Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý văn hóa (mã số: 9319042) của nghiên cứu sinh Phạm Phương Thùy, thực hiện tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Hoài Sơn (năm 2021), tập trung giải quyết vấn đề quản lý nhà nước đối với thị trường âm nhạc trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Bối cảnh và tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ các định hướng phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nước Việt Nam:
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1998) nhấn mạnh tiềm năng kinh tế trong phát triển văn hóa, gắn kết kinh tế với văn hóa.
- Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (2008) khẳng định sự tồn tại của thị trường hàng hóa và dịch vụ văn hóa.
- Nghị quyết số 33-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (2014) xác định mục tiêu "xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, tăng cường quảng bá văn hóa Việt Nam", nhiệm vụ "phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa" và giải pháp "nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa".
- Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (ban hành năm 2016) xác định âm nhạc thuộc ngành công nghiệp nghệ thuật biểu diễn - một trong 12 phân ngành công nghiệp văn hóa.
Thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh - trung tâm văn hóa và giải trí lớn nhất cả nước - cho thấy thị trường âm nhạc diễn ra sôi động nhưng bộc lộ nhiều hạn chế: hàng hóa, dịch vụ chưa đa dạng, chất lượng nghệ thuật chưa đồng đều; nhiều tài năng chưa phát huy được năng lực sáng tạo; kỹ năng quản trị kinh doanh còn yếu; công nghệ số chưa được ứng dụng đồng bộ; năng lực cảm thụ của một bộ phận công chúng còn thấp; nhiều đơn vị nghệ thuật công lập còn trông chờ vào bao cấp. Nguyên nhân cơ bản nằm ở những bất cập trong bộ máy và cơ chế quản lý nhà nước: tư duy quản lý còn mang dấu ấn bao cấp, hành chính - mệnh lệnh; cơ chế quản lý mang tính tập quyền; chính sách ít xuất phát từ thực tiễn cơ sở; nhân lực quản lý thiếu kỹ năng quản trị thị trường; mức đầu tư chưa tương xứng.
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về thị trường âm nhạc ở Thành phố Hồ Chí Minh, luận án đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý lĩnh vực này, đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thị trường âm nhạc và quản lý nhà nước đối với thị trường âm nhạc; xác định các quan điểm và lý thuyết nghiên cứu.
- Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với thị trường âm nhạc ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 - 2020.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với thị trường âm nhạc tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Công tác quản lý nhà nước đối với thị trường âm nhạc ở Thành phố Hồ Chí Minh đang được tổ chức thực hiện như thế nào?
- Để xây dựng thị trường âm nhạc lành mạnh, các cơ quan quản lý nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh cần phải làm gì?
Giả thuyết nghiên cứu:
- Công tác quản lý nhà nước chưa theo kịp sự phát triển của thị trường âm nhạc ở Thành phố Hồ Chí Minh.
- Cần có sự đổi mới trong giải pháp quản lý để tạo môi trường cho sự phát triển và hoàn thiện, hướng tới một thị trường âm nhạc lành mạnh ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý nhà nước đối với thị trường âm nhạc ở Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2020 (từ khi ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW).
- Phạm vi không gian: Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước dưới góc độ quản lý các chủ thể tham gia thị trường gồm người sáng tác (nhạc sĩ), người biểu diễn (ca sĩ), đơn vị tổ chức biểu diễn/sản xuất và công chúng. Loại hình âm nhạc được tập trung xem xét là âm nhạc đại chúng, chủ yếu ở phương diện ca khúc. Thị trường âm nhạc giới hạn ở các chương trình ca múa nhạc biểu diễn trực tiếp tại sân khấu (không đi sâu vào băng đĩa nhạc, nhạc trực tuyến, phát thanh, truyền hình và internet).
- Đối tượng khảo sát thực địa:
- Nhóm nghệ sĩ, nhà tổ chức: 02 đơn vị công lập (Trung tâm Ca nhạc nhẹ Thành phố, Nhà hát ca múa nhạc Dân tộc Bông Sen); 06 đơn vị ngoài công lập (Công ty TNHH Tổ chức biểu diễn Phiêu Linh, Công ty Cổ phần Âm nhạc Song May, KOD Music School & Studio, Công ty Âm thanh Ánh sáng Xuyên Việt, Công ty Giải trí RBW Việt Nam, Phòng trà WE); các nghệ sĩ sáng tác, biểu diễn độc lập (không khảo sát nghệ sĩ Việt kiều).
