Tổng quan luận án
Sơn La là một tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam với diện tích tự nhiên khoảng 1,4 triệu ha, quy mô dân số 1.252,7 nghìn người và mật độ dân số 89 người/km² (Tổng cục Thống kê, 2020). Địa phương này sở hữu tiềm năng phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ, đặc biệt là đàn bò sữa tập trung tại Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu với quy mô trên 21.000 con. Sự gia tăng liên tục của tổng đàn đặt ra thách thức về việc đảm bảo nguồn thức ăn thô xanh ổn định quanh năm. Tình trạng thiếu hụt thức ăn thô diễn ra nghiêm trọng vào mùa đông, trong khi diện tích đất trồng cỏ tự nhiên và thâm canh ngày càng bị thu hẹp do chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang các hoạt động canh tác có giá trị kinh tế cao hơn.
Song song với chăn nuôi, ngành trồng trọt cây ăn quả tại Sơn La phát triển mạnh, đặc biệt là cây chanh leo (Passiflora edulis) gắn liền với nhà máy chế biến của Tập đoàn Nafoods Tây Bắc. Đến năm 2020, diện tích trồng chanh leo toàn tỉnh đạt khoảng 1.900 ha với năng suất 30–50 tấn/ha. Quá trình chế biến dịch quả xuất khẩu thải ra một lượng phụ phẩm vỏ chiếm gần một nửa khối lượng quả tươi, tương đương khoảng 38.000 tấn vỏ quả chanh leo mỗi năm. Nguồn phụ phẩm hữu cơ này phần lớn chưa được xử lý, gây nguy cơ ô nhiễm môi trường và phát sinh chi phí xử lý chất thải cho doanh nghiệp.
Về mặt dinh dưỡng, vỏ quả chanh leo có hàm lượng carbohydrate và chất xơ cao, protein ở mức khá nhưng tỷ lệ nước cao và nhanh thối hỏng. Việc cho gia súc nhai lại ăn trực tiếp với tỷ lệ không phù hợp có thể gây xáo trộn môi trường vi sinh vật dạ cỏ. Trong khi các quốc gia Nam Mỹ đã ứng dụng phụ phẩm chanh leo trong chăn nuôi đại gia súc, thì tại Việt Nam chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện từ đặc tính hóa học, phương pháp bảo quản ủ chua đến việc xây dựng khẩu phần ứng dụng thực tế trên bò sữa. Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Lê Văn Hà thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống kỹ thuật này.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể:
- Xác định được khối lượng, thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của vỏ quả chanh leo làm thức ăn cho bò sữa.
- Xác định được các công thức ủ chua để bảo quản vỏ quả chanh leo làm thức ăn cho gia súc nhai lại.
- Xác định mức độ sử dụng vỏ quả chanh leo ủ chua phù hợp trong khẩu phần ăn của bê cái và bò vắt sữa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Vỏ quả chanh leo thu nhận sau quá trình tách dịch quả, phối hợp với một số phụ phẩm nông nghiệp và chế biến sẵn có khác (lõi ngô, bã mía, bột ngô, cám gạo, rỉ mật...) để làm thức ăn cho bò sữa.
- Phạm vi không gian: Thí nghiệm phân tích thành phần hóa học và lên men in vitro tại Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi – Học viện Nông nghiệp Việt Nam và Bộ môn Dinh dưỡng và Thức ăn chăn nuôi – Viện Chăn nuôi. Thí nghiệm ủ chua thực địa và thử nghiệm nuôi dưỡng trên đàn bê cái hậu bị, đàn bò khai thác sữa tại Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu và các nông hộ chăn nuôi bò sữa tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Phạm vi thời gian: Công trình được triển khai trong giai đoạn từ tháng 1/2017 đến tháng 9/2021.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng kết các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến hệ thống tiêu hóa dạ cỏ, công nghệ xử lý phụ phẩm nông nghiệp giàu xơ và tiềm năng dinh dưỡng của vỏ quả chanh leo:
Về sinh lý tiêu hóa gia súc nhai lại, Brockman (1993), Orskov (1992), Theodorou và France (2000), cùng nhóm tác giả Nguyễn Xuân Trạch và cộng sự phân tích mối quan hệ cộng sinh giữa vật chủ và hệ vi sinh vật dạ cỏ (vi khuẩn, protozoa, nấm). Hệ vi sinh vật tiết enzyme bẻ gãy liên kết $\beta$-1,4-glucoside của cellulose và hemicellulose, chuyển hóa carbohydrate thành các axit béo bay hơi (axit axetic, axit propionic, axit butyric) cung cấp năng lượng, đồng thời chuyển hóa nitơ phi protein (NPN) thành protein sinh khối vi sinh vật.
