Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp ở Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Minh Phương tại Trường Đại học Luật Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Thị Hiền và TS. Nguyễn Thị Kim Thoa, bảo vệ năm 2022. Luận án thuộc chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, mã số 9380102.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2010) đã đặt nền tảng pháp lý đầu tiên cho hoạt động quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp tại Việt Nam. Tuy nhiên, sau hơn 10 năm thi hành, công tác này bộc lộ nhiều điểm hạn chế: hệ thống văn bản hướng dẫn còn thiếu đồng bộ; việc phối hợp tra cứu, xác minh thông tin giữa các cơ quan hành chính và cơ quan tiến hành tố tụng gặp nhiều ách tắc; quy định về kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm còn mang tính nguyên tắc; tổ chức bộ máy và các điều kiện bảo đảm chưa tương xứng với sự gia tăng nhanh chóng của nhu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp. Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về chế định lý lịch tư pháp dưới góc độ tư pháp hình sự hoặc pháp luật thực định, việc nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về phương diện quản lý nhà nước dưới góc độ khoa học luật hành chính vẫn là khoảng trống cần được giải quyết.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp và cải cách hành chính. Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu các công trình khoa học đã công bố liên quan đến đề tài, khái quát các nội dung cơ bản chưa được giải quyết thấu đáo để xác định nội dung cần làm rõ trong luận án.
- Nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, chủ thể và các điều kiện bảo đảm quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp trên cơ sở khảo cứu pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp ở Việt Nam, rút ra nhận xét về ưu điểm, hạn chế, bất cập trên cơ sở so sánh với pháp luật của một số quốc gia.
- Đề xuất, kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp về tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp, cắt giảm chi phí tuân thủ cho cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm: những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp; thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp tại Việt Nam (có so sánh với một số quốc gia); các quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba phương diện:
- Về nội dung: Tập trung vào vấn đề lý luận và thực trạng nội dung quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp, chủ thể quản lý và các điều kiện bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp.
- Về không gian: Nghiên cứu tại Việt Nam; có sự đối chiếu, so sánh với pháp luật trong các lĩnh vực liên quan và tham khảo kinh nghiệm quản lý lý lịch tư pháp của một số quốc gia (như Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Vương quốc Anh, Hy Lạp, Hoa Kỳ).
- Về thời gian: Tập trung nghiên cứu thực trạng từ khi Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 có hiệu lực thi hành đến hết 06 tháng đầu năm 2022.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án đã phân loại và điểm lại các công trình nghiên cứu liên quan theo ba nhóm nội dung chính:
Nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận:
- Về các ấn phẩm và đề tài trong nước: Chuyên đề "Lý lịch tư pháp" của Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp (1996) đặt nền móng thông tin lịch sử và ý nghĩa; sách "Lý lịch tư pháp" do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia cộng tác với Nhà Pháp luật Việt - Pháp (1997) với các bài viết của thẩm phán Christian Elek và Gérard Lorho giới thiệu kinh nghiệm Cộng hòa Pháp; đề tài khoa học cấp Bộ "Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng pháp lệnh lý lịch tư pháp" do TS. Trần Thất làm chủ nhiệm (2005); bài viết của PTS. Trần Thất (1996) trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; luận án tiến sĩ "Pháp luật lý lịch tư pháp của Việt Nam hiện nay" của TS. Hoàng Quốc Hùng (2018) nghiên cứu quy chế pháp lý về lý lịch tư pháp.
- Về các bài viết nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế: Đỗ Thị Thúy Lan (2005) về quản lý lý lịch tư pháp tại Nhật Bản; Trần Văn Dũng (2012) về pháp luật Cộng hòa Pháp; Nguyễn Văn Thắng (2012) về tổ chức và hoạt động của Cơ quan Đăng ký liên bang trung ương tại thành phố Bonn thuộc Cộng hòa Liên bang Đức; Mỹ Linh (2017) khảo sát pháp luật các nước (Đức, Phần Lan, New Zealand, Singapore, Bỉ, Pháp, Nhật Bản) về đối tượng quản lý cá nhân và pháp nhân thương mại.