- Nhóm chủ thể quản lý: Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh; Phòng Văn hóa và Thông tin của 15/24 quận, huyện; Ban Văn hóa - Xã hội của các phường thuộc 15 quận, huyện khảo sát.
- Nhóm công chúng âm nhạc: Người dân sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật hệ thống tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước theo các nhóm chủ đề chuyên biệt:
Các công trình nghiên cứu nước ngoài:
- Nhóm nghiên cứu về công chúng và thị trường nghệ thuật: Helen Close và Robert Donovan (1998) với Who is my market? A guide to researching audience and visitors in the arts cung cấp phương pháp nghiên cứu khán giả; Harry Hillman, Joni Maya Cherbo và Margaret Jane Wyszomirski (2000) với The Public Life of the Arts in America (Nxb Rutgers University Press) phân tích mối quan hệ cung - cầu và vai trò trợ cấp của chính sách công đối với văn hóa nghệ thuật.
- Nhóm nghiên cứu về quản trị nhà hát và quản lý nghệ sĩ: Tess Collins (2003) với How Theater Managers Manage tổng hợp kỹ năng quản trị sân khấu thương mại và phi lợi nhuận; Duncan Webb (2005) với Running Theaters: Best Practices for Leaders and Managers khảo sát kinh nghiệm của hơn 100 nhà quản lý biểu diễn; Paul Allen (2007) với Artist Management for the Music Business phân tích quy trình phát triển sự nghiệp và tạo thu nhập cho nghệ sĩ; Tobie S. Stein và Jessica Rae Bathurst với Performing Arts Management: A Handbook of Professional Practices hướng dẫn các khâu quản lý tài chính, gây quỹ và vận hành tổ chức biểu diễn.
- Nhóm nghiên cứu về chính sách kinh tế văn hóa và quản lý nghệ thuật: David Throsby (2010) với The Economics of Cultural Policy (Cambridge University Press) ứng dụng lý thuyết kinh tế vào hoạch định chính sách công nghiệp văn hóa và cơ chế tự chủ; Derrick Chong (2010) với Arts Management (second edition) xem xét các mô hình quản lý nghệ thuật, cam kết thẩm mỹ và lý thuyết của Pierre Bourdieu về sự hình thành thị hiếu công chúng.
Các công trình nghiên cứu trong nước:
- Nghiên cứu về kinh tế văn hóa và công nghiệp văn hóa: Lê Ngọc Tòng (2004, tái bản 2015) với Một số nghiên cứu bước đầu về kinh tế học văn hóa; Nguyễn Tiến Mạnh (2013) với tham luận Tiêu dùng văn hóa - một lĩnh vực cần nghiên cứu trong vấn đề quản lý văn hóa Việt Nam hiện nay; Phạm Bích Huyền và Đặng Hoài Thu (2009, 2014) với giáo trình Các ngành công nghiệp văn hóa; Đề tài cấp Bộ của Nguyễn Thị Hương (2009) về Phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp; Nguyễn Thị Kim Liên (2015) với Công nghiệp văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (Qua khảo sát một số lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn); Phạm Hồng Thái (chủ biên, 2015) với Phát triển công nghiệp văn hóa ở Nhật Bản và Hàn Quốc; Từ Thị Loan (chủ biên, 2017) với Phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam.
- Nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với văn hóa: Giáo trình của Học viện Hành chính (2003) về Quản lý nhà nước về văn hóa - giáo dục - y tế; Lê Thanh Bình (2009) với Một số vấn đề về quản lý nhà nước, kinh tế, văn hóa, giáo dục trên thế giới và Việt Nam; Đỗ Xuân Định (1994) với luận án Lãnh đạo và quản lý văn hóa văn nghệ trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nguyễn Tri Nguyên (2004) với Những bài giảng về quản lý văn hoá trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Dự án Quỹ Ford (2000-2004) về Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa - nghệ thuật trong bối cảnh nền kinh tế thị trường; Phạm Duy Đức (chủ nhiệm đề tài KX04-13/06-10, 2010) với Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020: Những vấn đề phương pháp luận; Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn (2012) với Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế; Lưu Trần Tiêu, Phan Hồng Giang và Nguyễn Chí Bền (2009) trong Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020.
