Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG Ở TRƯỜNG MẦM NON CÓ TỔ CHỨC GIÁO DỤC HÒA NHẬP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về xây dựng văn hóa nhà trường trong cơ sở giáo dục Có nhiều loại tổ chức khác nhau, như tổ chức kinh tế, tổ chức y tế, tổ chức giáo dục… trong đó, nhà trường là một dạng tổ chức. Vì vậy, VHNT là một dạng của văn hóa tổ chức.
Trên thế giới, văn hoá tổ chức được khởi nguồn từ Mỹ từ thập niên 1960 - 1970, trên cơ sở được hình thành từ các tổ chức kinh tế. Sau đó, được Nhật Bản xây dựng và phát triển mạnh mẽ. Khái niệm văn hoá tổ chức ngày càng trở nên phổ biến, trong đó, Mỹ, Nhật là những quốc gia được coi là có văn hoá tổ chức tiêu biểu bởi tính hiệu quả mà văn hoá tổ chức của họ mang lại cho hoạt động tổ chức. [58] Konosuke Matsushita, tác giả của những cuốn sách nổi tiếng như: Triết lý kinh doanh thực tiễn, mạn đàm nhân sinh, mở lối… được coi là ông tổ của phương thức kinh doanh kiểu Nhật Bản.
Những quan điểm triết lý của ông đã trở thành những nét chính VHTC của các doanh nghiệp trên đất nước Nhật Bản, được người Nhật vận dụng và phát triển mạnh mẽ cho các tổ chức. [89] Cấu trúc văn hóa tổ chức này cũng được các tác giả Julie Heifetz & Richard Hagberg, Dennison đề cập trong nghiên cứu về VHNT của mình. Các tác giả đã nhấn mạnh đến vai trò cấp độ văn hóa thứ 2 của nhà trường là hệ thống giá trị được tuyên bố, trong đó, xác định giá trị cốt lõi làm nền tảng cho VHNT, nó không phai nhòa theo thời gian mà là trái tim và linh hồn của nhà 13 trường. Bên cạnh đó, VHNT cũng luôn được đánh giá, các giá trị văn hóa luôn tiếp biến cái mới, cũng như thiết lập các chuẩn mực mới.
Theo tác giả, văn hoá không phải là bất biến, vì vậy khi ta đã xây dựng được một kiểu văn hoá phù hợp cho nhà trường thì việc quan trọng là liên tục đánh giá và duy trì các giá trị tốt đẹp và truyền bá những giá trị đó cho các thành viên nhà trường. [79] Cũng khẳng định về vai trò hệ thống giá trị được tuyên bố của VHNT nhưng tác giả Dennison lại đi sâu vào việc cụ thể hóa, diễn giải các giá trị cốt lõi thành các chính sách thực tiễn; sứ mệnh, tầm nhìn phải được đo lường bằng nhiệm vụ, hành động cụ thể giúp cho nhà trường tối ưu hóa việc thực thi các mục tiêu giáo dục đã đề ra. [72] Nghiên cứu về VHNT, nhiều tác giả trên thế giới cũng đã khẳng định về sức mạnh của VHNT đã tác động tích cực đến kết quả giáo dục của nhà trường: UI Mujeeb Ehtesham cho rằng, VHNT là một nguồn lực quan trọng để tăng cường khả năng cạnh tranh của nhà trường. Nghiên cứu phân tích về ý nghĩa, thành phần, chức năng VHNT, mối quan hệ giữa VHNT và hiệu quả hoạt động tổ chức, qua đó, đã khẳng định VHNT đã ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tổ chức, mang lại kết quả giáo dục tích cực.