Về nguồn phụ phẩm nông nghiệp tại Việt Nam, theo thống kê năm 2019, tổng khối lượng phụ phẩm chính ước đạt 47,19 triệu tấn vật chất khô (VCK)/năm.
| Tên phụ phẩm |
Diện tích gieo trồng (triệu ha/năm) |
Sản lượng (triệu tấn/năm) |
Khối lượng phụ phẩm (triệu tấn VCK/năm) |
| Rơm lúa |
7,47 |
43,5 |
33,50 |
| Cây ngô sau thu hoạch |
0,99 |
4,8 |
4,90 |
| Lõi ngô |
- |
- |
0,72 |
| Dây lạc |
0,25 |
0,63 |
0,50 |
| Ngọn, lá sắn |
0,52 |
14,3 |
2,95 |
| Dây khoai lang |
0,12 |
1,43 |
1,15 |
| Lá mía |
0,29 |
6,6 |
3,00 |
| Rỉ mật |
- |
- |
0,45 |
| Hạt bông |
0,025 |
0,5 |
0,02 |
| Tổng cộng |
- |
- |
47,19 |
Bùi Văn Chính và cộng sự (2001) cung cấp số liệu phân tích thành phần hóa học và giá trị năng lượng của một số phụ phẩm chủ lực: Rơm lúa chứa 92,05% VCK, xơ thô 37,47%, protein thô (CP) 5,81%, lipid thô 1,83%, năng lượng trao đổi (ME) đạt 1.549 Kcal/kg VCK; hạt bông chứa 89,80% VCK, xơ thô 25,95%, CP 21,38%, lipid thô 15,70%, ME đạt 2.645 Kcal/kg VCK.
Các nghiên cứu xử lý phụ phẩm giàu xơ trong nước bao gồm:
- Xử lý hóa học và urê: Nguyễn Trọng Tiến (1993), Đặng Thái Hải và Nguyễn Trọng Tiến (1995), Nguyễn Xuân Trạch và Trần Thị Uyên (1997), Cù Xuân Dần và Nguyễn Xuân Trạch (1999a, b) xác định xử lý rơm bằng 3–5% urê kết hợp vôi tôi ($Ca(OH)_2$ hoặc CaO) giúp cố định nitơ, giảm chỉ số NDF, ADF, ADL và tăng tỷ lệ tiêu hóa. Phạm Kim Cương (2008) chứng minh xử lý rơm với 4% urê làm giảm lignin và tăng sản lượng khí sinh ra trong lên men in vitro.
- Ủ chua và phối chế khẩu phần: Nguyễn Văn Hải và cộng sự (2003) nghiên cứu ủ thân cây ngô với 4% bột sắn hoặc 4% cám gạo hoặc 1,5% rỉ mật + 1% cám gạo. Bùi Quang Tuấn (2000, 2005, 2007) khảo sát thân lá ngô và dây lạc ủ chua. Lại Thị Nhài (2005) và Trương La (2010) đánh giá hiệu quả sử dụng 10–20% lõi ngô trong khẩu phần bò thịt. Bùi Văn Chính và cộng sự (1999), Nguyễn Văn Hải (2009), Nguyễn Nhựt Xuân Dung và cộng sự (2006) nghiên cứu kiềm hóa bã mía và ủ chua ngọn lá mía. Trương La và Đậu Thế Năm (2002), Trương La và cộng sự (2008a, b), Vũ Chí Cương và cộng sự (2001, 2007), Đinh Văn Cải và Phạm Văn Quyến (2007) thử nghiệm bánh dinh dưỡng, vỏ ca cao, bã điều, vỏ xơ mít và bã mía vỗ béo bò.
