Chương 1. TONG QUAN VE DE TÀI NGHIÊN CUU. NHỮNG TIEN DE VAN HOA LICH SU HINH THANH KIEU NHA VAN TAN DA 1. Những yếu tố thời dai ảnh hưởng đến sự nghiệp sáng tác của Tan Đà Theo thông lệ, chương này chỉ trình bày Tổng quan về vấn đề đã được giới nghiên cứu công bồ trong các công trình của mình nhưng như đã trình bày ở mục 4 trong phần Mở dau, luận án của chúng tôi chọn cách tiếp cận có điểm khác với các công trình đi trước.
Chúng tôi chọn Tan Đà như một trường hợp tiêu biểu dé nghiên cứu quá trình chuyên đổi từ một kiểu nghệ sĩ truyền thống đã có những dấu hiệu khác truyền thống, dưới tác động của hoàn cảnh lịch sử tự vượt thoát bản thân, hoàn cảnh dé trở thành một kiểu nghệ sĩ mới - điều này có nét khác so với những người đi trước. Bởi vậy, chúng tôi trình bày một số vấn đề về những tiền đề văn hóa lịch sử tạo ra kiểu nghệ sĩ Tản Đà trước khi đi vào những nội dung chính là Tổng quan van đề nghiên cứu dé mong làm rõ hơn sự chuyên đổi này. Tản Đà sinh trưởng và lập nghiệp trong một thời đại đầy những biến động của lịch sử dân tộc. Đó là một thời kì diễn ra những sự thay đổi rất căn bản dẫn đến sự biến đổi diện mạo dân tộc một cách toàn diện.
Chế độ thuộc địa thực dân nửa phong kiến tạo ra những thay đôi đan xen cũ mới, cô xưa với hiện đại nhưng nếu nhìn sâu vào cấu trúc tinh thần xã hội (điều này tác động đến con người và nhận thức mạnh hơn, nhất là với giới trí thức, nghệ sĩ) thì những cái mới đa phần là phủ nhận cái cũ, tính kế thừa ít hơn. Có yếu tô định hình va bám sâu vào đời sống, có cái hình thành rất nhanh rồi bị đào thải ngay. Điều này tạo ra những tính chất đặc biệt của thời đại và cả những giá tri tinh thần của buổi giao thời mà Tản Đà là một hiện tượng tiêu biểu. Với mưu đồ thôn tính Việt Nam, thực dân Pháp đã tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa cũng như những hành động cưỡng ép về văn hóa tư tưởng dé củng có vai trò của một “mẫu quốc”.
Điều tất nhiên sẽ diễn ra là sự cự tuyệt, phản kháng, chống đối với những áp đặt, nô dịch song song với thái độ hợp tác, bắt tay và cả thái độ chờ đợi do chưa biết xác định lựa chọn nào và thái độ đứng ngoài. Rất nhiều những hành động phan kháng, các cuộc khởi nghĩa đã nổ ra liên tục mà tiêu biểu là 14 Phong trào Cần Vương. Tất nhiên sự chống cự tuy có tô chức nhưng lại không đủ tiềm lực đã nhanh chóng that bại, dé lại những đau đớn về tinh thần của một thế hệ nói riêng và cho cả dân tộc nói chung. Trong những nguyên nhân thất bại đau đớn ay, thì có nguyên nhân that bại về ý thức phản kháng, thất bại về nhận thức từ đó thấy được rằng xã hội Việt Nam lúc bay giờ đã có một số những điểm lỗi thời rat xa so với văn minh nhân loại, cụ thể là nước Pháp.