[94] Theo tác giả Phillips, G., & Wagner, VHNT phải được đánh giá bằng các tiêu chí. Tác giả cũng chỉ ra vai trò của Hiệu trưởng, đội ngũ cán bộ, giáo viên, cha mẹ trẻ trong việc xây dựng VHNT. Các lực lượng này góp phần quan trọng tạo nên một nền VHNT tích cực, làm cơ sở cho việc giáo dục toàn diện học sinh; thành tích học tập của học sinh sẽ được nâng lên, đồng thời hình thành nên những hành vi, thói quen tích cực của học sinh. [86] Purkey và Smith quan niệm VHNT được xem như một hệ thống xã hội năng động được tạo thành từ các mối quan hệ chuẩn mực giữa các thành viên trong trường.
Nó gần gũi với học sinh bởi yếu tố xã hội, giúp học sinh dễ dàng hòa nhập cộng đồng nhưng lại được định hướng giáo dục bởi môi trường không gian văn hóa chuẩn mực của nhà trường. Môi trường giáo dục đó có khả năng dẫn dắt mọi thành viên nhà trường theo hướng dạy và học chất lượng. Tác giả 14 cho rằng, trường học hiệu quả được xác định bởi tính trật tự, cấu trúc VHNT và bầu không khí nhân văn.[87] Các nhà nghiên cứu về VHNT trên thế giới cũng hướng tới xây dựng mô hình VHNT trong xu thế toàn cầu hóa, phù hợp với sự đa dạng và giáo dục hiện đại: Cuốn sách “Hiểu về văn hóa tổ chức trường đại học: Trường hợp của đại học Croatia” của các tác giả Vesna Kovac, Jasmika Ledie’ & Branko Rafajac, được lấy cảm hứng từ những thay đổi sắp xảy ra của các trường đại học Croatia trong bối cảnh quá trình toàn cầu hóa, đó là một nỗ lực để đi vào khu vực giáo dục đại học châu Âu. Kết luận đưa ra các đề xuất cho các trường đại học để phát triển các đặc điểm mong muốn của văn hóa tổ chức đại học, chỉ ra một số thay đổi cụ thể để văn hóa tổ chức hiện tại có thể đối phó với tình hình hiện nay.
[95] Theo tác giả Kashner, trong hai thập kỷ qua, giáo dục đại học ở Mỹ đã cố gắng thực hiện một số cải cách. Những cải cách được khẳng định dựa trên những nỗ lực thay đổi văn hóa một cách chủ động của các trường đại học. Văn hóa chứng tỏ là một thành phần quan trọng trong quá trình thay đổi theo kế hoạch phát triển của các trường đại học nhằm đáp ứng được nhu cầu giáo dục ngày nay. Xem xét về tầm quan trọng của văn hóa tổ chức trong bối cảnh chuyển đổi cơ chế sẽ được xác định trên ba khía cạnh chính của quá trình thay đổi: 1) sẵn sàng và đáp ứng với chuyển đổi cơ chế; 2) chống lại thay đổi theo kế hoạch; 3) kết quả của quá trình chuyển đổi.
[82] Ở Việt Nam, VHTC là một vấn đề khá mới mẻ và các tài liệu không phong phú như nước ngoài. Cũng giống như nước ngoài, khi VHTC xuất hiện ở Việt Nam thì nó bắt nguồn từ các tổ chức kinh tế, và sau đó được áp dụng cho các tổ chức khác trong đó có tổ chức giáo dục. Trong thời gian qua, nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá tổ chức và xây dựng VHNT của các nhà nghiên cứu đã viết và cho xuất bản nhiều sách, giáo trình, tài liệu tham khảo như các tác giả: Dương Thị Liễu, Dương Quốc Thắng, Phan Đình Quyền, Lê Việt Hưng, Trần Thị Tuyết Mai, Trần Thị Thanh 15 Thủy. Tuy nhiên, phần lớn các tác giả tập trung nghiên cứu nhiều cho việc xây dựng văn hoá cho các tổ chức kinh tế.