Về nghiên cứu vỏ quả chanh leo trên thế giới:
- Brucker và Picano (2001), Knight và Sauls (1994), Xu và cộng sự (2016) mô tả đặc điểm nông học hai nhóm chanh leo vàng (Passiflora edulis forma flavicarpa) và chanh leo tím (Passiflora edulis).
- Cruz và cộng sự (2011), Silva và cộng sự (2015) ghi nhận hàm lượng CP vỏ chanh leo đạt 13,4–15,29% VCK; Alves và cộng sự (2015), Almeida và cộng sự (2018) ghi nhận CP vỏ và hạt chanh leo là 10,2–12% VCK; Janaina và cộng sự (2015), Oliveira và cộng sự (2016) báo cáo biến động 6,80–8,64% VCK.
- Alves và cộng sự (2015) tại Brazil ủ chua vỏ chanh leo với bột ngô, urê, khô đậu nành nuôi bò thịt; thay thế 22% vỏ bã dứa bằng vỏ chanh leo khô nuôi bò sữa giúp đạt sản lượng sữa 39,7 kg/con/ngày (cao hơn mức 38,0 kg/con/ngày của lô bã dứa). Alves và cộng sự (2015) cũng chỉ ra bò ăn khẩu phần chứa vỏ chanh leo có lượng thu nhận thức ăn đạt 6,07 kg/ngày và tăng khối lượng 1,3 kg/ngày (so với 3,77 kg/ngày và 0,14 kg/ngày khi ăn cao lương ủ chua). Sena và cộng sự (2015), Cristiane và cộng sự (2020) thay thế cỏ Tifton 85 và cỏ Voi bằng vỏ chanh leo nuôi cừu. Carlota và cộng sự (2018), Bussolo và cộng sự (2018) chứng minh vỏ chanh leo giúp giải phóng glucose chậm trong dạ cỏ.
Khoảng trống nghiên cứu được giải quyết: Trước luận án này, tại Việt Nam hoàn toàn chưa có dữ liệu công bố về trữ lượng phụ phẩm chanh leo phát sinh theo mùa vụ, chưa có hệ số phương trình toán học quy đổi từ khối lượng quả tươi sang vỏ và hạt, chưa xác định công thức ủ chua tối ưu (ủ đơn lẻ và thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh lên men - FTMR) phù hợp điều kiện Tây Bắc, và chưa có thử nghiệm đánh giá khả năng thay thế cây ngô ủ chua bằng vỏ chanh leo ủ chua trên bò sữa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết sinh hóa và vi sinh vật học của quá trình lên men yếm khí:
- Nguyên lý ủ chua (McDonald và cộng sự, 1995; Vũ Duy Giảng và cộng sự): Vi khuẩn lên men lactic đồng chất (Lactobacillus plantarum, Pediococcus pentosaceus, Enterococcus faecalis) chuyển hóa 1 mol Glucose thành 2 mol Axit lactic, hoặc 1 mol Pentose thành Axit lactic + Axit axetic; vi khuẩn lên men dị chất (Lactobacillus brevis, Leuconostoc mesenteroides) chuyển hóa Glucose thành Axit lactic, Etanol và $CO_2$. Mục tiêu kỹ thuật là nhanh chóng hạ pH môi trường xuống ngưỡng 3,7–4,5 nhằm ức chế vi khuẩn hoại sinh, nấm mốc và đặc biệt là vi khuẩn Clostridia (Clostridium butyricum, C. tyrobutyricum, C. sporogenes - nhóm sinh axit butyric và phân giải protein tạo $NH_3$) cũng như nhóm Enterobacteria.
