phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung luận án được trình bày trong 4 chương (14 tiết) 16 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu về đào tạo và quản lý đào tạo ở các trƣờng đại học tƣ thục Mô hình đại học tư thục được hầu hết các nước trên thế giới triển khai. Đặc biệt ở các nước phát triển, các trường Đại học tư thục có vị trí nhất định đối với nền giáo dục quốc gia. Vì vậy, có rất nhiều nhà giáo dục đã nghiên cứu về đại học tư thục cùng với những hoạt động của đại học tư thục.
Tác giả Graeme John Davies (2011) Tự chủ đại học ở Anh, [26] nghiên cứu mô hình đại học tư thục của Anh và đưa ra nhận định: 3 yếu tố đảm bảo chất lượng giáo dục Đại học, đó là vấn đề tự chủ của các trường đại học, vai trò của Nhà nước và công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại học. Mỗi trường đại học ở Anh đều được tự chủ xây dựng khung chương trình riêng và họ sẽ quyết định xây dựng nó như thế nào để làm thế mạnh riêng của mình. Ví dụ, Đại học London (UoL), có 19 trường Đại học con và 12 viện nghiên cứu và mỗi một trường có thế mạnh riêng về khung chương trình theo từng lĩnh vực đào tạo. Nhà nước cũng có tác động đáng kể tới sự phát triển giáo dục đại học.
Anh có khoảng 140 trường Đại học, trường lớn có khoảng 25.000 sinh viên, trường nhỏ có từ 3.000 sinh viên theo học. Chính phủ không tham gia nhiều vào khối trường học, chính phủ chỉ hỗ trợ tài chính để các trường hoạt động. Các trường được quản lý bởi một tổ chức của Chính phủ. chính phủ cung cấp cho các tổ chức mỗi năm 8 t bảng Anh và u quyền cho các tổ chức quản lý các trường đại học.
Chính phủ Anh thực hiện hỗ trợ tài chính, yêu cầu các trường đại học cam kết sử dụng đ ng số tiền đó vào việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học chứ không quan tâm chi tiết từng trường dạy những học phần gì hay nói cách khác, Chính phủ Anh thực hiện quản lý vĩ mô 17 về giáo dục. Các tổ chức quản lý trực tiếp mỗi trường Đại học sẽ kiểm soát về chất lượng đào tạo và việc thực hiện cam kết của từng trường. Các trường Đại học có quyền tự chủ về việc xây dựng chương trình đào tạo để phù hợp với nhu cầu của xã hội, đảm bảo chất lượng giáo dục theo yêu cầu. Công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại học cũng rất được ch ý.
Anh có một ban kiểm định chất lượng hoạt động độc lập, không thuộc tổ chức quản lý tiền của Chính phủ. Ban kiểm định này sẽ phụ trách về chất lượng giảng dạy của các trường. Chất lượng họ đo được là họ dựa trên chất lượng trải nghiệm của các trường đó và chất lượng của sinh viên sau khi ra trường. Lữ Đạt - Chu Mãn Sinh (Chủ biên) (2010) đã nghiên cứu và đưa ra các nhận định về đại học tư thục ở Mỹ trong cuốn “Cải cách giáo d c ở các nước phát triển, cải cách giáo d c ở M ” [21].
Ông cho rằng: Đại học tư thục tại Mỹ hầu hết là một tổ chức phi lợi nhuận vì phải tuân theo những luật của liên bang và của một tổ chức phi lợi nhuận. Nếu mở trường theo dạng lợi nhuận cho cá nhân thì không được hưởng đặc quyền và hoạt động của một tổ chức phi lợi nhuận. Cái mấu chốt để định nghĩa phi lợi nhuận là từ mô hình tài chính. Số tiền một người bỏ ra xây dựng trường đại học chỉ là con số rất nhỏ.
Số tiền lớn mà trường thu được là nhờ vào sự quyên góp và đầu tư - gọi là endowment. Các trường đại học tư thục và cả công lập của Mỹ đều sống bằng nguồn endowment. nhiều nước trên thế giới, chủ nhân thực sự của một trường đại học tư thục thường là cộng đồng xã hội bao gồm tất cả những ai có liên quan đến hoạt động của nhà trường (Stakeholder), trong đó nhà đầu tư chỉ góp một thành phần đại diện. Đây là mô hình của kiểu trường đại học không vì lợi nhuận rất phổ biến hiện nay trên thế giới.
Thí dụ, trong tổng số 125 cơ sở giáo dục đại học tư thục tiểu bang California (Hoa kỳ) chỉ có 4 cơ sở theo cơ chế vì lợi nhuận, số còn lại theo cơ chế không vì lợi nhuận. Để khuyến khích loại trường này, nhiều nước đã quy định trong luật pháp buộc nhà đầu tư phải cam kết không can thiệp vào nội bộ của trường. Nếu hiểu như vậy thì 18 rõ ràng về mặt mô hình tổ chức và quản lý, giữa trường công và trường tư không vì lợi nhuận hoàn toàn không có sự khác biệt đáng kể [21]. Theo một nghiên cứu khác của Lữ Đạt - Chu Mãn Sinh (Chủ biên), (2010)” Cải cách giáo d c ở các nước phát triển, cải cách giáo d c Nhật Bản & Ôxaylia ” về mô hình “tư nhân hóa” đại học ở Nhật Bản, họ cho rằng cải cách lớn nhất trong giáo dục đại học ở Nhật Bản là xóa bỏ mô hình trường đại học công lập phụ thuộc phần nhiều vào ngân sách nhà nước.