Cho đến những năm gần đây đã có một số công trình luận án, bài báo khoa học tập trung nghiên cứu về VHTC và xây dựng VHTC cho các cơ sở giáo dục. Tác giả Phạm Minh Hạc đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học giáo dục có giá trị cao, đặt nền móng việc nghiên cứu xây dựng VHNT ở Việt Nam. Trong cuốn “Giáo dục giá trị xây dựng văn hóa học đường”, tác giả đã đề xuất mỗi nhà trường cần xây dựng một nền văn hóa riêng, mục tiêu chung nhất của văn hóa học đường là xây dựng môi trường lành mạnh - cơ sở quan trọng để đảm bảo chất lượng thật.[17] Khi nghiên cứu về xây dựng VHNT, nhiều tác giả đã coi trọng yếu tố con người trong quá trình hình thành và phát triển VHNT. Theo đó, các tác giả nhấn mạnh đến vai trò của đội ngũ nhà giáo, đặc biệt là vai trò người đứng đầu là Hiệu trưởng trong việc xây dựng, duy trì và phát triển VHNT: Tác giả Nguyễn Hải Thanh đề cập tới xây dựng VHNT về góc độ về người hiệu trưởng nhà trường với vai trò tiên phong của việc truyền bá VHNT.
Việc xây dựng văn hóa trong hiệu trưởng nhà trường phải mang tính chuẩn mực, mô phạm và nhân văn làm cho sự hiệp đồng giữa người hiệu trưởng với tập thể nhà trường có sự gắn kết chặt chẽ, để xây dựng uy tín, vị thế, nâng tầm của nhà trường đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế về giáo dục. [52] Tác giả Phan Trọng Đông đề cập đến vai trò của nhà giáo với phương pháp nêu gương trong giáo dục để phát triển VHNT phổ thông trong bối cảnh hiện nay. Đặc biệt trong đó, hiệu trưởng chính là tấm gương tiêu biểu, là biểu tượng văn hóa, là nhân tố trung tâm, tiên phong trên con đường thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của nhà trường. [14] Hành vi giao tiếp, ứng xử thuộc lớp cấu trúc văn hóa hữu hình, giúp con người dễ cảm nhận và nhận diện được.
Tuy nhiên, hành vi là cấu trúc hữu hình đặc biệt và quan trọng bởi nó được hình thành và là kết quả của nền tảng giá trị 16 và niềm tin. Vì vậy, khi nghiên cứu về VHNT, nhiều tác giả đã tập trung nghiên cứu về hoạt động giao tiếp, ứng xử trong nhà trường: Tác giả Lê Thị Hồng Khuyên cho rằng, văn hóa giao tiếp là một phần không thể thiếu trong cuộc sống. Không gian VHNT là nơi truyền dạy cho sinh viên nét đẹp văn hóa giao tiếp ứng xử, là cầu nối và mắt xích quan trọng để các em rèn luyện, tiếp thu tri thức hướng tới lối sống văn minh, lịch sự. Tuy nhiên, những lệch chuẩn đáng báo động về giao tiếp ứng xử của sinh viên ngày càng tăng, vấn đề cấp thiết đối với nhà trường cần xây dựng biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục văn hóa giao tiếp cho sinh viên trong tình hình hiện nay.] Tác giả Lê Thị Ngọc Thúy lại có một cách nhìn mới về xác định gốc rễ của sự hình thành văn hóa ứng xử cá nhân trong nhà trường.
Thay vì văn hóa tổ chức bắt buộc tất cả mọi người tuân thủ và làm theo một cách chuyên nghiệp thì phát triển năng lực văn hóa cá nhân sẽ cho chúng ta một cách nhìn hai chiều về tác động tương tác giữa cá nhân và tổ chức; về sự sáng tạo trong cách ứng xử của cá nhân hay còn gọi là văn hóa ứng xử của mỗi cá nhân trong tổ chức trường học. Khi mỗi thành viên của nhà trường hướng giá trị cá nhân đạt tới giá trị của tổ chức thì đồng nghĩa với việc năng lực văn hóa cá nhân đã phát triển theo chiều hướng đồng hóa và tiếp biến trong nhà trường.