- Nghiên cứu về thị trường văn hóa, nghệ thuật biểu diễn và âm nhạc: Nguyễn Thị Hương (2006) với đề tài Thị trường văn hóa phẩm ở nước ta, hiện trạng và giải pháp; Đinh Thị Vân Chi (2015) với đề tài Nghiên cứu các giải pháp quản lý nhà nước nhằm phát triển thị trường văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế; Phan Minh Phụng (2008) với đề tài cấp Sở Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động ca nhạc tại Tp. Hồ Chí Minh; Trần Trọng Đăng Đàn với bài viết Đời sống ca nhạc tại thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Thị Mỹ Liêm với bài viết Đào tạo người nghe - điểm “xuất phát” hay “đích đến” của âm nhạc; Lê Đỗ Quỳnh Hương với nghiên cứu về Thị hiếu khán giả truyền hình Tp. Hồ Chí Minh qua một số chương trình ca nhạc trên sóng HTV; Nguyễn Thị Minh Châu (2014) với Âm nhạc thời kinh tế thị trường và thời hội nhập; Trần Long Ẩn (2011) với tham luận Thực trạng âm nhạc thành phố Hồ Chí Minh và một số giải pháp; Nguyễn Thị Hằng (2016) với đề tài Quản lý nhà nước trên lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp; Phạm Ngọc Hiền với luận án tiến sĩ Nghệ thuật đạo diễn chương trình ca múa nhạc tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Khoảng trống nghiên cứu:
Các công trình quốc tế chủ yếu tập trung vào kỹ năng quản trị vi mô tại các tổ chức biểu diễn hoặc phân tích chính sách công chung, chưa đi sâu vào mô hình quản lý thị trường âm nhạc dưới sự điều tiết của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Các công trình trong nước phần lớn tiếp cận ở tầm vĩ mô, nghiên cứu văn hóa biểu diễn nói chung hoặc dừng lại ở việc khảo sát ca nhạc trước năm 2008. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về quản lý nhà nước đối với thị trường âm nhạc dưới góc độ liên ngành (quản lý - kinh tế - văn hóa) trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Hệ thống khái niệm cơ bản:
- Âm nhạc: Luận án tiếp cận âm nhạc dưới góc độ văn hóa và kinh tế học; âm nhạc là loại sản phẩm văn hóa chứa đựng các giá trị tinh thần, được kết cấu theo một logic và thủ pháp nghệ thuật nhất định, được sáng tạo và sản xuất ra để trao đổi nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người và hướng con người tới giá trị Chân - Thiện - Mỹ.
- Âm nhạc đại chúng: Thuật ngữ chỉ các loại nhạc dễ nghe, có tính phổ biến, phù hợp với thị hiếu của đông đảo công chúng trong một giai đoạn nhất định, không mang tính kinh điển hay hàn lâm thuần túy.
- Thị trường âm nhạc: Nơi diễn ra hoạt động trao đổi, mua bán các sản phẩm và dịch vụ âm nhạc; ở đó nhu cầu của bên cung (nhạc sĩ, ca sĩ, nhà sản xuất) và bên cầu (công chúng) được thỏa mãn thông qua quá trình tương tác theo các quy luật kinh tế thị trường và sự điều tiết của nhà nước.
- Thị trường âm nhạc lành mạnh: Thị trường vận hành đáp ứng các tiêu chuẩn về mặt tư tưởng, thẩm mỹ, tuân thủ pháp luật, bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ, hài hòa giữa giá trị văn hóa nghệ thuật và hiệu quả kinh tế.
Khung phân tích lý thuyết:
Luận án kết hợp hai lý thuyết nền tảng cùng định hướng của Nghị quyết số 33-NQ/TW:
- Quan điểm quản lý theo quá trình (Management by process) của Harold Koontz: Tiếp cận công tác quản lý nhà nước như một chu trình gồm 4 chức năng cốt lõi: Hoạch định $\rightarrow$ Tổ chức $\rightarrow$ Điều khiển/Điều tiết $\rightarrow$ Kiểm tra/Kiểm soát.