Nhóm các công trình nghiên cứu về thực trạng:
- Các nghiên cứu trong nước: Chuyên đề của Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý (1996); Nguyễn Đức Chính (1997) về sự cần thiết đưa lý lịch tư pháp vào cải cách tư pháp; Kỷ yếu Hội thảo về Lý lịch tư pháp (2010) với báo cáo của chuyên gia Pháp Nathalie Chauvet về mô hình Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia Pháp; Phạm Đình Thi (2011) về quan hệ phối hợp giữa Cục C53 (Bộ Công an) và ngành tư pháp theo Thông tư liên tịch số 07/1999/TTLT-BTP-BCA; Tống Thanh Thanh (2011) về xử lý thông tin công dân bị tòa án nước ngoài kết án; Nguyễn Văn Huyên và Lê Lan Chi (2011) về công tác đào tạo cán bộ; Nguyễn Huy Mạ (2012) về trách nhiệm của cơ quan hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát; Nguyễn Văn Hoàn (2012) về mối quan hệ giữa Luật Thi hành án hình sự và quản lý lý lịch tư pháp.
- Các nghiên cứu nước ngoài: Demetrios Sarantis và Dimitris Askounis (2009) phân tích dự án tin học hóa hệ thống hồ sơ hình sự (CRIS) tại Hy Lạp bằng phương pháp tiếp cận eGTPM; tư liệu tổng hợp về hồ sơ hình sự tại Hoa Kỳ (Wikipedia, 2018); bài báo của Pablo A. Ormachea, Gabe Haarsma, Sasha Davenport và David M. Eagleman (2015) về cơ sở dữ liệu hồ sơ hình sự (CRD) tại Hoa Kỳ; tài liệu của ACRO và NCA-CEOP (Vương quốc Anh) về Chứng nhận cảnh sát (Police Certificates) và Chứng nhận bảo vệ trẻ em quốc tế (ICPC).
Nhóm các công trình nghiên cứu về giải pháp:
- Đề tài cấp Bộ của Ths. Đặng Thanh Sơn (2015) về tiêu chí đánh giá, kiểm soát chất lượng xây dựng, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp; đề tài cấp Bộ của Ths. Hoàng Quốc Hùng (2017) định hướng 6 chính sách lớn sửa đổi Luật Lý lịch tư pháp; các bài viết trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp và Tạp chí Nghề luật của TS. Trần Thất (2005), Nguyễn Minh Đức (2008), Đỗ Thị Ngọc Tuyết (2011), Đặng Thanh Sơn (2014), Đỗ Thị Thúy Lan (2014), Quách Đình Lực (2014), Đào Thị Minh Thủy (2014), Nguyễn Huy Mạ (2014), Nguyễn Thị Thu Hằng (2014).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn: Các công trình nêu trên phần lớn tiếp cận lý lịch tư pháp dưới góc độ tố tụng hình sự, quyền con người hoặc phân tích các khía cạnh nghiệp vụ, kỹ thuật riêng lẻ của cơ sở dữ liệu. Chưa có công trình khoa học nào tiếp cận một cách toàn diện và chuyên sâu dưới giác độ khoa học luật hành chính để làm rõ: bản chất pháp lý của quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp; sự phân định thẩm quyền và phối hợp giữa các nhánh cơ quan (hành chính, tòa án, viện kiểm sát); các tiêu chí bảo đảm thực hiện quyền bảo vệ bí mật đời tư cá nhân; và mô hình tổ chức bộ máy cơ quan quản lý lý lịch tư pháp tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, bao gồm phép biện chứng duy vật và phương pháp luận duy vật lịch sử, xem xét quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp trong mối quan hệ vận động, gắn liền với các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu bám sát quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp và cải cách hành chính, trọng tâm là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030, cùng các quy định về quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013.
Khung lý thuyết của luận án xoay quanh các khái niệm pháp lý then chốt: khái niệm lý lịch tư pháp, quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp, quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và nguyên tắc bảo vệ bí mật đời tư cá nhân.
Về phương pháp nghiên cứu thực tế, do đây là luận án định tính trong khoa học pháp lý, tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp hồi cứu tài liệu: Tập hợp, phân loại có hệ thống các văn bản pháp luật và công trình nghiên cứu trong nước, quốc tế qua từng giai đoạn lịch sử (sử dụng chủ yếu tại Chương 1).
