Luận án tiến sĩ nghiên cứu vai trò của Tản Đà trong tiến trình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Luận án tiến sĩ nghiên cứu văn học tản đà trong tiến trình văn học việt nam nửa đầu thế kỷ xx, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực văn học tại

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Lý luận văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

190
20
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU. NHỮNG TIỀN ĐỀ VĂN HÓA LỊCH SỬ HÌNH THÀNH KIỂU NHÀ VĂN TẢN ĐÀ

1.1. Những yếu tố thời đại ảnh hưởng đến sự nghiệp sáng tác của Tản Đà

1.2. Tổng quan các nghiên cứu về tác giả Tản Đà

1.3. Nghiên cứu về con người Tản Đà

1.4. Nghiên cứu về văn nghiệp Tản Đà

2. CHƯƠNG 2: CON NGƯỜI TẢN ĐÀ TRONG NHỮNG “TOẠ ĐỘ” GIÁ TRỊ

2.1. Con đường công danh của Tản Đà

2.2. Sự nghiệp Đạo Chế

2.3. Sự nghiệp giáo dục

2.4. Vấn đề đất nước, dân tộc trong văn chương Tản Đà

2.4.1. Hình ảnh quê hương, đất nước trong văn chương Tản Đà

2.4.2. Quan điểm về nước Pháp và tay sai trong văn chương Tản Đà

2.4.3. Vấn đề yêu nước trong văn chương Tản Đà

2.4.4. Ứng xử của Tản Đà trong mối quan hệ với gia đình và xã hội

2.4.4.1. Tản Đà trong mối quan hệ với các thành viên gia đình
2.4.4.2. Tản Đà trong mối quan hệ với các đồng nghiệp và hậu bối

3. CHƯƠNG 3: VĂN XUÔI TẢN ĐÀ TRONG TIẾN TRÌNH VĂN XUÔI DÂN TỘC

3.1. Quan điểm về văn chương của Tản Đà

3.2. Quan điểm đạo đức của Tản Đà

3.3. Nhân vật trong văn xuôi Tản Đà

3.4. Kết cấu trong văn xuôi Tản Đà

3.5. Không gian, thời gian nghệ thuật trong văn xuôi Tản Đà

3.6. Ngôn ngữ văn xuôi Tản Đà

3.7. Đóng góp của Tản Đà với Văn xuôi

4. CHƯƠNG 4: THƠ TẢN ĐÀ TRONG TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI THƠ

4.1. Đề tài, chủ đề, cảm hứng trong thơ Tản Đà

4.2. Ngôn ngữ trong thơ Tản Đà

4.3. Thể nghiệm văn mới của Tản Đà

4.4. Đóng góp của Tản Đà với thơ ca Việt Nam

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Tản Đà trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Tản Đà là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Ông không chỉ là một nhà thơ mà còn là một nhà văn có tầm ảnh hưởng lớn trong việc chuyển mình của văn học từ truyền thống sang hiện đại. Luận án này sẽ phân tích những yếu tố lịch sử, văn hóa đã hình thành nên Tản Đà, từ đó làm rõ vai trò của ông trong bối cảnh văn học thời kỳ này.

1.1. Những yếu tố lịch sử ảnh hưởng đến Tản Đà

Thế kỷ XX là thời kỳ đầy biến động với sự xâm lược của thực dân Pháp. Những thay đổi này đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng và sáng tác của Tản Đà, tạo nên một nhà văn vừa mang tính truyền thống vừa hiện đại.

1.2. Tác phẩm nổi bật của Tản Đà

Tản Đà để lại nhiều tác phẩm nổi bật như thơ và văn xuôi, thể hiện rõ nét tâm tư, tình cảm của con người trong bối cảnh xã hội đầy biến động. Những tác phẩm này không chỉ phản ánh hiện thực mà còn mang đậm giá trị nghệ thuật.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu Tản Đà

Nghiên cứu về Tản Đà không chỉ đơn thuần là phân tích tác phẩm mà còn phải xem xét những thách thức mà ông phải đối mặt trong bối cảnh xã hội và văn hóa. Những vấn đề này bao gồm sự chuyển mình của văn học, sự tiếp nhận văn hóa phương Tây và những mâu thuẫn trong tư tưởng sáng tác.