- Lý thuyết vốn văn hóa (Cultural Capital) của Pierre Bourdieu: Phân tích cơ chế tác động của vốn văn hóa ở ba trạng thái (thể hiện/nhập thân, vật thể hóa, thể chế hóa). Vốn văn hóa vận hành qua hai con đường: nhập vào (thị hiếu, sở thích, năng lực tiếp nhận) và xuất ra (sáng tác, biểu diễn, phương thức quản lý). Vốn văn hóa của cán bộ quản lý quyết định chất lượng thẩm định và hoạch định; vốn văn hóa của nghệ sĩ chi phối chất lượng sản phẩm; vốn văn hóa của công chúng định hình nhu cầu thị trường.
Khung phân tích vận hành theo mô hình: Chủ thể quản lý (cơ quan quản lý nhà nước) thực hiện chu trình quản lý (hoạch định, tổ chức, điều tiết, kiểm tra) tác động lên các đối tượng (nhạc sĩ, ca sĩ, đơn vị tổ chức biểu diễn, công chúng, sản phẩm/dịch vụ âm nhạc) nhằm mục tiêu xây dựng thị trường âm nhạc lành mạnh; quá trình này được củng cố và tái tạo liên tục thông qua sự tích lũy vốn văn hóa của toàn xã hội.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Thu thập và xử lý các văn bản pháp quy, báo cáo tổng kết của ngành văn hóa, các công trình khoa học đã xuất bản.
- Phương pháp so sánh: Đánh giá sự khác biệt giữa phương thức quản lý biểu diễn trực tiếp trên sân khấu và phát hành gián tiếp, giữa các mô hình quản lý trong nước và quốc tế.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn đại diện Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh, lãnh đạo các đơn vị nghệ thuật công lập, giám đốc các doanh nghiệp giải trí tư nhân, nhà sản xuất âm nhạc, nhạc sĩ và người quản lý nghệ sĩ.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thực hiện khảo sát trực tiếp (tại phố đi bộ Nguyễn Huệ, công viên Tao Đàn, Nhà hát Hòa Bình, Nhà hát Thành phố, Phòng trà WE, trụ sở cơ quan quản lý) và khảo sát trực tuyến qua đường link biểu mẫu.
| Nhóm đối tượng điều tra |
Phương pháp chọn mẫu |
Số phiếu phát |
Số phiếu thu |
Số phiếu hợp lệ |
| Công chúng âm nhạc |
Phi xác suất (chọn mẫu thuận tiện) |
385 |
380 |
328 |
| Chủ thể quản lý (Sở, Phòng, Ban VH) |
Xác suất (ngẫu nhiên đơn giản 15/24 quận/huyện) kết hợp phi xác suất |
250 |
250 |
240 |
| Đối tượng hoạt động âm nhạc (Nghệ sĩ, đơn vị TCBD) |
Phi xác suất (chọn mẫu thuận tiện) |
370 |
350 |
316 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về thị trường âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận, tổng quan tài liệu và phác thảo diện mạo lịch sử cùng đặc điểm vận động của thị trường âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh qua các thời kỳ:
- Tiến trình phát triển: Giai đoạn trước 1975 hình thành dòng nhạc tình ca, nhạc vàng bolero và phong trào "nhạc trẻ Sài Gòn" (khởi xướng từ các Đại hội Nhạc trẻ tại trường La San Taberd năm 1964 và sân Hoa Lư năm 1971). Sau năm 1975, dòng nhạc cách mạng, ca khúc truyền thống giữ vai trò chủ đạo. Từ Đại hội VI (1986) và sự kiện giải thưởng Làn Sóng Xanh (1996), trào lưu nhạc trẻ phát triển bùng nổ, kéo theo sự hình thành thị trường V-pop từ cuối những năm 2000.