- Nguyên lý cân bằng dinh dưỡng khẩu phần TMR (Total Mixed Ration) và FTMR (Fermented Total Mixed Ration): Đảm bảo tỷ lệ cân đối giữa xơ hữu hiệu cơ học (peNDF), hàm lượng protein thô và năng lượng trao đổi (ME).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành qua các giai đoạn:
- Xác định tỷ lệ các phần của quả và xây dựng mô hình toán học: Thu thập mẫu quả chanh leo tươi tại nhà máy Nafoods Tây Bắc qua các đợt sản xuất, cân đo khối lượng quả tươi, tách riêng vỏ tươi, cùi, dịch quả và hạt. Xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính tương quan giữa khối lượng quả tươi ($X$) với khối lượng vỏ tươi, vỏ khô và hạt tươi ($Y$).
- Phương pháp phân tích hóa học và giá trị dinh dưỡng: Phân tích VCK, protein thô (CP), lipid thô (EE), xơ không tan trong chất tẩy trung tính (NDF), xơ không tan trong chất tẩy axit (ADF), khoáng tổng số (KTS), chất hữu cơ (OM). Ước tính năng lượng thô (GE), năng lượng tiêu hóa (DE), năng lượng trao đổi (ME), đơn vị thức ăn cho sữa (UFL) theo Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) và các phương trình chuẩn của ngành dinh dưỡng gia súc.
- Phương pháp nghiên cứu ủ chua:
- Quy mô phòng thí nghiệm: Thiết kế các công thức ủ vỏ quả chanh leo phối hợp với các phụ phẩm (bã mía, lõi ngô, rơm...) và chất phụ gia (rỉ mật, cám gạo, men vi sinh, muối). Ủ trong túi nilon chuyên dụng/bình ủ kín khí.
- Quy mô thực địa: Tiến hành ủ trong các bao ủ khối lượng lớn hoặc hố ủ tại Mộc Châu.
- Chỉ tiêu đánh giá chất lượng ủ chua: Đánh giá cảm quan (màu sắc, mùi, kết cấu/độ cứng); theo dõi động thái giảm pH theo ngày (ngày 3, 7, 14, 21, 30, 60...); phân tích hàm lượng các axit hữu cơ mạch ngắn (axit lactic, axit axetic, axit butyric), hàm lượng nitơ amoniac ($NH_3-N$/tổng số N). Đo lường lượng thức ăn ủ chua thu nhận tự nguyện của bò sữa (kg/con/60 phút).
- Phương pháp đánh giá lên men in vitro và thử nghiệm nuôi dưỡng trên bò sữa:
- Đánh giá in vitro gas production: Ủ mẫu khẩu phần với dịch dạ cỏ lấy từ bò sữa để đo thể tích khí sinh ra theo thời gian, tính toán tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ (OMD), ME và tổng axit béo chuỗi ngắn (SCFA).
- Thử nghiệm trên bê cái hậu bị: Bố trí lô thí nghiệm so sánh đối chứng, thay thế từng phần thức ăn thô truyền thống (cây ngô ủ chua) bằng vỏ quả chanh leo ủ chua. Theo dõi lượng thức ăn thu nhận hàng ngày (DMI), tốc độ tăng khối lượng bình quân ngày (ADG), hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR = kg DMI/kg tăng khối lượng).
- Thử nghiệm trên bò đang khai thác sữa: Đánh giá lượng thu nhận vật chất khô (DMI), năng suất sữa thực tế hàng ngày (MY), năng suất sữa chuẩn 4% mỡ (FCMY), thành phần chất lượng sữa (tỷ lệ mỡ sữa, protein sữa, lactose, VCK sữa), hệ số FCR (kg DMI/kg sữa), sự thay đổi thể trọng và điểm thể trạng (BCS).
- Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ dữ liệu thu thập được xử lý thống kê sinh học bằng phần mềm thống kê chuyên ngành (ANOVA, kiểm định so sánh các giá trị trung bình với sai số chuẩn chung SEM).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về đặc điểm giải phẫu, sinh lý tiêu hóa của dạ dày 4 túi ở gia súc nhai lại, cơ chế cộng sinh vi sinh vật dạ cỏ và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân giải chất xơ. Tác giả tổng hợp nguồn tài nguyên phụ phẩm nông nghiệp khổng lồ của Việt Nam (47,19 triệu tấn VCK/năm 2019) và phân tích ưu, nhược điểm của các giải pháp xử lý giàu xơ hiện nay: phương pháp vật lý (làm khô, nghiền), phương pháp hóa học (kiềm hóa bằng NaOH, ủ urê, vôi tôi), và phương pháp sinh học (ủ chua lên men yếm khí).
Về cây chanh leo, chương tổng quan làm rõ nguồn gốc sinh học của hai phân loài Passiflora edulis (chanh leo tím) và Passiflora edulis forma flavicarpa (chanh leo vàng), kỹ thuật canh tác, mùa vụ thu hoạch và quy trình công nghệ chế biến trích ly dịch quả tại Công ty Nafoods Tây Bắc. Tác giả phân tích tiềm năng protein (dao động từ 6,8% đến trên 15% VCK tùy nghiên cứu), carbohydrate hòa tan cao của vỏ quả chanh leo, đồng thời chỉ rõ các rào cản kỹ thuật chính: độ ẩm ban đầu cao (VCK chỉ đạt khoảng 16,40%), tính đệm thấp, dễ thối rữa nếu không được xử lý ngay sau khi ép dịch, và nguy cơ tồn dư thuốc bảo vệ thực vật hoặc nitrit nếu không kiểm soát nguồn nguyên liệu.
Chương 2: Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết vật liệu nghiên cứu bao gồm vỏ quả chanh leo thu nhận từ dây chuyền ly tâm của Công ty Nafoods Tây Bắc, các phụ phẩm phối trộn (thân cây ngô, lõi ngô nghiền, bã mía, rơm lúa, cám gạo, bột ngô, rỉ mật đường) và đàn bò sữa (bê cái hậu bị và bò sữa Holstein Friesian lai đang cho sữa tại Mộc Châu).
Nội dung nghiên cứu được chia thành 3 phần trọng tâm:
- Phần 1: Khảo sát khối lượng, xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính ước tính tỷ lệ vỏ, cùi, hạt từ quả tươi; phân tích thành phần dinh dưỡng và giá trị năng lượng của phụ phẩm chanh leo tại Sơn La.
- Phần 2: Nghiên cứu xây dựng công thức ủ chua vỏ quả chanh leo đơn lẻ (kết hợp phụ gia điều chỉnh ẩm và cơ chất lên men) và công thức phối trộn thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh lên men (FTMR) ở quy mô phòng thí nghiệm và ngoài thực địa; phân tích động thái pH, hàm lượng axit lactic, axit axetic, axit butyric, $NH_3-N$ và đánh giá mức độ thu nhận thức ăn của bò trong 60 phút.
- Phần 3: Đánh giá quá trình lên men in vitro (đo lượng khí sinh ra, OMD, ME, SCFA) của các khẩu phần thí nghiệm; thử nghiệm nuôi dưỡng in vivo trên bê cái hậu bị và bò đang khai thác sữa nhằm xác định tỷ lệ thay thế tối ưu cây ngô ủ chua bằng vỏ chanh leo ủ chua.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm đạt được:
- Tiềm năng và giá trị dinh dưỡng của vỏ quả chanh leo tại Sơn La: Kết quả khảo sát tại Nafoods Tây Bắc cho thấy vỏ quả chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cấu trúc quả chanh leo sau khi tách dịch. Tác giả đã thiết lập các phương trình hồi quy tuyến tính có độ tin cậy cao để ước tính khối lượng vỏ tươi, vỏ khô và hạt từ khối lượng quả tươi đầu vào. Phân tích thành phần hóa học khẳng định vỏ quả chanh leo tươi có hàm lượng nước cao, hàm lượng protein thô đạt mức khá cao (trên 14% tính theo VCK), hàm lượng xơ NDF và ADF ở mức phù hợp cho gia súc nhai lại.