2.1. Sự chuyển mình của văn học Việt Nam

Văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ từ văn học trung đại sang hiện đại. Tản Đà là một trong những nhân vật tiêu biểu cho sự chuyển đổi này, thể hiện qua các tác phẩm của ông.

2.2. Mâu thuẫn trong tư tưởng sáng tác của Tản Đà

Tản Đà phải đối mặt với nhiều mâu thuẫn trong tư tưởng sáng tác, giữa việc giữ gìn giá trị truyền thống và tiếp thu những ảnh hưởng mới từ văn hóa phương Tây. Điều này tạo nên một phong cách sáng tác độc đáo và đa dạng.

III. Phương pháp nghiên cứu Tản Đà hiệu quả nhất

Để nghiên cứu Tản Đà một cách hiệu quả, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau, từ phương pháp tiểu sử đến phương pháp so sánh. Những phương pháp này giúp làm rõ hơn về con người và sự nghiệp sáng tác của ông trong bối cảnh lịch sử.

3.1. Phương pháp tiểu sử trong nghiên cứu

Phương pháp tiểu sử giúp hiểu rõ hơn về cuộc đời và những trải nghiệm của Tản Đà, từ đó lý giải những ảnh hưởng của hoàn cảnh sống đến sáng tác của ông.

3.2. Phương pháp so sánh với các nhà văn khác

So sánh Tản Đà với các nhà văn cùng thời và trước đó giúp làm nổi bật những đặc điểm riêng biệt trong phong cách sáng tác của ông, đồng thời khẳng định vai trò cầu nối giữa văn học truyền thống và hiện đại.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu Tản Đà

Nghiên cứu Tản Đà không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có thể áp dụng vào việc giảng dạy văn học, giúp sinh viên hiểu rõ hơn về sự phát triển của văn học Việt Nam. Những giá trị văn hóa và tư tưởng trong tác phẩm của ông vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.

4.1. Giá trị giáo dục từ tác phẩm Tản Đà

Tác phẩm của Tản Đà có thể được sử dụng trong giảng dạy văn học để giúp sinh viên nhận thức rõ hơn về bối cảnh lịch sử và văn hóa của thời kỳ này.

4.2. Tác động của Tản Đà đến văn học hiện đại

Tản Đà không chỉ ảnh hưởng đến các nhà văn cùng thời mà còn để lại dấu ấn sâu sắc cho các thế hệ sau, góp phần định hình văn học Việt Nam hiện đại.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu về Tản Đà

Nghiên cứu về Tản Đà mở ra nhiều hướng đi mới cho các nhà nghiên cứu văn học. Việc tìm hiểu sâu hơn về ông sẽ giúp làm rõ hơn về vai trò của ông trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và những ảnh hưởng của ông đến văn học hiện đại.

5.1. Tương lai của nghiên cứu Tản Đà

Nghiên cứu Tản Đà sẽ tiếp tục được mở rộng, không chỉ trong phạm vi văn học mà còn trong các lĩnh vực khác như văn hóa, xã hội và lịch sử.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu mới

Cần có những nghiên cứu chuyên sâu hơn về các tác phẩm cụ thể của Tản Đà, từ đó làm rõ hơn những giá trị nghệ thuật và tư tưởng trong sáng tác của ông.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TONG QUAN VE DE TÀI NGHIÊN CUU. NHỮNG TIEN DE VAN HOA LICH SU HINH THANH KIEU NHA VAN TAN DA 1. Những yếu tố thời dai ảnh hưởng đến sự nghiệp sáng tác của Tan Đà Theo thông lệ, chương này chỉ trình bày Tổng quan về vấn đề đã được giới nghiên cứu công bồ trong các công trình của mình nhưng như đã trình bày ở mục 4 trong phần Mở dau, luận án của chúng tôi chọn cách tiếp cận có điểm khác với các công trình đi trước.