- Đặc điểm sản phẩm và dịch vụ: Khảo sát cho thấy thể loại ca khúc chiếm ưu thế tuyệt đối do thói quen nghe "âm nhạc có lời" của người Việt Nam. Hàng năm, Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh cấp phép công diễn trung bình khoảng 500 chương trình biểu diễn ca múa nhạc và thời trang (trong đó hơn 400 chương trình thuần túy âm nhạc).
- Đội ngũ nghệ sĩ và đơn vị biểu diễn: Lao động hoạt động trong lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật tăng từ 1.314 người (năm 2010) lên 1.552 người (năm 2015) và đạt 3.759 người (năm 2019). Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 425 hội viên sinh hoạt tại 10 chi hội trực thuộc. Thành phố có 07 đơn vị nghệ thuật công lập, 01 Trung tâm Tổ chức biểu diễn và Điện ảnh, cùng gần 700 doanh nghiệp đăng ký chức năng biểu diễn nghệ thuật (khoảng 100 đơn vị hoạt động thường xuyên). Doanh thu ngành nghệ thuật biểu diễn tăng từ 532.651 triệu đồng (năm 2010) lên 799.017 triệu đồng (năm 2015) và đạt trên 1.000 tỷ đồng (năm 2019), trong đó khối ngoài công lập chiếm tỷ trọng áp đảo.
- Thống kê hoạt động biểu diễn của các đơn vị công lập:
| Đơn vị công lập |
Năm 2014 |
Năm 2016 |
Năm 2018 |
Năm 2020 |
| Nhà hát ca múa nhạc Dân tộc Bông Sen (suất diễn) |
125 |
97 |
109 |
101 |
| Trung tâm Ca nhạc nhẹ Thành phố (suất diễn) |
96 |
68 |
68 |
65 |
- Thực trạng các đơn vị ngoài công lập: Công ty Phiêu Linh tổ chức 3-5 chương trình/năm, doanh thu giai đoạn 2014-2018 đạt trung bình 3 tỷ đồng/năm (năm 2019-2020 giảm còn gần 1 tỷ đồng do dịch Covid-19); Công ty Xuyên Việt đạt doanh thu 6-8 tỷ đồng/năm giai đoạn 2014-2018; Phòng trà WE giảm tần suất diễn từ biểu diễn hàng đêm xuống còn 2-3 suất/tuần (tập trung tối thứ Sáu, thứ Bảy, Chủ nhật) do sự cạnh tranh từ mô hình beer club; Công ty KOD chuyển dịch từ đào tạo sang sản xuất chương trình với doanh thu 1 tỷ đồng (năm 2019) và 300-400 triệu đồng (năm 2020).
- Thị hiếu công chúng: Kết quả điều tra chỉ ra ca nhạc là loại hình giải trí xếp thứ 2 trong lựa chọn của người dân thành phố. Tiêu chí chọn chương trình theo ca sĩ biểu diễn chiếm 35,3% ở nhóm dưới 18 tuổi và 31,3% ở nhóm 18-35 tuổi, cho thấy xu hướng "xem" lấn át "nghe". Về thể loại, giới trẻ ưu tiên nhạc trẻ và nhạc ngoại quốc, trong khi dòng nhạc bolero có sự phục hồi mạnh mẽ ở các nhóm tuổi từ 18 trở lên. Ngược lại, các dòng nhạc truyền thống cách mạng, thính phòng có tỷ lệ người xem rất thấp.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về thị trường âm nhạc ở Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 2 đi sâu phân tích thực trạng công tác quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 - 2020 theo 4 nội dung chính:
- Chủ thể và nguồn lực quản lý: Phân tích cơ cấu tổ chức bộ máy từ Sở Văn hóa và Thể thao đến Phòng Văn hóa và Thông tin quận/huyện và Ban Văn hóa - Xã hội phường/xã. Đánh giá trình độ chuyên môn, năng lực quản lý kinh tế văn hóa và mức độ đáp ứng của đội ngũ công chức, viên chức. Nguồn lực tài chính đầu tư cho các thiết chế âm nhạc công lập còn hạn chế, cơ sở vật chất kỹ thuật chưa theo kịp yêu cầu phát triển của công nghệ biểu diễn hiện đại.