- Kết quả ủ chua vỏ quả chanh leo:
- Ủ chua trong phòng thí nghiệm và thực địa: Các công thức ủ vỏ quả chanh leo phối hợp với các phụ phẩm hút ẩm (bã mía, lõi ngô nghiền, cám gạo) và rỉ mật đường đã tạo ra môi trường lên men lý tưởng. Đường cong pH giảm nhanh chóng xuống dưới 4,2 chỉ sau 7–14 ngày ủ và duy trì ổn định trong suốt thời gian bảo quản 60–90 ngày.
- Chất lượng lên men: Sản phẩm ủ chua đạt điểm cảm quan xuất sắc (màu vàng sáng đến vàng nâu đồng nhất, mùi thơm chua lên men tự nhiên dạng hoa quả chín, không có mùi mỡ ôi hay mùi thối, cấu trúc mảnh vỏ còn dai cứng, không nhũn nát). Hàm lượng axit lactic chiếm ưu thế tuyệt đối trong tổng số axit béo bay hơi, hàm lượng axit axetic ở mức vừa phải, axit butyric chỉ xuất hiện ở dạng vết không đáng kể. Hàm lượng nitơ amoniac ($NH_3-N$) ở mức rất thấp, chứng minh quá trình phân giải protein bị ức chế thành công.
- Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh lên men (FTMR): Công thức FTMR chứa vỏ chanh leo duy trì được hàm lượng dinh dưỡng ổn định, bò sữa có lượng thu nhận thức ăn tự nguyện trong 60 phút cao.
- Kết quả thử nghiệm khẩu phần trên gia súc:
- Đánh giá in vitro: Khẩu phần bổ sung vỏ quả chanh leo ủ chua cho sản lượng khí sinh ra cao, tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ (OMD) và nồng độ axit béo chuỗi ngắn (SCFA) tương đương hoặc vượt trội so với khẩu phần đối chứng sử dụng cây ngô ủ chua.
- Hiệu quả trên bê cái hậu bị: Khẩu phần thay thế cây ngô ủ chua bằng vỏ quả chanh leo ủ chua với tỷ lệ thích hợp giúp bê cái duy trì lượng thu nhận vật chất khô ổn định, tốc độ tăng khối lượng bình quân ngày (ADG) đạt mức tương đương lô đối chứng, hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) được cải thiện.
- Hiệu quả trên bò đang khai thác sữa: Việc thay thế cây ngô ủ chua bằng vỏ chanh leo ủ chua trong khẩu phần không làm ảnh hưởng tiêu cực đến lượng thu nhận thức ăn (DMI), năng suất sữa hàng ngày (MY) cũng như năng suất sữa hiệu chỉnh 4% mỡ (FCMY). Chất lượng sữa (tỷ lệ mỡ sữa, protein sữa) được giữ vững ổn định; thể trọng và điểm thể trạng (BCS) của đàn bò sữa trong suốt chu kỳ thí nghiệm không có biến động bất lợi.
Kết quả và những đóng góp mới
Các đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học:
- Là công trình khoa học đầu tiên tại Việt Nam đánh giá toàn diện tiềm năng trữ lượng, đặc tính hóa học, giá trị dinh dưỡng và động học lên men dạ cỏ của vỏ quả chanh leo phục vụ chăn nuôi bò sữa.
- Xây dựng thành công các phương trình hồi quy tuyến tính cho phép dự báo chính xác khối lượng phụ phẩm vỏ tươi, vỏ khô và hạt từ sản lượng quả tươi thu hoạch tại vùng nguyên liệu.
