Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận (43 trang). Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội (68 trang). Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về văn hóa cấp cơ sở trên địa bàn Hà Nội hiện nay (35 trang). 15 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu Nghiên cứu QLNN về văn hóa cấp cơ sở ở nƣớc ta nói chung và trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng là một vấn đề không mới, đã đƣợc quan tâm nhiều cả về lý luận và thực tiễn. Đặc biệt, trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã đã đề cập đến QLNN về văn hóa ở nhiều góc độ khác nhau trên bình diện quốc gia, địa phƣơng cấp tỉnh, cấp huyện và cấp cơ sở. Để có cơ sở cho nghiên cứu của mình, chúng tôi tìm hiểu một số nhóm công trình có liên quan, nhƣ sau: 1. Các công trình nghiên cứu về quản lý văn hóa Có thể nói con ngƣời xuất hiện từ lúc nào thì văn hóa xuất hiện từ lúc ấy.
Do vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu về văn hóa trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có từ lâu đời. Trong khi đó, vấn đề quản lý văn hóa (QLVH) xuất hiện muộn hơn, đặc biệt là ở Việt Nam. Góp phần quan trọng trong xây dựng hệ thống lý luận về QLVH phải kể đến công trình Mấy vấn đề lí luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta của tác giả Hoàng Vinh [105]. Một số giáo trình: Lược sử Quản lý văn hoá ở Việt Nam của tác giả Hoàng Sơn Cƣờng [26]; Tập bài giảng môn Quản lý Nhà nước về văn hóa của tác giả Phạm Duy Đức [33]; Tập bài giảng bồi dưỡng kiến thức quản lý ngành văn hoá thông tin của Trƣờng Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch [87]; Quản lý văn hóa trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Những bài giảng của tác giả Nguyễn Tri Nguyên [51].
đƣợc biên soạn để giảng dạy và học tập của giảng viên, học viên và sinh viên Trƣờng Đại học Văn hóa Hà Nội (chuyên ngành Quản lý văn hóa), Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Trƣờng Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch. Các giáo trình đã đề cập tới nội dung của quản lý lĩnh vực văn hóa nhƣ quản lý đời sống văn hóa ở cơ sở, môi trƣờng bảo tồn DSVH, giao lƣu quốc tế… Tuy nhiên, đây là các giáo trình mang tính đại cƣơng, cơ bản, cung cấp những vấn đề quản lý về các lĩnh vực văn hóa. Vấn đề QLVH trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay cũng 16 đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Tiêu biểu là các bài viết trong cuốn Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của nhiều tác giả do Nguyễn Chí Bền làm chủ biên [7].
Cuốn sách đã phác họa bức tranh toàn cảnh về nền văn hóa Việt Nam theo dòng chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện tại với mọi mặt của đời sống văn hóa, xã hội; đề cập đến hiện trạng và những tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đối với các thành tố của nền văn hóa dân tộc. Bàn sâu hơn và hệ thống những vấn dề liên quan đến QLVH trong bối cảnh hội nhập phải kể đến công trình Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế do Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn chủ biên [34]. Các tác giả đã giới thiệu những quan điểm chung về QLVH trong bối cảnh nƣớc ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, giới thiệu kinh nghiệm QLVH của một số quốc gia trên thế giới. Nội dung chính của cuốn sách tập trung đánh giá thực trạng QLVH ở Việt Nam từ khi bắt đầu tiến trình đổi mới năm 1986, từ đó đề xuất những giải pháp, khuyến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao năng lực và hiệu quả QLVH Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế.
Công trình Về lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới của tác giả Nguyễn Duy Bắc [6] đã tuyển chọn các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo chính trị và bài viết của nhiều nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nƣớc (Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mƣời, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh…) về xây dựng, phát triển văn học nghệ thuật cùng các bài viết của nhiều nhà nghiên cứu nhƣ Hồ Sĩ Vịnh, Nguyễn Duy Bắc, Phạm Duy Đức, Phan Cự Đệ, Trần Văn Bính, Từ Sơn, Trần Đình Sử lại đƣa đến nhiều góc nhìn, nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh chủ đề lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới. Hai tác giả Đào Thị Hoàn và Nguyễn Phƣơng Chi trong bài viết “Đổi mới quản lý phát triển văn hóa - kết quả và giải pháp nâng cao” [114] cho rằng: Phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần đƣợc xác định là một trong ba trụ cột của sự nghiệp đổi mới phát triển đất nƣớc. Sau gần ba mƣơi năm đổi mới, văn hoá Việt Nam đã có những biến đổi sâu sắc. Đời sống văn hoá Việt đã phát triển lên một tầm cao mới, đa dạng và phong phú, các loại hình văn hoá - nghệ thuật truyền thống đƣợc bảo tồn và 17 phát huy, đồng thời, các loại hình văn hoá - nghệ thuật của thế giới đƣợc tiếp thu rộng rãi, quyền tự do văn hoá đƣợc mở rộng.