Chúng tôi chọn Tan Đà như một trường hợp tiêu biểu dé nghiên cứu quá trình chuyên đổi từ một kiểu nghệ sĩ truyền thống đã có những dấu hiệu khác truyền thống, dưới tác động của hoàn cảnh lịch sử tự vượt thoát bản thân, hoàn cảnh dé trở thành một kiểu nghệ sĩ mới - điều này có nét khác so với những người đi trước. Bởi vậy, chúng tôi trình bày một số vấn đề về những tiền đề văn hóa lịch sử tạo ra kiểu nghệ sĩ Tản Đà trước khi đi vào những nội dung chính là Tổng quan van đề nghiên cứu dé mong làm rõ hơn sự chuyên đổi này. Tản Đà sinh trưởng và lập nghiệp trong một thời đại đầy những biến động của lịch sử dân tộc. Đó là một thời kì diễn ra những sự thay đổi rất căn bản dẫn đến sự biến đổi diện mạo dân tộc một cách toàn diện.

Chế độ thuộc địa thực dân nửa phong kiến tạo ra những thay đôi đan xen cũ mới, cô xưa với hiện đại nhưng nếu nhìn sâu vào cấu trúc tinh thần xã hội (điều này tác động đến con người và nhận thức mạnh hơn, nhất là với giới trí thức, nghệ sĩ) thì những cái mới đa phần là phủ nhận cái cũ, tính kế thừa ít hơn. Có yếu tô định hình va bám sâu vào đời sống, có cái hình thành rất nhanh rồi bị đào thải ngay. Điều này tạo ra những tính chất đặc biệt của thời đại và cả những giá tri tinh thần của buổi giao thời mà Tản Đà là một hiện tượng tiêu biểu. Với mưu đồ thôn tính Việt Nam, thực dân Pháp đã tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa cũng như những hành động cưỡng ép về văn hóa tư tưởng dé củng có vai trò của một “mẫu quốc”.

Điều tất nhiên sẽ diễn ra là sự cự tuyệt, phản kháng, chống đối với những áp đặt, nô dịch song song với thái độ hợp tác, bắt tay và cả thái độ chờ đợi do chưa biết xác định lựa chọn nào và thái độ đứng ngoài. Rất nhiều những hành động phan kháng, các cuộc khởi nghĩa đã nổ ra liên tục mà tiêu biểu là 14 Phong trào Cần Vương. Tất nhiên sự chống cự tuy có tô chức nhưng lại không đủ tiềm lực đã nhanh chóng that bại, dé lại những đau đớn về tinh thần của một thế hệ nói riêng và cho cả dân tộc nói chung. Trong những nguyên nhân thất bại đau đớn ay, thì có nguyên nhân that bại về ý thức phản kháng, thất bại về nhận thức từ đó thấy được rằng xã hội Việt Nam lúc bay giờ đã có một số những điểm lỗi thời rat xa so với văn minh nhân loại, cụ thể là nước Pháp.

Tuy nhiên, cần phải thấy mặt khác của vấn đề là, trong khi một bộ phận không nhỏ một mực chống lại sự nô dịch cả về kinh tế, chính trị và văn hóa của thực dân Pháp thì mặt khác, có một lực lượng khác lại tự cảm nhận được lực hút của những tính hoa trong văn hóa phương Tây hiện đại. Vậy là, một mặt người Việt chống lại sự cưỡng bức văn hóa của thực dân xâm lược nhưng mặt khác, họ lại nhận ra được những nét hay và đáng đề học hỏi của văn hóa phương Tây, đồng thời thấy được sự lạc hậu và mat dan vi trí lịch sử của hệ giá trị Nho giáo đã ton tại từ rất lâu. Nhiều trí thức Việt Nam hay nói đúng hơn là các nhà nho cấp tiến nhận ra được sự thụ động và yếu thế của hệ tư tưởng Nho giáo cũng như vai trò của chính tầng lớp họ trước cơn quốc biến ấy thông qua sự thất bại của những cuộc khởi nghĩa mà điển hình nhất là sự thất bại đẫm máu của phong trào Cần Vương - một phong trào chính danh, theo hệ giá trị Nho giáo lẽ ra phải được mọi thần dân ủng hộ thì lại có một bộ phận có học vấn, có địa vị trong chính quyền ay phan bội, dau hàng. Thực té nay giáng một đòn mạnh vào nén tang tư tưởng va đạo đức Nho giáo, sức sống của Nho giáo trong một xã hội đang thay đổi.