- Làm sáng tỏ cơ sở sinh hóa của quá trình lên men yếm khí vỏ quả chanh leo phối hợp với các phụ phẩm giàu chất xơ khô (lõi ngô nghiền, bã mía), chứng minh khả năng kiểm soát độ ẩm và bổ sung cơ chất carbon hòa tan giúp ức chế vi khuẩn hoại sinh, tạo ra thức ăn ủ chua và thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh lên men (FTMR) chất lượng cao.
Các đóng góp mới về mặt thực tiễn và ứng dụng:
- Đưa ra quy trình kỹ thuật và công thức ủ chua vỏ quả chanh leo cụ thể, có thể ứng dụng trực tiếp ở quy mô nông hộ và trang trại chăn nuôi bò sữa tập trung.
- Xây dựng được các công thức khẩu phần ăn hoàn chỉnh ứng dụng vỏ quả chanh leo ủ chua thay thế một phần hoặc toàn bộ cây ngô ủ chua cho bê cái hậu bị và bò sữa đang vắt sữa, giúp hạ giá thành thức ăn chăn nuôi.
- Cung cấp giải pháp xử lý chất thải hữu cơ tại chỗ cho các nhà máy chế biến xuất khẩu chanh leo (tiêu biểu như Nafoods Tây Bắc), góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường và giảm chi phí vận hành xử lý chất thải đô thị.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất của luận án:
- Khuyến cáo các cơ sở chăn nuôi bò sữa tại Sơn La áp dụng công thức ủ chua phối hợp vỏ chanh leo với lõi ngô, bã mía và rỉ mật để chủ động nguồn thức ăn dự trữ cho mùa khô và mùa đông.
- Đề xuất các doanh nghiệp chế biến hoa quả thiết lập chuỗi liên kết tuần hoàn với các hợp tác xã, trang trại chăn nuôi bò sữa nhằm thu gom, vận chuyển và chế biến ngay phụ phẩm vỏ quả trong ngày.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu thực địa và thử nghiệm nuôi dưỡng chỉ giới hạn trên giống bò sữa Holstein Friesian lai tại tiểu vùng khí hậu Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Mẫu phụ phẩm nghiên cứu chủ yếu thu thập từ giống chanh leo Đài Nông 1 (Passiflora edulis) thuộc dây chuyền chế biến của Công ty Nafoods Tây Bắc.
- Thử nghiệm nuôi dưỡng trên bò sữa tập trung vào giai đoạn vắt sữa ngắn hạn và giai đoạn bê cái hậu bị, chưa theo dõi kéo dài qua nhiều chu kỳ tiết sữa liên tiếp.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng khảo nghiệm công nghệ ủ chua và khẩu phần sử dụng vỏ chanh leo trên các đối tượng gia súc nhai lại khác như bò thịt vỗ béo, trâu, dê, cừu tại các vùng sinh thái khác nhau (Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ).
- Đánh giá ảnh hưởng dài hạn của khẩu phần chứa vỏ chanh leo ủ chua đến sức khỏe sinh sản, tuổi thọ khai thác và chất lượng vi sinh vật đường ruột của gia súc.
- Nghiên cứu chiết xuất các hợp chất hoạt tính sinh học tự nhiên (pectin, flavonoid, polyphenol) từ vỏ chanh leo trước khi đưa phần bã còn lại vào quy trình ủ chua chăn nuôi.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo khoa học hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Chăn nuôi, Dinh dưỡng và Thức ăn chăn nuôi, Thú y: Tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm ủ chua, kỹ thuật đánh giá cảm quan, kỹ thuật đo khí in vitro gas production và phương pháp thiết kế khẩu phần FTMR.
- Giảng viên và cán bộ nghiên cứu: Bổ sung dữ liệu vào hệ thống bảng thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng thức ăn chăn nuôi Việt Nam, đặc biệt là nhóm phụ phẩm cây ăn quả nhiệt đới.
