để tổng hợp vật liệu MOFs là nhiệt dung môi (nếu dung môi được sử dụng là dung môi hữu cơ) hay thủy nhiệt khi nước là dung môi để tổng hợp. Hỗn hợp bao gồm các phối tử hữu cơ và các muối kim loại hòa tan trong dung môi (hoặc hỗn hợp các dung môi) được đun nóng ở nhiệt độ cao (<300 °C) trong 8–48 giờ để phát triển tinh thể [31]. Ngoài phương pháp này, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra quy trình tổng hợp MOFs sử dụng phương pháp vi sóng [57], phương pháp điện hóa [95] hoặc tổng hợp cơ-hóa học [107] với thời gian rút ngắn, nhưng các phương pháp này không tạo ra tinh thể có đủ chất lượng để xác định cấu trúc bằng XRD so với phương pháp nhiệt dung môi và thủy nhiệt. Phân tích một số chất hữu cơ bằng phương pháp điện hóa sử dụng điện cực biến tính bằng MOFs Các chất hữu cơ như paracetamol (PA), caffeine, dopamine và AA là các dược chất chủ yếu trong các loại thuốc an thần và giảm đau hiện nay.

Sự kết hợp của nhiều loại dược chất như PA với caffeine, hay PA với AA để làm giảm cơn đau đầu, đau lưng, đau răng, viêm xoang viêm khớp, v. đã được sử dụng rộng rãi trong thuốc thương mại. Do các loại dược chất hóa học này được sử dụng ngày càng tăng với mục đích trị liệu, nên việc định lượng chính xác hàm lượng của chúng là rất quan trọng. Nhiều kỹ thuật xác định đồng thời một hay nhiều cấu tử trong mẫu thuốc thương mại đã được ứng dụng như trắc quang [22], sắc ký [23], [24], và phổ huỳnh quang [26], [25], phổ hồng ngoại gần [27].

Do yêu cầu về chất lượng phân tích, các yêu cầu về độ chính xác, độ chọn lọc, khả năng xác định được đồng thời các dược chất trong thuốc của phương pháp phân tích thường được yêu cầu một cách nghiêm ngặt. Các phương pháp điện hóa bao gồm các kỹ thuật Volt-ampere hòa tan (SV) được công nhận là một công cụ phân tích định lượng hữu hiệu nhờ các ưu 13 điểm của nó bao gồm phân tích nhanh, độ chọn lọc và độ nhạy cao, giá thành thấp, dễ vận hành và có thể sử dụng phân tích trực tiếp ở môi trường [36]. Phương pháp hòa tan anode xung vi phân (Differential pulse anodic stripping voltammetry, DP-ASV) đã được áp dụng để xác định lượng vết của kim loại nặng cũng như các chất hữu cơ nhờ độ nhạy rất cao. Một số mô hình biến tính điện cực được minh họa ở Hình 1.

Ở kỹ thuật đầu tiên (Hình 1.7a), phương pháp biến tính điện cực SPE bằng kỹ thuật nhỏ giọt là phương pháp dễ dàng nhất được sử dụng phổ biến. Thông số quan trọng nên được tối ưu hóa là lượng chất được vào điện cực. Điều này có thể thay đổi bằng cách điều chỉnh kích thước giọt và nồng độ chất phân tán trong dung dịch. Kỹ thuật thứ 2 (Hình 1.7b) được sử dụng bằng cách trộn vật liệu với bột nhão carbon sau đó được ép và đánh bóng.

Phương pháp này cần loại mực có đặc điểm là các hạt dẫn điện làm bằng vật liệu carbonate, hỗn hợp dung môi/ chất kết dính cho phép chuyển vật chất dạng hạt lên chất nền. Quy trình này có thể được áp dụng nhiều lần để có được nhiều lớp vật liệu hơn trên chất nền, mực dẫn điện hoặc vật liệu điện môi.7c trình bày hình ảnh minh họa kỹ thuật lắng đọng điện hóa để biến tính điện cực SPE. Phương pháp dựa trên sự khử các chất bị oxy hóa ở điện thế hoặc dòng điện cố định để thu vật liệu sau khi biến tính có tính chất dẫn điện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Tổng hợp vật liệu composite UIO-66 ứng dụng trong xúc tác và phân tích điện hóa" tập trung vào việc nghiên cứu và phát triển vật liệu composite UIO-66, một loại vật liệu tiên tiến có tiềm năng lớn trong lĩnh vực xúc tác và phân tích điện hóa. Luận án không chỉ cung cấp phương pháp tổng hợp hiệu quả mà còn đánh giá khả năng ứng dụng thực tiễn của vật liệu này trong các quá trình hóa học và điện hóa. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu, sinh viên và chuyên gia trong lĩnh vực hóa học vật liệu, giúp mở rộng hiểu biết về các vật liệu composite và ứng dụng của chúng.

Để khám phá thêm các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng PAHs trong trà cà phê tại Việt Nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn sâu về phân tích hóa học và đánh giá rủi ro. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế Dung Quất, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi cũng là một tài liệu hữu ích về ứng dụng phân tích hóa học trong thực tiễn. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước sông Gianh tỉnh Quảng Bình sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp phân tích và đánh giá chất lượng môi trường.