Phần mở đầu Phần nội dung gồm: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo nhân lực trình độ trung cấp đáp ứng nhu cầu của các KCN Chƣơng 2. Thực trạng đào tạo và quản lý đào tạo nhân lực trình độ trung cấp đáp ứng nhu cầu của các KCN tỉnh Hà Nam. Giải pháp quản lý đào tạo nhân lực trình độ trung cấp đáp ứng nhu cầu của các KCN tỉnh Hà Nam Phần kết luận và khuyến nghị 11.
Nơi thực hiện đề tài nghiên cứu Viện Khoa học giáo dục Việt Nam 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP ĐÁP ỨNG NHU CẦU CỦA CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về vấn đề đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu thị trường lao động Vấn đề đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu thị trƣờng lao động đã trở thành mối quan tâm lớn trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt trong thời đại CMCN 4.0 đang hình thành và phát triển nhanh chóng nhƣ hiện nay, khi mà nguồn lực con ngƣời có tầm quan trọng trong việc nâng cao tính cạnh tranh của mỗi quốc gia hay của từng DN. Chính vì vậy, vấn đề đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu thị trƣờng lao động là đối tƣợng nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học trong và ngoài nƣớc quan tâm.
Các tổ chức có quy mô toàn cầu nhƣ WB, ADB đều cho rằng yếu tố cấu thành của sự tăng trƣởng là chất lƣợng của lực lƣợng lao động; và giáo dục góp phần vào tăng trƣởng kinh tế thông qua năng suất lao động của mỗi cá nhân nhờ trình độ cũng nhƣ vốn kiến thức của họ. Bên cạnh các công trình nghiên cứu lý luận có giá trị, có cả những công trình nghiên cứu thực tiễn đặc trƣng, phù hợp với từng quốc gia. Các kết quả nghiên cứu đã giúp cho Chính phủ các nƣớc triển khai các chƣơng trình, đề án đào tạo và phát triển nhân lực chất lƣợng cao phục vụ cho việc phát triển KT-XH của mỗi quốc gia. Có thể kể đến một số công trình nhƣ: Trong cuốn Tuyển 40 năm chính luận, Lý Quang Diệu (1994) [21] đã khẳng định rõ những tƣ tƣởng về trọng dụng nhân tài đất nƣớc, về tầm quan trọng của nhân tài, vai trò của GD&ĐT đối với sự phát triển NNL, đào tạo nhân tài; ông nhấn mạnh "chế độ Singapore thực hành là chế độ trọng dụng nhân tài", coi việc biết đào tạo và dùng ngƣời tài là bí quyết thành công trong phát triển nhân lực bậc cao, phát triển nhân tài của Singapore.
Đây là một cuốn sách bổ ích cho các nhà lãnh đạo tham khảo về bí quyết thành công của các cán bộ quản lý Singapore. Cũng giống với quan điểm của Lý Quang Diệu, các tác giả W.Wagner (1999) [148] hay Weihrich K và Heinx M [115] cũng đã nhấn mạnh về vai trò và tầm quan trọng của NNL qua đào tạo trong phát triển KT-XH. Thông qua việc phân tích vấn đề hiện đại hóa quá trình đào tạo, phát triển NNL, vấn đề quản lý, sử dụng có hiệu quả NNL; Các tác giả cho rằng, đào tạo làm tăng chất lƣợng, tính linh hoạt, khả năng cạnh tranh của lực lƣợng lao động, đặc biệt khi thị trƣờng lao động và phƣơng thức tổ chức lao động thƣờng xuyên thay 11 đổi, công nghệ sản xuất luôn đƣợc cải tiến thì vai trò của đào tạo càng cần thiết hơn bao giờ hết, nhƣ là một vấn đề quan tâm hàng đầu trong nền kinh tế hiện đại. Khi nghiên cứu về các phạm trù, chính sách và thực tiễn việc phát triển NNL trong nền kinh tế, tác giả Richard Noonan (1997) [137], đã tìm hiểu và đƣa ra những khái niệm, phạm trù của phát triển NNL, sự khác nhau giữa phát triển NNL với phát triển “tƣ bản ngƣời”, cũng nhƣ những chính sách về phát triển NNL trong cơ chế thị trƣờng của một số nƣớc, đặc biệt đã nêu lên kinh nghiệm thực tiễn về phát triển NNL của một số nƣớc đang phát triển trong thời kỳ thị trƣờng lao động đang bắt đầu hình thành.
Trong khi nghiên cứu về công tác GDNN cho lực lƣợng lao động, cuốn sách Khung mẫu mới về phát triển NNL: Các sáng kiến của chính phủ vể phát triển kinh tế để hội nhập xã hội tại Hàn Quốc, của tác giả Jang Ho Kim (2005) [65], đã đề cập đến các thách thức KT-XH trong phát triển NNL chất lƣợng cao tại Hàn Quốc; khẳng định vai trò to lớn của NNL chất lƣợng cao; khả năng cạnh tranh NNL của đất nƣớc; đƣa ra định hƣớng phát triển; đặc biệt đã đƣa ra và phân tích các vấn đề GDNN, kết hợp đào tạo với nghiên cứu và phát triển, những vấn đề về xây dựng xã hội học tập ở Hàn Quốc. Ở Việt Nam, đối với các nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về phát triển NNL trong nền KT-XH, đã có nhiều nhà khoa học trong nƣớc tìm hiểu, nhƣ: Nguyễn Minh Đƣờng (1996) [30], cho rằng việc bồi dƣỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trƣờng là việc làm hết sức cần thiết. Vì vậy, tác giả đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu kinh nghiệm và giới thiệu một số vấn đề về phƣơng pháp luận, thực trạng bồi dƣỡng và đào tạo lại các loại hình lao động ở một số nƣớc trên thế giới và ở nƣớc ta, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ lao động ở nƣớc ta. Hay trong cuốn sách “Phát triển NNL - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta” của Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm (1998) [114], các tác giả đã luận giải một số vấn đề lý luận cơ bản về NNL; trình bày thực trạng phát triển NNL; Từ đó khái quát một số kinh nghiệm phát triển NNL của các cƣờng quốc trên thế giới trong những thập kỷ gần đây và thực tiễn phát triển NNL ở Việt Nam.