- Cán bộ khuyến nông và nhà hoạch định chính sách nông nghiệp: Xây dựng mô hình nông nghiệp tuần hoàn, chuyển giao kỹ thuật dự trữ thức ăn thô xanh cho nông dân vùng cao trong mùa đông.
- Doanh nghiệp chế biến quả và trang trại chăn nuôi bò sữa: Ứng dụng trực tiếp công thức ủ chua và tỷ lệ phối trộn khẩu phần để giảm giá thành sản xuất và bảo vệ môi trường.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao vỏ quả chanh leo tươi cần phải được chế biến ủ chua mà không nên cho bò sữa ăn tươi trực tiếp với số lượng lớn?
Vỏ quả chanh leo tươi có hàm lượng nước rất cao (VCK chỉ khoảng 16,40%), hàm lượng đường hòa tan cao nhưng tính đệm thấp và nhanh bị phân hủy bởi vi sinh vật hoại sinh ngoài không khí. Cho ăn tươi trực tiếp không kiểm soát dễ gây rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy và làm xáo trộn môi trường vi sinh vật dạ cỏ. Quá trình ủ chua yếm khí giúp hạ pH, bảo quản lâu dài và chuyển hóa cơ chất thành nguồn thức ăn an toàn.
2. Giải pháp kỹ thuật nào được áp dụng để khắc phục độ ẩm cao của vỏ chanh leo khi ủ chua?
Luận án áp dụng giải pháp phối trộn vỏ quả chanh leo tươi với các nguồn phụ phẩm giàu xơ khô có khả năng hút ẩm cao như lõi ngô nghiền, bã mía khô, rơm lúa băm nhỏ hoặc cám gạo, kết hợp bổ sung rỉ mật đường để đưa độ ẩm hỗn hợp về mức tối ưu (65–75%), tạo điều kiện cho vi khuẩn lactic phát triển thuận lợi.
3. Tiêu chí nào chứng minh vỏ chanh leo ủ chua đạt chất lượng tốt?
Sản phẩm ủ chua đạt chất lượng tốt khi giá trị pH hạ xuống khoảng 3,8–4,2; màu sắc vàng sáng tự nhiên; mùi thơm chua hoa quả lên men; cấu trúc mảnh vỏ dai chắc không mềm nhũn; hàm lượng axit lactic chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số axit béo bay hơi; hàm lượng axit butyric không đáng kể và tỷ lệ $NH_3-N$/tổng số N ở mức rất thấp (dưới 0,05%).
4. Khả năng thay thế cây ngô ủ chua của vỏ chanh leo ủ chua trong khẩu phần bò sữa đạt kết quả như thế nào?
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm khẳng định vỏ quả chanh leo ủ chua có thể thay thế một phần thích hợp lượng cây ngô ủ chua trong khẩu phần ăn của bê cái hậu bị và bò khai thác sữa mà không làm giảm lượng vật chất khô ăn vào (DMI), duy trì tốc độ tăng khối lượng ở bê, đồng thời giữ vững năng suất sữa và tỷ lệ mỡ, protein sữa ở bò vắt sữa.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Văn Hà đã giải quyết toàn diện cơ sở khoa học và thực tiễn của việc chuyển hóa phụ phẩm vỏ quả chanh leo thành nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho bò sữa tại Sơn La. Công trình đã xác định chính xác giá trị dinh dưỡng, thiết lập mô hình dự báo phụ phẩm, hoàn thiện công thức ủ chua đơn lẻ và thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh lên men (FTMR), đồng thời kiểm chứng thành công hiệu quả thay thế cây ngô ủ chua trên đàn bê cái và bò vắt sữa. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần hạ giá thành thức ăn chăn nuôi, chủ động nguồn thức ăn dự trữ trong mùa đông cho tiểu vùng Mộc Châu mà còn mang lại giải pháp tuần hoàn bền vững, giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho ngành chế biến quả xuất khẩu.