đặt vấn đề sáng rõ, một khuôn khổ gọn xinh cho những kiến nghị vừa tầm, một chút châm biếm, cười cợt. Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa ra đời gây sốt với rất nhiều luồng ý kiến khen chê. Tuy nhiên những điểm độc đáo, mới lạ trong nghệ thuật xây dựng chân dung vẫn được đánh giá cao. Đỗ Thị Cẩm Nhung, trong bài báo Trần Đăng Khoa và nghệ thuật dựng chân dung đánh giá: “Đặc điểm chung trong cách tiếp cận chân dung nhân vật của Trần Đăng Khoa là từ xa đến gần.
Nhưng ở nhân vật nào anh cũng gửi vào đó cái nhìn nội cảm của một nhà thơ nên khoảng cách giữa người trần thuật và nhân vật trở nên gần gũi, cũng vì thế mà chân dung nhân vật càng hiện lên rõ nét”; “Nghệ thuật khắc họa chân dung nhân vật của Trần Đăng Khoa lại có thêm một sức hấp dẫn khác nữa. Ấy là cái nhìn trực diện theo chính kiến của mình, đúng sai có 17 thể còn phải đối thoại, nhưng thái độ đánh giá, khen chê là rõ ràng - điều mà không ít nhà phê bình e ngại và né tránh” [107]. Ngoài ra, còn có thể kể đến một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ cũng có những nghiên cứu, đánh giá về thể tài chân dung văn học: Luận án tiến sĩ Chân dung văn học- lịch sử thể loại - đặc trưng (Nguyễn Quốc Luân - 1993) có thể xem là luận án đầu tiên nghiên cứu chân dung văn học. Tác giả đã đi sâu khái quát tương đối rõ về lịch sử và đặc trưng của thể tài này, khảo sát một số cây bút viết chân dung văn học đến khoảng những năm 1990 như: Tô Hoài, Huy Cận, Vũ Cao, Nguyễn Duy, Thúy Toàn, Hữu Mai, Phùng Quán… Một số luận văn thạc sĩ cũng lấy chân dung văn học làm đối tượng nghiên cứu, có thể kể: Đặc điểm nổi bật của thể tài chân dung văn học trong văn học Việt Nam đương đại (Phan An Na - 2008, Đại học Vinh); Nhận dạng thể tài chân dung văn học trong văn học Việt Nam đương đại (Nguyễn Thị Thu Hà - 2014, ĐHSP Thái Nguyên); Thể tài chân dung văn học giai đoạn 1930- 1945 (Nguyễn Thị Hồng Hạnh - 2014, ĐHSP Thái Nguyên); Mảng chân dung văn học trong sáng tác của Tô Hoài (Nguyễn Văn Quang - 1996, Đại học Vinh); Tô Hoài với hai thể văn chân dung và tự truyện (Dương Thị Thu Hiền - 2007, ĐHSP Thái Nguyên); Khảo sát sự nghiệp phê bình văn học của Vương Trí Nhàn (Lê Thị Thúy Hằng - 2010, ĐHSP TP.
HCM); Tản văn và chân dung văn học của Nguyễn Quang Thiều (Đinh Thị Lệ Mỹ - 2013, Đại học Vinh); Tiể u luận và chân dung văn học của Ngô Văn Phú (Nguyễn Thế Hiề n - 2011, Đa ̣i ho ̣c Vinh); Nghệ thuật dựng chân dung văn học của Vũ Bằ ng và Tô Hoài (Nguyễn Thi ̣Thư - 2010 Đa ̣i ho ̣c Vinh); Sự nghiệp phê bình văn học của Vương Trí Nhàn (Phí Thi ̣ Hằ ng Nga - 2012, Đại học KHXH & NV, Hà Nội)… Các luận văn thạc sĩ phần lớn không đi sâu về mặt lý thuyết, chủ yếu tập trung khảo sát nghệ thuật dựng chân dung của một hoặc một số cây bút cụ thể. 18 Nhìn chung, qua các công trình nghiên cứu trên, đặc trưng của chân dung văn học (cả ở góc nhìn thể tài và thể loại) đã bước đầu được chỉ ra. Các nhà nghiên cứu đều ghi nhận sự phát triển đa dạng của chân dung văn học trong văn học Việt Nam từ 1986 đến nay. Các công trình đã chỉ ra đặc điểm của thể tài trong nội dung, nghệ thuật, bút pháp.