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu quan điểm của các học giả; so sánh giữa quy định pháp luật hiện hành với các thời kỳ trước; so sánh pháp luật lý lịch tư pháp với các ngành luật liên quan (hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự, phá sản); so sánh mô hình pháp luật Việt Nam với các nước như Pháp, Đức, Anh, Nhật Bản, Hy Lạp, Hoa Kỳ (sử dụng tại Chương 2 và Chương 3).
- Phương pháp phân tích: Mổ xẻ các quy phạm pháp luật, thẩm quyền, thủ tục và các luận điểm lý luận để chỉ ra tính hợp lý hoặc mâu thuẫn (sử dụng xuyên suốt các chương).
- Phương pháp chứng minh: Dẫn chứng các số liệu hoạt động thực tiễn, số lượng nhân sự, vụ việc cụ thể để chứng minh nhận định về tính khả thi, bất cập của pháp luật (sử dụng nhiều tại Chương 3).
- Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa các nhận định từ các kết quả phân tích để rút ra kết luận của từng chương và toàn bộ luận án.
- Phương pháp dự báo khoa học: Dự đoán xu hướng vận động của quan hệ xã hội, yêu cầu hội nhập và chuyển đổi số để đề xuất định hướng chính sách, giải pháp lập pháp.
- Phương pháp kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn: Đánh giá quy định pháp luật gắn liền với thực tiễn tổ chức thi hành của ngành Tư pháp, Công an, Tòa án.
Nguồn dữ liệu, tư liệu của luận án gồm: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam từ năm 1945 đến nay; các báo cáo sơ kết, tổng kết 10 năm thi hành Luật Lý lịch tư pháp của Bộ Tư pháp và các bộ, ngành; số liệu về tiếp nhận thông tin, lập cơ sở dữ liệu, cấp phiếu lý lịch tư pháp; các điều ước quốc tế, văn bản pháp luật nước ngoài và tài liệu khảo cứu quốc tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài thành ba mảng lớn: các công trình lý luận, các công trình thực trạng và các công trình giải pháp.
Tác giả đánh giá rằng các nghiên cứu trước đây đã đạt được những thành tựu quan trọng: làm rõ khái niệm ban đầu về lý lịch tư pháp; khẳng định ý nghĩa của lý lịch tư pháp trong việc hỗ trợ xét xử, tuyển dụng nhân sự và bảo đảm quyền công dân; phân tích vai trò phối hợp giữa ngành Công an và Tư pháp. Tuy vậy, các công trình chủ yếu tiếp cận ở phạm vi hẹp hoặc giải quyết các vấn đề chuyên ngành riêng rẽ.
Chương này xác định các vấn đề còn bỏ ngỏ cần luận án giải quyết:
- Chưa có định nghĩa hoàn chỉnh, thống nhất về "quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp" và phân định ranh giới giữa quản lý nhà nước với quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.
- Chưa luận giải đầy đủ vai trò của quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp trong việc bảo vệ bí mật đời tư cá nhân và thể chế hóa việc đương nhiên xóa án tích.
- Chưa có giải pháp căn cơ xử lý mối quan hệ phối hợp cung cấp, tra cứu thông tin án tích giữa Tòa án, Viện kiểm sát, Công an và Tư pháp.
- Chưa giải quyết dứt điểm tranh luận về việc có hay không mở rộng phạm vi lý lịch tư pháp sang án tích của pháp nhân thương mại và thông tin xử lý vi phạm hành chính.
Từ đó, luận án xác định câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và định hình hướng đi tập trung vào lý luận quản lý nhà nước, đánh giá thực trạng theo khung thẩm quyền và đề xuất giải pháp đồng bộ.
Chương 2: Những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp
Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài. Về khái niệm lý lịch tư pháp, tác giả phân tích quan điểm của TS. Hoàng Quốc Hùng và thảo luận về hai hướng mở rộng phạm vi:
- Đối với pháp nhân thương mại: Tác giả đồng tình việc nghiên cứu bổ sung thông tin về án tích của pháp nhân thương mại phạm tội vào khái niệm lý lịch tư pháp, nhằm đồng bộ với Bộ luật Hình sự năm 2015, phục vụ quản lý môi trường kinh doanh.