Nhân sự và tổ chức của trường đều nằm dưới sự quản lý của nhà nước đã khiến các trường bị hạn chế trong công tác quản lý và chi tiêu dẫn đến kìm chế sự sáng tạo và phát triển của các trường. Năm 1999, đại học công lập của Nhật Bản đã hoạt động theo kiểu công ty với quyền tự chủ cao hơn. Các trường được chính phủ cho thuê đất để làm trường đại học, được nhà nước hỗ trợ 50 cho vay tiền đầu tư xây dựng cơ sở vất chất và mua sắm thiết bị; được hỗ trợ 30 tiền học phí so với sinh viên hệ công lập; Trường được ph p lựa chọn cán bộ, giảng viên, trả lương phù hợp, quyết định mức học phí, mở cửa thị trường để hợp tác với bên ngoài, không lệ thuộc vào chính sách của nhà nước mà dựa trên đánh giá hiệu quả đầu ra. Mô hình này đã cải thiện năng lực hoạt động và đem lại hiệu quả và chất lượng đào tạo cho các trường Đại học.
Năm 2005, theo một báo cáo, 87 trường Đại học quốc gia chuyển đổi thành công ty đã thành công trong việc giảm tổng số tiền trả lương được 13,7 t yên (1.836 t đồng Việt Nam) và kiếm được 11,8 t yên (1.580 t đồng Việt Nam) từ bản quyền sáng chế. Kết quả, các trường này đạt được khoản lợi nhuận tổng cộng 71,6 t yên (9.600 t đồng Việt Nam). Điều đáng nói nữa là, năm 2007 trường Đại học Tokyo Nhật Bản được xếp vị trí thứ 20 trong 100 trường Đại học uy tín nhất thế giới [24. Nghiên cứu của Trần Thắng (2011),” Đại học tư th c M là một t chức phi lợi nhuận” [50 cũng cho thấy Đại học tư thục tại Mỹ là một tổ chức phi lợi nhuận.
Những cá nhân, công ty hay tổ chức đóng góp tài chính và tài 19 sản cho trường Đại học sẽ được miễn thuế một phần vào nguồn thu nhập hằng năm. Họ hiểu rằng phần đóng góp này là phục vụ cho trường và sẽ không rơi vào tay cá nhân hay nhóm riêng biệt nào. Những trường Đại học danh tiếng sản sinh ra nhiều cá nhân nổi tiếng trong kinh doanh và họ rất thành công trong việc vận động quyên góp. Theo Los Angeles Times số ra ngày 3.2010, Đại học Stanford đứng đầu bảng gây quỹ trong năm 2009 và đạt được 640 triệu USD, Đại học Harvard được 601 triệu, Đại học Southern of California (USC) 369 triệu, Đại học California, Los Angeles (UCLA) 351 triệu USD.
Tài sản của trường là của chung, không thuộc về các cá nhân hay nhóm riêng biệt. Trường Đại học có ban tài chính (Board of Trustees) điều hành và quyết định mọi vấn đề về tài chính của trường. Ban có nhiệm vụ phát triển nguồn tài sản endowment để trường có ngân sách mạnh đầu tư cho việc giáo dục như xây dựng cơ sở học tập, nghiên cứu và cấp học bổng. Nguồn endowment của các ĐH danh tiếng rất uy lực và bằng cả GDP của một quốc gia.
Nghiên cứu của Đào Văn Khanh, MBA trường ĐH RMIT (Australia) trong “Tự trị ĐH: Câu chuyện từ Australia”. Mô hình nào cho tự trị Đại học Việt Nam. Tác giả đã đưa ra 5 mô hình hoạt động phổ biến của đại học tư thục, đó là: Mô hình công ty (business model): Mô hình này tập trung ủng hộ ý tưởng của việc thành lập hội đồng quản trị năng động có cơ cấu nhỏ gọn và linh hoạt bên trong, nhấn mạnh vào khía cạnh quản lý tài chính và lợi nhuận cho các cổ đông thành viên (shareholders). Mô hình này gặp phải nhiều chỉ trích vì ưu tiên hàng đầu của nó là lợi nhuận chứ không phải chất lượng đào tạo.
Mô hình đối tác truyền thống (traditional stakeholder model): Mô hình này góp tiếng nói vào lợi ích của các cơ sở giáo dục Đại học công lập, bao gồm người dạy và người học. Tuy nhiên, mô hình này cũng bị chỉ trích vì gây trở ngại trong việc quản trị và quản lý một cách hiệu quả thông qua quá trình làm giảm chậm đi hoặc tránh n những quyết định chiến lược quan trọng. 20 Mô hình ủy trị (trusteeship model): Mô hình này thể hiện ở chỗ quản trị nhà trường không phải vì mục tiêu lợi nhuận (not-for-profit). Phương pháp tiếp cận này chỉ ra rất rõ các mục tiêu phi lợi nhuận nằm trong số mục tiêu chính của nhà trường.
Tuy nhiên, mô hình này lại ủng hộ quản trị hiệu quả và cấu tr c quản lý để đạt được mục tiêu tổng thể của nhà trường trong việc học tập, giảng dạy, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng. Mô hình cân bằng (equalizer model): Mô hình này là sự kết hợp của nhiều mô hình khác nhau cùng tồn tại và được điều chỉnh “âm lượng” theo từng thời điểm thích hợp. Tác giả cũng đưa ra kinh nghiệm mô hình Hội đồng trường ở Austrialia: Khi nói đến quản trị Đại học, trước tiên phải nói Hội đồng trường. Nhằm minh bạch hóa công tác điều hành, chủ tịch Hội đồng trường (Chancellor) sẽ chỉ định Hiệu trưởng giám đốc điều hành (Vice-Chancellor/President).
Hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng và nhóm cộng sự điều hành (executive officers) sẽ phụ trách công tác quản lý thường nhật của nhà trường (day-to-day management) [42].