Một số cây bút viết chân dung thành công như Tô Hoài, Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Ngọc Tấn… cũng được chú ý khẳng định. Ý kiến những người đi trước thật sự đem đến cho chúng tôi nhiều gợi mở về đặc trưng thể loại, vấn đề sự thật và hư cấu, về cái tôi tác giả… Tuy nhiên, nghiên cứu về chân dung văn học vẫn còn những khoảng trống cần tìm hiểu: nguồn gốc của chân dung văn học trong mối liên hệ với đặc trưng của nó, mối quan hệ giữa các yếu tố (yếu tố ký, yếu tố phê bình, yếu tố hư cấu văn chương), những thành tựu và hạn chế của thể tài chân dung văn học từ 1986 đến nay… Trên cơ sở kế thừa thành tựu những người đi trước, chúng tôi cố gắng bổ khuyết những phần còn trống, tập trung nghiên cứu chân dung văn học một cách hệ thống từ khái niệm, nguồn gốc, đặc trưng thể tài, soi chiếu quá trình phát triển thể tài này qua các giai đoạn, chỉ ra những đóng góp của thể tài chân dung văn học sau 1986 đối với sự phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại, từ đó góp thêm một tiếng nói đánh giá đầy đủ hơn thành tựu của văn xuôi Việt Nam nói chung, thể loại ký nói riêng. Quan niệm về thể tài chân dung văn học của tác giả luận án 1. Chân dung văn học - một dạng đặc biệt của phê bình văn học Quan niệm “chân dung văn học là một dạng đặc biệt của phê bình văn học” đã được các nhà nghiên cứu như Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Quốc Luân đề cập đến trong các công trình, bài viết của mình [176], [1, tr.
Trên cơ sở kế thừa luận điểm này từ những người đi trước, chúng tôi muốn đi sâu làm rõ hơn về đặc trưng này của chân dung văn học. Khi nói chân dung văn học là một dạng đặc biệt của phê bình văn học thì có thể hiểu đây là một kiểu phê bình sống động, phê bình từ góc nhìn tiểu sử, qua tiểu sử, cuộc đời mà 19 khắc họa phẩm chất tinh thần, tài năng, đóng góp của nhà văn. Do đó, trong một văn bản chân dung văn học có sự hòa quyện của nhiều kiểu tư duy: tư duy khoa học (phê bình, đánh giá), tư duy nghệ thuật (hư cấu, sáng tạo), tư duy mô phỏng (ghi chép, tái hiện tiểu sử). Nếu để tái hiện tư liệu, tiểu sử lấn át, nó sẽ biến thành kiểu chân dung chụp ảnh, có khi giống nhưng vô hồn, thiếu sinh khí.
Nếu để hư cấu, tưởng tượng lấn át, nó sẽ thiếu đi sự trung thực và sẽ nhận được sự trách cứ là “bịa đặt”, “giả tạo”. Nếu quá đậm chất phê bình (tính chất khoa học, logic), chân dung văn học sẽ biến thành “phê bình tác giả” (chữ dùng của Trần Đình Sử) hoặc “tiểu luận nghiên cứu về một nhà văn” (chữ dùng của Nguyễn Đăng Mạnh).Chân dung văn học như vậy là có sự giao thoa của các hình thức văn bản, các thể văn khác nhau (thể văn hiểu theo nghĩa là hình thức diễn đạt mang phong cách của loại văn bản). Do đó muốn thành công, người viết chân dung phải hội tụ nhiều mặt mạnh: nắm vững cuộc đời, tiểu sử nhà văn; thấu hiểu và cảm thông với số phận, bi kịch của họ; trung thực, công tâm và cả dũng cảm trong đánh giá văn tài, sự nghiệp; biết đồng cảm với họ trong tư cách một nhà văn, một kẻ “cùng hội cùng thuyền”. Nhìn từ góc độ thể loa ̣i, chân dung văn học đươ ̣c xem là một hình thức đứng giữa ba thể loa ̣i: ký - truyện - phê bình văn học.