- Đối với xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Tác giả lập luận bác bỏ đề xuất đưa thông tin này vào lý lịch tư pháp, bởi mục đích của Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính phục vụ xác định tình tiết tăng nặng tái phạm hành chính và cấu thành một số tội phạm, trong khi lý lịch tư pháp tập trung vào quá khứ tư pháp hình sự và xóa án tích. Việc tích hợp thông tin vi phạm hành chính sẽ xâm phạm nghiêm trọng đến quyền nhân thân cá nhân.
Từ phân tích đó, tác giả đưa ra định nghĩa chuẩn: Lý lịch tư pháp là các thông tin về tình trạng án tích của cá nhân, pháp nhân thương mại bị kết án bằng bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tình trạng thi hành án và về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản.
Tiếp đó, tác giả phân tích từ ngữ "quản lý" theo Từ điển tiếng Việt, Đại từ điển tiếng Việt và Thuật ngữ pháp lý, đưa ra định nghĩa quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cơ quan hành chính nhà nước và các cơ quan khác có liên quan trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật về lý lịch tư pháp; xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cung cấp thông tin lý lịch tư pháp (thông qua cấp Phiếu lý lịch tư pháp); kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo trong việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp, bảo đảm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất, đồng bộ và khả thi, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức.
Luận án chỉ ra ba đặc điểm của quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp:
- Nội dung mang tính toàn diện, bao quát mọi giai đoạn từ xây dựng thể chế, quản lý cơ sở dữ liệu, cấp phiếu đến kiểm tra, xử lý vi phạm.
- Chủ thể thực hiện đa dạng, không chỉ riêng cơ quan hành chính nhà nước mà có sự tham gia phối hợp của Tòa án, Viện kiểm sát.
- Mục đích nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý thống nhất, bảo vệ quyền cá nhân, tôn trọng bí mật đời tư, bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội.
Luận án khẳng định bốn vai trò cơ bản: phục vụ hoạt động xét xử của Tòa án; hỗ trợ tuyển dụng, quản lý nhân sự; đáp ứng yêu cầu cá nhân chứng minh nhân thân và bảo đảm bí mật đời tư (thể hiện tính nhân đạo qua chế định xóa án tích); hỗ trợ công tác thống kê tư pháp hình sự phục vụ đấu tranh phòng chống tội phạm.
Chương này cũng phân tích mô hình tổ chức so sánh từ Cộng hòa Pháp: Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia Pháp gồm 04 phòng chức năng với tổng số 250 nhân viên:
| Đơn vị thuộc Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia Pháp |
Số lượng nhân viên |
Chức năng, nhiệm vụ chính |
| Phòng Công nghệ thông tin |
11 nhân viên |
Phụ trách kỹ thuật tin học, kiểm tra tính chính xác của dữ liệu tiếp nhận và xử lý. |
| Phòng Pháp chế |
27 nhân viên |
Theo dõi, cập nhật thông tin pháp luật; xử lý hồ sơ phức tạp; dịch và xử lý bản án của công dân Pháp ở nước ngoài. |
| Phòng Nghiệp vụ |
185 nhân viên |
Tiếp nhận, xử lý bản án từ Tòa án; cấp phiếu lý lịch tư pháp; giải quyết xác định danh tính công dân sinh ra ở nước ngoài. |
| Phòng Hành chính và Nhân sự |
17 nhân viên |
Quản lý kinh phí trang web, bưu chính, fax; quản lý tài sản và nhân sự. |
Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 khảo sát thực tiễn giai đoạn từ ngày 01/7/2010 đến 06 tháng đầu năm 2022.
Về nội dung quản lý nhà nước:
- Xây dựng, hoàn thiện pháp luật: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã được hình thành tương đối đồng bộ nhưng một số quy định của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 chưa thống nhất với Bộ luật Hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đặc biệt là quy trình, thủ tục cấp giấy chứng nhận đương nhiên được xóa án tích và phạm vi cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2.
- Xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu và cấp phiếu: Các cơ quan đã tích cực số hóa nhưng việc tiếp nhận, làm sạch dữ liệu quá khứ gặp nhiều trở ngại. Tình trạng chậm trễ trong việc tra cứu, xác minh thông tin án tích trước ngày 01/7/2010 giữa Sở Tư pháp, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia với cơ quan hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát (C53, Phòng hồ sơ cấp tỉnh) diễn ra thường xuyên.
- Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm: Các quy định còn chung chung, mang tính nguyên tắc, dẫn đến hoạt động thanh tra chuyên ngành lý lịch tư pháp chưa được thực hiện định kỳ và chưa đủ chế tài xử lý sai phạm trong việc chậm cung cấp thông tin.
Về chủ thể và điều kiện bảo đảm:
- Tổ chức bộ máy: Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia hiện là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Tư pháp, chưa tương xứng với vị trí cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên phạm vi toàn quốc. Tại địa phương, công chức làm công tác lý lịch tư pháp tại Sở Tư pháp chủ yếu kiêm nhiệm, khối lượng công việc quá tải.
- Cơ sở vật chất và công nghệ thông tin: Phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu còn bất cập, chưa liên thông tự động giữa ngành Tư pháp, Tòa án và Công an.
Về nguyên nhân của hạn chế, luận án phân định:
- Nguyên nhân khách quan: Lý lịch tư pháp là lĩnh vực mới, phức tạp, số lượng hồ sơ yêu cầu cấp phiếu gia tăng đột biến phục vụ xuất khẩu lao động, tuyển dụng; thông tin án tích lịch sử phân tán qua nhiều thời kỳ, hệ thống hồ sơ cũ bằng giấy bị hư hại, thất lạc.
- Nguyên nhân chủ quan: Nhận thức của một bộ phận cán bộ về vai trò của lý lịch tư pháp chưa đầy đủ; cơ chế phối hợp liên ngành chưa chặt chẽ, thiếu chế tài ràng buộc trách nhiệm gửi bản án của Tòa án và thông tin thi hành án; biên chế và trang thiết bị công nghệ thông tin chưa đáp ứng yêu cầu.
Chương 4: Quan điểm, giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp
Chương 4 đề xuất ba quan điểm chỉ đạo và hai nhóm giải pháp lớn.
Ba quan điểm chỉ đạo:
- Quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp phải đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp, cải cách hành chính và bảo đảm quyền con người, trọng tâm là quyền bí mật đời tư cá nhân.
- Quản lý nhà nước phải gắn liền với việc phân định rõ thẩm quyền, phạm vi trách nhiệm giữa các chủ thể, đồng thời siết chặt kỷ luật, kỷ cương thi hành pháp luật.
- Quản lý nhà nước phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, tương thích với các chuẩn mực pháp lý quốc tế và phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam.
Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật:
- Sửa đổi, bổ sung Luật Lý lịch tư pháp năm 2009: Bổ sung quy định đối tượng quản lý lý lịch tư pháp bao gồm pháp nhân thương mại; sửa đổi cơ chế cập nhật thông tin đương nhiên xóa án tích theo Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi quy định cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 theo hướng thu hẹp trường hợp cấp cho cá nhân nhằm tránh tình trạng bị lạm dụng xâm phạm bí mật đời tư; quy định rõ ràng thẩm quyền, trình tự thanh tra, kiểm tra chuyên ngành.
- Đổi mới tổ chức cơ quan quản lý: Đề xuất chuyển đổi mô hình Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia từ đơn vị sự nghiệp công lập sang Cục Lý lịch tư pháp là cơ quan quản lý nhà nước trực thuộc Bộ Tư pháp.
- Đề xuất ban hành văn bản mới và sửa đổi pháp luật liên quan: Ban hành nghị định quy định về cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử; sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan trong Luật Thi hành án hình sự, Luật Phá sản và các thông tư liên tịch về phối hợp liên ngành Tư pháp - Công an - Tòa án - Viện kiểm sát.
Nhóm giải pháp tổ chức thực hiện:
- Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức và toàn xã hội về vị trí của lý lịch tư pháp; tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác này.