- Thực trạng chính sách, pháp luật: Đánh giá quá trình thể chế hóa các nghị quyết của Đảng thành văn bản quy phạm pháp luật tại địa phương; xem xét việc thực thi các quy định về cấp phép biểu diễn, quyền tác giả và quyền liên quan (vai trò của Trung tâm Bảo vệ Quyền tác giả Âm nhạc Việt Nam - VCPMC), chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa nghệ thuật. Phân tích những điểm bất cập, mâu thuẫn giữa các văn bản quy định và thực tiễn hoạt động sân khấu ca nhạc.
- Thực trạng các hoạt động quản lý: Phân tích quy trình cấp phép tiếp nhận biểu diễn nghệ thuật, công tác thẩm định nội dung chương trình biểu diễn, quản lý các chương trình nghệ thuật có yếu tố nước ngoài, quản lý hoạt động biểu diễn tại các phòng trà, tụ điểm ca nhạc và hội chợ thương mại.
- Thực trạng thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm: Đánh giá số liệu thanh tra chuyên ngành, các hành vi vi phạm phổ biến (hát nhép, biểu diễn tác phẩm chưa được cấp phép, vi phạm quyền tác giả, trang phục biểu diễn không phù hợp thuần phong mỹ tục, quảng cáo sai sự thật), số tiền xử phạt vi phạm hành chính và mức độ chấp hành quyết định xử phạt của các tổ chức, cá nhân.
- Đánh giá chung: Nêu bật những kết quả đạt được trong việc giữ vững định hướng chính trị tư tưởng, tạo hành lang pháp lý cho các đơn vị tư nhân tham gia thị trường; đồng thời chỉ rõ những yếu kém: cơ chế quản lý còn nặng tính hành chính - cấp phép, phương thức quản lý bị động, thanh tra kiểm tra còn hình thức, thiếu chế tài đủ mạnh đối với vi phạm bản quyền và sai phạm trên sân khấu.
Chương 3: Giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với thị trường âm nhạc ở Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 xây dựng hệ thống giải pháp xuất phát từ các căn cứ thực tiễn và định hướng phát triển công nghiệp văn hóa:
- Căn cứ đề xuất: Định hướng phát triển văn hóa của Đảng tại Nghị quyết số 33-NQ/TW; Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam; Đề án phát triển ngành công nghiệp văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh; bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu thế hội nhập quốc tế.
- Các nhóm giải pháp cụ thể:
- Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật: Rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong cấp phép biểu diễn; hoàn thiện khung pháp lý về bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan trong hoạt động biểu diễn; xây dựng cơ chế ưu đãi về thuế, đất đai để thu hút đầu tư tư nhân vào hạ tầng biểu diễn âm nhạc.
- Đổi mới tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng nguồn lực quản lý: Tinh gọn bộ máy quản lý nhà nước, chuyển dần từ mô hình quản lý tháp sang mô hình quản lý phẳng hoặc mô hình quản lý tích hợp; đào tạo, bồi dưỡng kiến thức kinh tế học văn hóa, quản trị kinh doanh nghệ thuật và công nghệ số cho đội ngũ cán bộ ngành văn hóa; nâng cao "vốn văn hóa" cho chủ thể quản lý.
- Đổi mới phương thức quản lý và tăng cường ứng dụng công nghệ: Chuyển đổi phương thức quản lý từ "tiền kiểm" sang kết hợp chặt chẽ giữa "tiền kiểm" và "hậu kiểm"; ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp nhận hồ sơ, giám sát biểu diễn và quản lý dữ liệu nghệ sĩ, chương trình; nâng cao hiệu lực hoạt động của thanh tra chuyên ngành văn hóa.
- Nâng cao năng lực định hướng thẩm mỹ và phát triển công chúng: Đưa giáo dục âm nhạc và thẩm mỹ nghệ thuật vào trường học; tổ chức các chương trình âm nhạc đỉnh cao, âm nhạc dân tộc có trợ giá; định hướng truyền thông xây dựng thị hiếu lành mạnh cho giới trẻ nhằm tích lũy vốn văn hóa cho công chúng.