Tuy nhiên, cần phải thấy mặt khác của vấn đề là, trong khi một bộ phận không nhỏ một mực chống lại sự nô dịch cả về kinh tế, chính trị và văn hóa của thực dân Pháp thì mặt khác, có một lực lượng khác lại tự cảm nhận được lực hút của những tính hoa trong văn hóa phương Tây hiện đại. Vậy là, một mặt người Việt chống lại sự cưỡng bức văn hóa của thực dân xâm lược nhưng mặt khác, họ lại nhận ra được những nét hay và đáng đề học hỏi của văn hóa phương Tây, đồng thời thấy được sự lạc hậu và mat dan vi trí lịch sử của hệ giá trị Nho giáo đã ton tại từ rất lâu. Nhiều trí thức Việt Nam hay nói đúng hơn là các nhà nho cấp tiến nhận ra được sự thụ động và yếu thế của hệ tư tưởng Nho giáo cũng như vai trò của chính tầng lớp họ trước cơn quốc biến ấy thông qua sự thất bại của những cuộc khởi nghĩa mà điển hình nhất là sự thất bại đẫm máu của phong trào Cần Vương - một phong trào chính danh, theo hệ giá trị Nho giáo lẽ ra phải được mọi thần dân ủng hộ thì lại có một bộ phận có học vấn, có địa vị trong chính quyền ay phan bội, dau hàng. Thực té nay giáng một đòn mạnh vào nén tang tư tưởng va đạo đức Nho giáo, sức sống của Nho giáo trong một xã hội đang thay đổi.
Nhiều người trong giới trí thức, quan lại Nho giáo hiểu rằng không thể cứ bảo thủ, khư khư giữ những quan điểm, tư duy không phù hợp đó nữa. Nếu muốn đánh đuổi được thực dân Pháp thì chỉ có thể có một con đường duy nhất là chính người dân lúc này phải thay đổi, cả xã hội phải thay đổi cả về thé chất và tinh than, tư duy (điều này được thé hiện rất rõ trong A té á, Tinh quốc hôn ca). Chính vì thế, người Việt Nam đã chủ động tiếp xúc và học hỏi những tinh hoa của thế giới nhằm khai thông chính dân trí nước nhà, dé hội nhập và cũng là để tự chống lại sức mạnh xâm lược của Tây phương hiện đại, bởi phương Tây vôn hiện đại hoá sớm hơn và có tiêm lực mạnh hơn nước ta. Sự cách tân này của 15 tầng lớp nhà nho truyền thống đồng thời cũng chính là sự tự phủ định bản thân và phủ định tầng lớp mình.
Quá trình vừa khăng định vừa phủ định này là ứng xử rất quan trong, mang ý nghĩa nhận thức cao dé tạo nên thay đổi lớn của cả một thời đại. Trong những năm dau thé ki XX, có rất nhiều sự kiện đã diễn ra ảnh hưởng trực tiếp đến sự thay đổi của tầng lớp nhà nho và rộng ra là của các tầng lớp khác nhau trong xã hội Việt Nam. Trước tiên, có thể kế đến Tân Thư, một trong những hiện tượng quan trọng ảnh hưởng đến thế giới quan của rất nhiều nhà nho cựu học bấy giờ. Người đi tiên phong trong việc truyền bá Tân thư và sớm nhận ra cần phải cứu nước theo một đường hướng mới chính là Nguyễn Lộ Trạch, tuy nhiên nhân vật được coi là yếu nhân của con đường đến với Tân thư đối với tầng lớp nhà Nho lại là Nguyễn Thượng Hiền.
Rất nhiều các tao nhân, mặc khách, các nhà Nho có khát vọng cứu nước đều tìm cách gặp gỡ ông và coi ông như một hình tượng mẫu mực để học hỏi. Ngay cả các nhà chí sĩ lớn của giai đoạn này như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh cũng đều muốn diện kiến và trao đổi ý kiến với Nguyễn Thượng Hiền. “Tan thu là một danh từ để goi chung những tài liệu, thư tịch, sách vở được các hoc giả Nhật Ban, Trung Quốc, Triéu Tiên biên soạn hay dịch thuật bằng chữ Hán, giới thiệu những tri thức và cung cấp những thông tin về những gì trước hết thuộc châu Au hay thuộc về thé giới nói chung vượt qua giới hạn những gì mà cổ tịch - những tài liệu sách vở được trước tác trong khuôn khổ truyền thống khu vực, trong đó chủ yếu là những gì tam giáo (Nho, Phật, Đạo) đề cập. Cũng thuộc phạm vi Tân thw là những trước tác của các tác giả Việt Nam như Bùi Viện, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Pham Phú Thứ.