- Tăng cường giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thanh tra chuyên ngành, xử lý nghiêm tình trạng chậm cung cấp thông tin bản án, thi hành án.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy, bổ sung biên chế chuyên trách tại các Sở Tư pháp; hiện đại hóa trang thiết bị, hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin theo hướng tự động hóa kết nối và tra cứu dữ liệu.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án đã làm sáng tỏ và xây dựng hệ thống khái niệm lý luận về quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp; phân định rõ ràng giữa quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp với quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp; làm rõ ba đặc điểm, bốn vai trò cơ bản của công tác này; luận giải sâu sắc yêu cầu bảo vệ quyền bí mật đời tư của cá nhân và tính nhân đạo của pháp luật thông qua chế định xóa án tích trên phiếu lý lịch tư pháp; xác định cơ sở khoa học cho việc bổ sung pháp nhân thương mại vào đối tượng quản lý và loại trừ thông tin xử phạt vi phạm hành chính khỏi phạm vi lý lịch tư pháp.
Về mặt thực tiễn, luận án đánh giá toàn diện bức tranh thi hành pháp luật quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp từ năm 2010 đến 06 tháng đầu năm 2022; nhận diện các điểm nghẽn trong phối hợp liên ngành giữa Tư pháp, Công an, Tòa án; chỉ ra nguyên nhân của tình trạng chậm cấp phiếu lý lịch tư pháp.
Về mặt giải pháp, luận án đề xuất hệ thống kiến nghị đồng bộ: đề xuất định hướng sửa đổi Luật Lý lịch tư pháp năm 2009; kiến nghị chuyển đổi mô hình tổ chức Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia thành Cục Lý lịch tư pháp; thiết lập cơ chế tự động hóa dữ liệu và chế tài phối hợp thông tin; đề xuất các giải pháp nhằm cắt giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do giới hạn phạm vi nghiên cứu, các số liệu và tư liệu khảo sát thực tiễn trong luận án dừng lại ở mốc thời gian 06 tháng đầu năm 2022. Ngoài ra, việc nghiên cứu về quản lý lý lịch tư pháp đối với pháp nhân thương mại mới dừng lại ở việc luận giải căn cứ lý luận và kinh nghiệm quốc tế, chưa thể đánh giá sâu thực tiễn áp dụng tại Việt Nam do chế tài hình sự đối với pháp nhân thương mại mới được thi hành và số lượng vụ án hình sự đối với pháp nhân còn rất hạn chế.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, các công trình khoa học có thể tập trung vào:
- Đánh giá tác động của việc kết nối Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (theo Đề án 06) sau năm 2022.
- Nghiên cứu cơ chế chi tiết về quy trình thu thập, xử lý thông tin án tích và thi hành án hình sự của pháp nhân thương mại khi các bản án đối với pháp nhân thương mại gia tăng trong thực tế.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn:
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Luận án cung cấp hệ thống luận điểm khoa học, tài liệu khảo cứu quốc tế phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, cũng như môn học Hành chính tư pháp.
- Đối với cơ quan xây dựng chính sách, pháp luật: Luận án cung cấp các luận cứ khoa học thực chứng phục vụ quá trình tổng kết thi hành, sửa đổi, bổ sung Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 và sửa đổi các văn bản quy định chi tiết.
- Đối với cán bộ, công chức làm công tác thực tiễn: Tài liệu giúp nâng cao nhận thức nghiệp vụ, hỗ trợ các cơ quan Tư pháp, Công an, Tòa án, Viện kiểm sát nhận diện rõ trách nhiệm phối hợp, giải quyết các vướng mắc trong việc cấp phiếu và quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao tác giả luận án không đồng tình việc đưa thông tin xử phạt vi phạm hành chính vào lý lịch tư pháp?