- Đẩy mạnh xã hội hóa và liên kết các chủ thể thị trường: Xây dựng mối quan hệ đối tác công - tư (PPP) trong việc tổ chức các festival âm nhạc quốc tế; hỗ trợ các đơn vị công lập chuyển đổi cơ chế tự chủ tài chính; tạo điều kiện liên kết giữa đơn vị sáng tác, sản xuất, nhà tài trợ và các hội nghề nghiệp (Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận:
- Luận án góp phần hệ thống hóa và hoàn thiện cơ sở lý luận về thị trường âm nhạc và quản lý nhà nước đối với thị trường âm nhạc dưới góc độ quản lý các chủ thể tham gia thị trường (người sáng tác, người biểu diễn, đơn vị tổ chức sản xuất và công chúng).
- Luận án ứng dụng cách tiếp cận liên ngành (quản lý học, kinh tế học văn hóa, xã hội học nghệ thuật), tích hợp quan điểm quản lý theo quá trình của Harold Koontz và lý thuyết vốn văn hóa của Pierre Bourdieu để xây dựng khung phân tích, đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước đối với một lĩnh vực nghệ thuật cụ thể.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Luận án nhận diện, phân tích và cung cấp hệ thống số liệu khảo sát thực tế về thực trạng hoạt động quản lý thị trường âm nhạc của hệ thống cơ quan nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 - 2020 trên các phương diện: hoạch định, tổ chức, điều khiển và kiểm tra.
- Khảo sát toàn diện về cung - cầu của thị trường âm nhạc biểu diễn trực tiếp tại Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ ra các chuyển dịch về thị hiếu của công chúng và doanh thu, suất diễn của các đơn vị công lập cũng như ngoài công lập.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, có tính ứng dụng thực tế nhằm đổi mới mô hình quản lý, hoàn thiện chính sách bản quyền, nâng cao năng lực chủ thể quản lý và phát triển thị trường âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng lành mạnh, chuyên nghiệp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Nghiên cứu chỉ tập trung vào thị trường các chương trình ca múa nhạc biểu diễn trực tiếp trên sân khấu (chủ yếu là thể loại ca khúc thuộc âm nhạc đại chúng), chưa bao quát thị trường phát hành âm nhạc số, nhạc trực tuyến, phát thanh, truyền hình và thị trường băng đĩa.
- Đối tượng khảo sát nghệ sĩ chỉ giới hạn ở các cá nhân đang sinh sống, hoạt động trong nước tại Thành phố Hồ Chí Minh, chưa mở rộng khảo sát lực lượng nghệ sĩ Việt kiều tham gia thị trường âm nhạc tại thành phố.
- Khảo sát thực địa tại các đơn vị nghệ thuật và công chúng chịu ảnh hưởng bởi giai đoạn bùng phát dịch Covid-19 trong năm 2020, làm gián đoạn một số hoạt động biểu diễn trực tiếp.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang thị trường âm nhạc số, phân phối trực tuyến qua các nền tảng xuyên biên giới và vấn đề quản lý bản quyền âm nhạc trên không gian mạng.
- Nghiên cứu công tác quản lý đối với các loại hình âm nhạc khí nhạc, âm nhạc hàn lâm, âm nhạc cổ truyền và các festival âm nhạc ngoài trời quy mô lớn.
- Khảo sát chuyên sâu về vai trò và sự đóng góp của lực lượng nghệ sĩ hải ngoại, các tập đoàn giải trí quốc tế đối với sự phát triển của công nghiệp âm nhạc tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo đối với nhiều đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn và căn cứ khoa học cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh trong việc xây dựng đề án phát triển công nghiệp văn hóa, sửa đổi các quy định pháp luật về biểu diễn nghệ thuật và hoàn thiện cơ chế thanh tra, cấp phép.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh các chuyên ngành Quản lý văn hóa, Chính sách văn hóa, Quản trị nghệ thuật và Kinh tế văn hóa tại các trường đại học, viện nghiên cứu.
- Các doanh nghiệp và đơn vị biểu diễn: Giúp các nhà hát, công ty tổ chức sự kiện, đơn vị sản xuất âm nhạc và người quản lý nghệ sĩ nắm bắt các quy định quản lý nhà nước, nhận diện xu hướng thị hiếu công chúng để xây dựng chiến lược kinh doanh biểu diễn phù hợp.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thị trường âm nhạc ở những nội dung cụ thể nào?