Các tác giả tập trung vào lĩnh vực GD&ĐT, coi đó yếu tố quyết định phát triển NNL nƣớc nhà. Cuốn sách cũng chỉ ra rằng, sự phát triển thành công và cất cánh của một quốc gia luôn gắn chặt với chính sách và chiến lƣợc phát triển NNL, đặc biệt là chiến lƣợc phát triển giáo dục đào tạo, tức là “chiến lƣợc trồng ngƣời”. 12 Cũng với tƣ tƣởng coi nhân tố con ngƣời, phát triển con ngƣời, nguồn lực con ngƣời có ý nghĩa quyết định đối với việc sáng tạo ra vật chất và tinh thần, tác giả Phạm Minh Hạc (2001) [40], trong công trình nghiên cứu “Nghiên cứu con người và nguồn lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện chiến lƣợc con ngƣời; trình bày mối quan hệ giữa GD&ĐT, sử dụng và tạo việc làm với phát triển NNL đất nƣớc; từ đó xác định trách nhiệm quản lý của GD&ĐT đối với việc phát triển NNL đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Vấn đề liên quan đến đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng lao động là vấn đề mà tác giả Phan Văn Kha quan tâm, vì vậy, các công trình nghiên cứu của tác giả thƣờng xoay quanh phạm trù đó, có một số công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo lớn, nhƣ: Nguyễn Minh Đƣờng, Phan Văn Kha (Đồng chủ biên) (2006) [32], Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, là công trình thuộc chƣơng trình khoa học công nghệ cấp nhà nƣớc KX – 05, đề tài này là một công trình nghiên cứu khoa học có giá trị lý luận và thực tiễn trong công tác đào tạo nhân lực, đặc biệt là đào tạo nhân lực chất lƣợng cao cho đất nƣớc.
Trong công trình, các tác giả đã xây dựng khung lý luận về đào tạo nhân lực, từ mối quan hệ giữa đào tạo nhân lực với chuyển dịch cơ cấu lao động trong quá trình CNH-HĐH đất nƣớc trong điều kiện kinh tế thị trƣờng, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đến tiếp cận hệ thống về đào tạo nhân lực và đào tạo nhân lực trong cơ chế thị trƣờng. Công trình cũng đã phân tích vấn đề về lực lƣợng lao động, cơ cấu lao động, nhân lực và đào tạo nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trƣờng và hội nhập quốc tế. Các tác giả đã đƣa ra các nhóm giải pháp về đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH đất nƣớc trong điều kiện kinh tế thị trƣờng, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Một công trình nghiên cứu khác của Phan Văn Kha (2006) [57], thuộc đề tài cấp Bộ B2003-52-TĐ50, nghiên cứu để đề xuất ra các giải pháp tăng cƣờng mối quan hệ giữa đào tạo với sử dụng nhân lực có trình độ trung cấp chuyên nghiệp ở Việt Nam.
Trong công trình này, tác giả đƣa ra phƣơng pháp luận xây dựng chiến lƣợc phát triển giáo dục đƣợc đề cập tƣơng đối đồng bộ, bài bản và có hệ thống, từ khái niệm, các câu hỏi cần đƣợc trả lời trong quá trình xây dựng chiến lƣợc, các tiêu chuẩn để lựa chọn chiến lƣợc không chỉ để xây dựng chiến lƣợc phát triển giáo dục cấp hệ thống mà còn có thể xây dựng quy hoạch giáo dục của các địa phƣơng, các trƣờng hoặc lập kế hoạch cho các hoạt động cụ thể nào đó. 13 Các vấn đề liên quan đến cung – cầu giáo dục và nhân lực hay quy hoạch phát triển NNL qua đào tạo luôn đƣợc chính phủ, các cơ quan, các nhà khoa học trong nƣớc quan tâm và nghiên cứu, nhƣ: Đề tài của tác giả Đặng Bá Lãm (2001), Quy hoạch phát triển NNL khoa học – công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển các lĩnh vực công nghệ ưu tiên [69], là công trình nghiên cứu cấp nhà nƣớc có giá trị tham khảo lớn trong việc nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực KH&CN trong các lĩnh vực công nghệ ƣu tiên ở nƣớc ta phục vụ CNH-HĐH. Một nghiên cứu về “Giáo dục Việt Nam và những tác động của WTO” của Vũ Ngọc Hải (2005) [44] đã phân tích cung – cầu trong giáo dục, những thay đổi trong quan hệ cung – cầu và bất cập trong đào tạo nhân lực, nhƣ: đào tạo chƣa phù hợp với phát triển KT- XH, ngành nghề đào tạo chƣa gắn với thị trƣờng lao động, trình độ đào tạo không phù hợp yêu cầu việc làm.