Tác giả khẳng định lý lịch tư pháp và xử lý vi phạm hành chính là hai phạm trù có mục đích, bản chất và phạm vi áp dụng hoàn toàn khác nhau. Dữ liệu xử phạt vi phạm hành chính do nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành với số lượng rất lớn, dùng để xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính nhằm phục vụ việc xác định tình tiết tăng nặng "tái phạm hành chính" hoặc dấu hiệu cấu thành tội phạm. Trong khi đó, lý lịch tư pháp tập trung lưu trữ quá khứ tư pháp hình sự và ghi nhận việc xóa án tích. Nếu đưa thông tin xử phạt vi phạm hành chính vào lý lịch tư pháp sẽ ảnh hưởng bất lợi đến quyền nhân thân cá nhân trong quan hệ xã hội và hội nhập quốc tế.
2. Quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp khác với quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp ở những điểm nào?
Quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp là hoạt động quản lý chung, mang tính toàn diện, bao trùm toàn bộ các lĩnh vực từ xây dựng pháp luật, chỉ đạo thực hiện, quản lý cơ sở dữ liệu, cấp phiếu, đào tạo bộ máy đến kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và hợp tác quốc tế. Quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp là hoạt động quản lý có phạm vi hẹp hơn, chỉ là một trong các nội dung thuộc quản lý nhà nước, tập trung vào các thao tác kỹ thuật - nghiệp vụ gồm tiếp nhận, cập nhật, xử lý, bảo vệ và khai thác thông tin án tích để cấp phiếu lý lịch tư pháp.
3. Luận án đề xuất thay đổi mô hình tổ chức của cơ quan quản lý lý lịch tư pháp ở Trung ương như thế nào?
Kế thừa định hướng từ đề tài nghiên cứu cấp Bộ năm 2017 của Ths. Hoàng Quốc Hùng và phân tích thực tiễn bộ máy, luận án đề xuất chuyển đổi mô hình tổ chức từ Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia (hiện là đơn vị sự nghiệp công lập) sang Cục Lý lịch tư pháp (là cơ quan quản lý nhà nước trực thuộc Bộ Tư pháp), nhằm bảo đảm đủ vị thế pháp lý để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp trên phạm vi toàn quốc.
4. Mô hình tổ chức cơ quan lý lịch tư pháp Cộng hòa Pháp được luận án khảo cứu có cơ cấu ra sao?
Theo Kỷ yếu Hội thảo năm 2010 với chuyên gia Nathalie Chauvet được luận án trích dẫn, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia Pháp gồm 04 phòng chuyên môn với tổng cộng 250 nhân viên: Phòng Công nghệ thông tin (11 người), Phòng Pháp chế (27 người), Phòng Nghiệp vụ (185 người), Phòng Hành chính và Nhân sự (17 người). Trung tâm thực hiện 3 chức năng: lưu giữ thông tin, quản lý lý lịch tư pháp và cấp thông tin lý lịch tư pháp.
5. Vì sao việc bảo đảm bí mật đời tư lại là nguyên tắc cốt lõi trong quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp?
Phiếu lý lịch tư pháp lưu giữ các thông tin về tì vết tư pháp hình sự. Việc kiểm soát thông tin này giúp ngăn chặn sự kỳ thị xã hội và phân biệt đối xử. Tính nhân đạo của pháp luật chỉ đạt được khi chế định đương nhiên xóa án tích được thể hiện bằng việc cấp phiếu lý lịch tư pháp ghi nhận đương sự "không có án tích", cho phép họ che giấu quá khứ lầm lỗi hợp pháp để tái hòa nhập cộng đồng. Do đó, quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp phải đặt ra các giới hạn chặt chẽ về thẩm quyền khai thác, đặc biệt là việc kiểm soát điều kiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2.
Kết luận
Luận án "Quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Nguyễn Thị Minh Phương là công trình nghiên cứu toàn diện về mặt lý luận và thực tiễn đối với công tác lý lịch tư pháp dưới giác độ luật hành chính. Luận án đã hệ thống hóa các khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp, đồng thời phân tích thực trạng thực hiện từ ngày 01/7/2010 đến 06 tháng đầu năm 2022. Các kiến nghị sửa đổi Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, chuyển đổi mô hình cơ quan quản lý Trung ương sang Cục Lý lịch tư pháp và hiện đại hóa quy trình phối hợp liên ngành cung cấp căn cứ khoa học trực tiếp cho công cuộc cải cách tư pháp và cải cách hành chính tại Việt Nam.