Đạt đƣợc những kết quả quan trọng đó, một trong những nhân tố quyết định là sự đổi mới quản lý phát triển văn hóa. Để làm rõ hơn nhận định đó, các tác giả đề cập đến ba vấn đề: 1) Đổi mới tƣ duy. 2) Vai trò tích cực của QLVH trong việc xây dựng văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa với sự hội nhập nhanh chóng của nền kinh tế - xã hội và văn hóa. 3) Thực hiện một số nội dung nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động văn hóa, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời gian tới.
Tiêu biểu cho hƣớng nghiên cứu xem Nhà nƣớc là chủ thể quan trọng trong điều tiết, định hƣớng phát triển văn hóa và thị trƣờng văn hóa là công trình nghiên cứu cấp Bộ Nghiên cứu các giải pháp quản lý nhà nước nhằm phát triển thị trường văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế [22] do Đinh Thị Vân Chi làm chủ nhiệm. Với mục tiêu chính là đánh giá hiện trạng QLNN đối với thị trƣờng văn hóa, phân tích nguyên nhân của những mặt hạn chế yếu kém, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp QLNN nhằm phát triển thị trƣờng văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Công trình Một số kinh nghiệm quản lý và hoạt động tư tưởng - văn hóa của tác giả Nguyễn Hữu Thức [82]; “Bàn về nhà nƣớc - Chủ thể quản lý văn hóa trong phát triển hiện nay” của tác giả Nguyễn Thu Linh [43]; “Tăng cƣờng công tác quản lý nhà nƣớc về văn hóa hiện nay” của tác giả Hoàng Tuấn Anh [2]. lại có cùng cái nhìn trực diện vấn đề vai trò quan trọng của Nhà nƣớc trong công tác quản lý, tác động đối với sự phát triển của văn hóa.
Trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội hiện nay, việc xây dựng và phát triển nền văn hóa không thể và không chỉ là nhiệm vụ của riêng một bộ, ngành nào mà là nhiệm vụ chung của toàn xã hội. Để làm đƣợc điều đó, nhà nƣớc phải là chủ thể điều tiết, định hƣớng phát triển, trong đó coi trọng các chính sách văn hóa, xác định mục tiêu, hƣớng ƣu tiên cụ thể của chính sách văn hóa. Đặc biệt, bài viết của các tác giả Hoàng Tuấn Anh, Nguyễn Hữu Thức còn mang tính đánh giá thực tiễn, đề xuất giải pháp nâng cao vai trò, năng lực của Nhà nƣớc trong quản lý các hoạt động văn hóa từ kinh nghiệm thực tiễn của chính tác giả. Có không ít nghiên cứu tập trung vào chính sách văn hóa, tiêu biểu có 18 “Chính sách văn hóa - điều kiện khung của quản lý văn hóa” của tác giả Nguyễn Tri Nguyên [50].
Tác giả cho rằng, một chính sách văn hóa tốt và có hiệu lực xã hội rộng lớn phải làm sao cho sự phát triển văn hoá thấm sâu vào tâm hồn và đánh thức tiềm năng của con ngƣời, cộng đồng. Muốn đạt đƣợc mục tiêu cao cả đó chúng ta cần đổi mới tƣ duy văn hóa, biến nó thành nguồn lực nội sinh của quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Bởi, trong bối cảnh toàn cầu hoá, sự tác động và ảnh hƣởng của kinh tế thị trƣờng, của quá trình CNH, HĐH thúc đẩy hội nhập văn hoá diễn ra mạnh mẽ và rộng khắp, sự tác động qua lại và chuyển giao văn hoá có ảnh hƣởng rất đáng kể tới phong cách sống của con ngƣời và sự sáng tạo văn hoá, chấp nhận khuynh hƣớng đa dạng hoá văn hóa nghệ thuật. Những đổi mới quy trình sáng tạo văn hoá cũng đòi hỏi đổi mới thể chế và chính sách văn hoá ở nƣớc ta.
Sự đổi mới chính sách văn hóa diễn ra trên nhiều phƣơng diện: xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về văn hóa; phƣơng thức hoạt động, phƣơng thức sản xuất kinh doanh của các đơn vị sự nghiệp văn hoá, các DN và các cá nhân hoạt động văn hóa; hoạt động tự quản về văn hóa của các cộng đồng dân cƣ và phát huy vai trò của các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội, nghề nghiệp và cá nhân trong hoạt động văn hóa (xã hội hóa hoạt động văn hóa); xây dựng các thiết chế văn hoá ở Trung ƣơng và địa phƣơng. Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Tình về Chính sách văn hóa trên thế giới và việc hoàn thiện chính sách văn hóa ở Việt Nam [84] lại tập trung trình bày chính sách của một số nƣớc phát triển trong khu vực và trên thế giới; đánh giá tình hình thực thi chính sách văn hóa Việt Nam và đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách văn hóa ở Việt Nam. Luận án Tiến sĩ Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ của tác giả Bùi Hoài Sơn [60] lại mang đến một góc nhìn khác về công tác quản lý lễ hội truyền thống Việt Nam trong một phạm vi không gian nhất định.