Nhiều người trong giới trí thức, quan lại Nho giáo hiểu rằng không thể cứ bảo thủ, khư khư giữ những quan điểm, tư duy không phù hợp đó nữa. Nếu muốn đánh đuổi được thực dân Pháp thì chỉ có thể có một con đường duy nhất là chính người dân lúc này phải thay đổi, cả xã hội phải thay đổi cả về thé chất và tinh than, tư duy (điều này được thé hiện rất rõ trong A té á, Tinh quốc hôn ca). Chính vì thế, người Việt Nam đã chủ động tiếp xúc và học hỏi những tinh hoa của thế giới nhằm khai thông chính dân trí nước nhà, dé hội nhập và cũng là để tự chống lại sức mạnh xâm lược của Tây phương hiện đại, bởi phương Tây vôn hiện đại hoá sớm hơn và có tiêm lực mạnh hơn nước ta. Sự cách tân này của 15 tầng lớp nhà nho truyền thống đồng thời cũng chính là sự tự phủ định bản thân và phủ định tầng lớp mình.

Quá trình vừa khăng định vừa phủ định này là ứng xử rất quan trong, mang ý nghĩa nhận thức cao dé tạo nên thay đổi lớn của cả một thời đại. Trong những năm dau thé ki XX, có rất nhiều sự kiện đã diễn ra ảnh hưởng trực tiếp đến sự thay đổi của tầng lớp nhà nho và rộng ra là của các tầng lớp khác nhau trong xã hội Việt Nam. Trước tiên, có thể kế đến Tân Thư, một trong những hiện tượng quan trọng ảnh hưởng đến thế giới quan của rất nhiều nhà nho cựu học bấy giờ. Người đi tiên phong trong việc truyền bá Tân thư và sớm nhận ra cần phải cứu nước theo một đường hướng mới chính là Nguyễn Lộ Trạch, tuy nhiên nhân vật được coi là yếu nhân của con đường đến với Tân thư đối với tầng lớp nhà Nho lại là Nguyễn Thượng Hiền.

Rất nhiều các tao nhân, mặc khách, các nhà Nho có khát vọng cứu nước đều tìm cách gặp gỡ ông và coi ông như một hình tượng mẫu mực để học hỏi. Ngay cả các nhà chí sĩ lớn của giai đoạn này như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh cũng đều muốn diện kiến và trao đổi ý kiến với Nguyễn Thượng Hiền. “Tan thu là một danh từ để goi chung những tài liệu, thư tịch, sách vở được các hoc giả Nhật Ban, Trung Quốc, Triéu Tiên biên soạn hay dịch thuật bằng chữ Hán, giới thiệu những tri thức và cung cấp những thông tin về những gì trước hết thuộc châu Au hay thuộc về thé giới nói chung vượt qua giới hạn những gì mà cổ tịch - những tài liệu sách vở được trước tác trong khuôn khổ truyền thống khu vực, trong đó chủ yếu là những gì tam giáo (Nho, Phật, Đạo) đề cập. Cũng thuộc phạm vi Tân thw là những trước tác của các tác giả Việt Nam như Bùi Viện, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Pham Phú Thứ.

đề cập đến những vấn dé quốc tế, những chuyện ngoài thời sự cấp thiết của quốc gia. nghĩa là vượt ra ngoài, vượt lên trên những giới hạn tri thức, kinh nghiệm và giải pháp mà nhà nho cựu học truyền thong đã hay có thể biết toi” [159, 73-74]. Tat nhiên cũng cần lưu ý rằng tiếp nhận Tân thư là tiếp nhận những kiến thức mới song chúng lại được dịch qua chữ Hán hay nói cách khác là chúng được người Việt tiếp nhận qua một kênh thứ hai, không phải kênh trực tiếp, từ nguồn gốc của các kiến thức đó. Mặc dù vậy, cũng không thể phủ 16 nhận rằng Tân thư mang đến những tri thức mới khác so với những kiến thức đã được đề cập trong các kinh điển nho gia trước kia.