đề cập đến những vấn dé quốc tế, những chuyện ngoài thời sự cấp thiết của quốc gia. nghĩa là vượt ra ngoài, vượt lên trên những giới hạn tri thức, kinh nghiệm và giải pháp mà nhà nho cựu học truyền thong đã hay có thể biết toi” [159, 73-74]. Tat nhiên cũng cần lưu ý rằng tiếp nhận Tân thư là tiếp nhận những kiến thức mới song chúng lại được dịch qua chữ Hán hay nói cách khác là chúng được người Việt tiếp nhận qua một kênh thứ hai, không phải kênh trực tiếp, từ nguồn gốc của các kiến thức đó. Mặc dù vậy, cũng không thể phủ 16 nhận rằng Tân thư mang đến những tri thức mới khác so với những kiến thức đã được đề cập trong các kinh điển nho gia trước kia.
“Tỉnh thần chung của Tân thư là phê phán sự hủ bại của xã hội phong kiến Trung Quốc và chế độ chính trị thối nát của nhà Mãn Thanh, ca tụng văn mình Au — My, hô hào học theo Âu — My, cải cách đất nước về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa” [24, 46]. Tân thư đã đem lại luồng sáng về những tư duy tiến bộ và hiện đại đến với những con người đang tự nhận thấy sự lỗi thời, lạc hậu và bat lực trước biến cố của thời cuộc. Qua những kiến thức đó, nhà nho càng thấy rõ hơn sự thiếu sót của thế hệ mình, tầng lớp mình trước một xã hội biến động và tìm thấy những tư tưởng mới vô cùng hấp dẫn có đủ khả năng thay thế cho những hiểu biết đã lỗi thời, trì trệ, đặc biệt là thiếu tính thực tiễn. Với họ các nội dung tư tưởng mới hoàn toàn có thê tạo ra những thay đổi lớn đối với tư duy của con người.
Mong muốn của những người đã được tiếp cận Tân thư không chỉ dừng lại ở việc làm giàu cho thế giới quan của mình mà còn là cho đồng bào. Vì vậy mà họ tim cách dé phổ biến những nội dung đó ra đông dao quan chúng và quả thực họ đã làm điều đó. Những tri thức được tích hợp qua Tân thư đã trở thành nền móng cho phòng trào Duy tân xuất hiện và phát triển chủ yếu ở các tỉnh Trung kỳ mà trung tâm là Quảng Nam, Quảng Ngãi trong khoảng thời gian từ 1903 đến 1908. Đây chính là sự kiện thứ hai ảnh hưởng đến sự thay đổi của văn hoá nước nhà.
Cuộc vận động Duy tân của Phan Châu Trinh đã đặt ra những vấn đề rất lớn cho xã hội mà Nguyên Ngọc gọi là một hệ nan để rat cần thiết nhưng không dễ giải quyết dé vượt thoát. Nếu Phan Bội Châu chủ trương bạo động cách mạng dé cứu nước thì Phan Châu Trinh lại cho rằng muốn cứu nước trước hết là phải làm cho dân tộc hùng mạnh, tự cường nên chủ trương bất bạo động và phải nâng cao dân trí, cải tổ xã hội về mọi mặt với tinh thần chủ đạo là Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Ông mong muốn người An Nam sẽ mạnh lên ở cả trí tuệ, tư tưởng và cuộc sống. Mà mạnh ở đây là mạnh ở chiều sâu của mỗi cá nhân chứ không phải chi là hô hào ở bề nồi.