Luận án tập trung nghiên cứu thị trường các chương trình ca múa nhạc biểu diễn trực tiếp tại sân khấu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 - 2020. Luận án chỉ xem xét âm nhạc đại chúng ở phương diện ca khúc, quản lý các chủ thể tham gia thị trường (nhạc sĩ, ca sĩ, đơn vị tổ chức biểu diễn, công chúng) và không nghiên cứu thị trường băng đĩa, nhạc trực tuyến, truyền hình, phát thanh hay internet.
2. Luận án sử dụng những khung lý thuyết nào để phân tích công tác quản lý nhà nước?
Luận án kết hợp quan điểm quản lý theo quá trình của Harold Koontz (với 4 chức năng: hoạch định, tổ chức, điều khiển/điều tiết, kiểm tra/kiểm soát) và lý thuyết vốn văn hóa của Pierre Bourdieu (với các hình thức biểu hiện, vật thể, thể chế hóa và hai con đường nhập vào - xuất ra), đặt dưới mục tiêu xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh theo Nghị quyết số 33-NQ/TW.
3. Cơ cấu mẫu khảo sát thực địa của luận án được thực hiện với quy mô ra sao?
Tác giả đã thu về số phiếu hợp lệ từ 3 nhóm: nhóm công chúng âm nhạc gồm 328 phiếu hợp lệ (chọn mẫu thuận tiện trong tổng số 380 phiếu thu về); nhóm chủ thể quản lý gồm 240 phiếu hợp lệ (chọn mẫu ngẫu nhiên 15/24 quận/huyện kết hợp mẫu thuận tiện từ 250 phiếu thu về); nhóm đối tượng hoạt động âm nhạc gồm 316 phiếu hợp lệ (chọn mẫu thuận tiện từ 350 phiếu thu về). Ngoài ra, tác giả phỏng vấn sâu tại 02 đơn vị công lập, 06 đơn vị tư nhân và cơ quan quản lý Sở Văn hóa và Thể thao.
4. Khảo sát của luận án cho thấy tiêu chí lựa chọn chương trình ca nhạc của công chúng trẻ có đặc điểm gì?
Kết quả khảo sát chỉ ra rằng công chúng trẻ có xu hướng chọn chương trình theo ca sĩ biểu diễn (chiếm 35,3% ở nhóm dưới 18 tuổi và 31,3% ở nhóm 18-35 tuổi), phản ánh xu hướng "thần tượng" và thị hiếu thiên về phần xem hơn phần nghe. Về thể loại, nhóm dưới 35 tuổi ưa chuộng nhạc trẻ và nhạc nước ngoài, trong khi các dòng nhạc cách mạng, thính phòng truyền thống có tỷ lệ quan tâm rất thấp.
5. Luận án đề xuất chuyển đổi mô hình tổ chức bộ máy quản lý nhà nước như thế nào?
Luận án đề xuất kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý ngành văn hóa, chuyển dần từ mô hình quản lý dạng tháp (nhiều tầng nấc trung gian, mang nặng tính hành chính mệnh lệnh) sang mô hình quản lý phẳng hoặc mô hình quản lý tích hợp, nhằm tăng cường khả năng phản ứng linh hoạt trước biến động của thị trường âm nhạc và thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong khâu quản lý.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Phương Thùy là công trình nghiên cứu hệ thống về công tác quản lý nhà nước đối với thị trường âm nhạc biểu diễn trực tiếp tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2014 - 2020. Bằng việc kết hợp lý thuyết quản lý theo quá trình của Harold Koontz và lý thuyết vốn văn hóa của Pierre Bourdieu, luận án đã làm rõ cơ sở lý luận, phân tích thực trạng quản lý các chủ thể thị trường và chỉ ra các rào cản về cơ chế, chính sách, nguồn lực tại địa phương. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án mang tính toàn diện, gắn kết giữa hoàn thiện thể chế, đổi mới mô hình tổ chức bộ máy, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và định hướng thị hiếu thẩm mỹ công chúng, góp phần thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của thị trường âm nhạc trong khuôn khổ chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa tại Việt Nam.