Nhà văn có thể dùng các thể ký khác nhau để dựng chân dung như bút ký, hồi ký, trò chuyện, phỏng vấn… Các hình thức thể loại này đều xây dựng trên những chấ t liệu lấ y từ chính cuộc đời thực của các đố i tươ ̣ng, nhưng la ̣i không hoàn toàn trùng khít, đồ ng nhấ t với con người tiể u sử, bởi nó có xu hướng đươ ̣c “tiể u thuyế t hóa”, có phầ n pha trộn với truyện kể , suy tưởng và bình luận. Chúng ta còn nhận thấ y trên thực tế, thể tài chân dung văn học tồ n ta ̣i ở dưới nhiề u da ̣ng thức biế n thể : có tác phẩ m thiên về phê bình, ít yếu tố tiểu ̣ tiể u sử nhân vật; có bức chân dung là sử; có tác phẩ m như một hồ sơ lí lich, những kỉ niệm một thời, ấ n tươ ̣ng số ng động về những lầ n gặp gỡ; có chân 20 dung như một nhật ký cá nhân; có những chân dung là tổ ng hòa của những dạng thức nói trên. Vì vậy, nghiên cứu chân dung văn học yêu cầ u cầ n có sự phân biệt với thể loa ̣i tiể u luận nghiên cứu hay các bài báo, bài viế t tưởng niệm có tính chấ t thời sự. Chính điề u này đặt ra đòi hỏi người dựng chân dung không dừng la ̣i ở việc cung cấ p tư liệu mà phải làm sao cho các chân dung có “chất văn học”, nắm bắt được “chân dung bên trong” (chữ dùng của Lại Nguyên Ân) của nhà văn.
Chúng ta có thể bắ t gặp những chân dung thành công, giàu giá tri ̣ thẩ m mi ̃ ở các sáng tác của Tô Hoài, Vũ Bằng, Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Ngọc Tấn. Theo Trần Đình Sử, chân dung văn học có thể quy về khuynh hướng phê bình “lấy tác giả làm trung tâm” (bên cạnh các khuynh hướng khác như “lấy văn bản làm trung tâm”, “lấy người đọc làm trung tâm”) [120]. Cũng theo nhà nghiên cứu, cách phê bình này “có cội nguồn từ các phê bình văn học Việt Nam những năm 30 thế kỉ XX trong các tác phẩm của Thiếu Sơn, Trần Thanh Mại, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan… Khuynh hướng này coi trọng cá tính nhà văn, các giá trị thẩm mĩ (. Đối với khuynh hướng này, tác giả là nhân vật chính của lịch sử văn học, vị trí tác phẩm lui xuống hàng thứ hai.
Vào giai đoạn lịch sử khi cá tính nhà văn ít được coi trọng, khuynh hướng này có ý nghĩa nắn lại, vinh danh những người sáng tạo ra các giá trị thẩm mĩ cho đời. Thứ hai, văn là người, viết chân dung cũng là cách bày tỏ tình cảm hoặc suy nghĩ về cá tính” [120]. Cho đến nay, khuynh hướng phê bình sinh động, hấp dẫn này vẫn tạo ra sức hút với nhiều nhà phê bình và với nhiều thế hệ bạn đọc. Tuy nhiên, cũng như Trần Đình Sử chỉ rõ, mỗi khuynh hướng phê bình đều có mặt ưu điểm và nhược điểm của nó.
“Khi ý nghĩa tác phẩm không phải do tác giả hoàn toàn quyết định, mà còn do người đọc nữa, thì việc đi tìm ý nghĩa của tác giả chỉ có một tác dụng giới hạn. Càng đề cao tác giả thì càng hạn chế sự diễn giải của người đọc. Càng đề cao tác giả cũng có nguy cơ, là 21 bắt tác giả phải chịu trách nhiệm cho những suy diễn mà người đọc gán ghép một cách oan uổng cho anh ta (.