“Tỉnh thần chung của Tân thư là phê phán sự hủ bại của xã hội phong kiến Trung Quốc và chế độ chính trị thối nát của nhà Mãn Thanh, ca tụng văn mình Au — My, hô hào học theo Âu — My, cải cách đất nước về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa” [24, 46]. Tân thư đã đem lại luồng sáng về những tư duy tiến bộ và hiện đại đến với những con người đang tự nhận thấy sự lỗi thời, lạc hậu và bat lực trước biến cố của thời cuộc. Qua những kiến thức đó, nhà nho càng thấy rõ hơn sự thiếu sót của thế hệ mình, tầng lớp mình trước một xã hội biến động và tìm thấy những tư tưởng mới vô cùng hấp dẫn có đủ khả năng thay thế cho những hiểu biết đã lỗi thời, trì trệ, đặc biệt là thiếu tính thực tiễn. Với họ các nội dung tư tưởng mới hoàn toàn có thê tạo ra những thay đổi lớn đối với tư duy của con người.

Mong muốn của những người đã được tiếp cận Tân thư không chỉ dừng lại ở việc làm giàu cho thế giới quan của mình mà còn là cho đồng bào. Vì vậy mà họ tim cách dé phổ biến những nội dung đó ra đông dao quan chúng và quả thực họ đã làm điều đó. Những tri thức được tích hợp qua Tân thư đã trở thành nền móng cho phòng trào Duy tân xuất hiện và phát triển chủ yếu ở các tỉnh Trung kỳ mà trung tâm là Quảng Nam, Quảng Ngãi trong khoảng thời gian từ 1903 đến 1908. Đây chính là sự kiện thứ hai ảnh hưởng đến sự thay đổi của văn hoá nước nhà.

Cuộc vận động Duy tân của Phan Châu Trinh đã đặt ra những vấn đề rất lớn cho xã hội mà Nguyên Ngọc gọi là một hệ nan để rat cần thiết nhưng không dễ giải quyết dé vượt thoát. Nếu Phan Bội Châu chủ trương bạo động cách mạng dé cứu nước thì Phan Châu Trinh lại cho rằng muốn cứu nước trước hết là phải làm cho dân tộc hùng mạnh, tự cường nên chủ trương bất bạo động và phải nâng cao dân trí, cải tổ xã hội về mọi mặt với tinh thần chủ đạo là Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Ông mong muốn người An Nam sẽ mạnh lên ở cả trí tuệ, tư tưởng và cuộc sống. Mà mạnh ở đây là mạnh ở chiều sâu của mỗi cá nhân chứ không phải chi là hô hào ở bề nồi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ về Tản Đà trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX là một nghiên cứu sâu sắc về vai trò và ảnh hưởng của Tản Đà trong bối cảnh văn học thời kỳ này. Tác giả không chỉ phân tích các tác phẩm nổi bật của Tản Đà mà còn khám phá những đặc điểm nghệ thuật và tư tưởng của ông, từ đó làm nổi bật sự đóng góp của ông cho nền văn học Việt Nam. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách mà Tản Đà đã phản ánh tâm tư, tình cảm của con người trong xã hội đương thời, cũng như cách ông đã mở đường cho các phong trào văn học sau này.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các tác giả và tác phẩm khác trong văn học Việt Nam, hãy tham khảo thêm Luận văn đất và người xứ huế trong ký của hoàng phủ ngọc tường, nơi bạn sẽ tìm thấy những góc nhìn sâu sắc về văn hóa và con người xứ Huế. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ ngữ văn vị từ tình thái trong truyện kiều của nguyễn du sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về những giá trị nghệ thuật trong tác phẩm kinh điển của Nguyễn Du. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ vấn đề tính dục trong văn học trung đại việt nam sẽ mang đến cho bạn cái nhìn tổng quát về các chủ đề nhạy cảm trong văn học trung đại, từ đó làm phong phú thêm hiểu biết của bạn về văn hóa và tư tưởng thời kỳ này.