Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Michael Williams (1990), “Wetlands: A Threatened landscape”, Nhà xuất bản (Nxb) Cambridge, USA. Tác giả công trình nghiên cứu cho rằng đất ngập nước (sau đây viết tắt là ĐNN) gồm nhiều vùng, phân bố rộng khắp, hình thành từ nhiều phần cảnh quan như vùng cửa sông, bờ biển mở, đồng bằng ngập nước, có tính đa dạng sinh học cao cả về thành phần loài và hệ sinh thái nhưng lại bị đe dọa, suy thoái nghiêm trọng cần phải được bảo vệ nghiêm ngặt, đặc biệt ở những quốc gia có phần tỷ lệ đất ngập nước không lớn. Công trình nghiên cứu của tác giả đã tạo ra cách nhìn mới về ĐNN ở Mỹ, đó là sự công nhận những giá trị của ĐNN đối với việc quản lý chất lượng nước và đánh giá cao các giá trị về văn hóa, du lịch, giải trí ĐNN mang lại, dẫn đến việc Chính phủ Liên bang đã và đang có trách nhiệm cao hơn đối với việc bảo vệ các vùng đất ngập nước.
Công trình nghiên cứu cho thấy để đưa ra thông điệp bảo vệ đất ngập nước, tác giả Michael Williams đã tập trung nghiên cứu về sự đa dạng của đất ngập nước, Michael Williams đã thành công trong việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về sự hình thành, đặc điểm phân bố của đất ngập nước, chỉ ra đất ngập nước có tính đa dạng sinh học cao cả về thành phần loài và hệ sinh thái nhưng lại đang bị đe dọa, suy thoái nghiêm trọng. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu của tác giả mới chỉ tập trung vào nghiên cứu những giá trị của ĐNN đối với việc quản lý chất lượng nước và các giá trị về văn hóa, du lịch, giải trí mà ĐNN mang lại, chưa đề cập tới sự cần thiết cần phải quản lý đất ngập nước của nhà nước cũng như chưa đề xuất những giải pháp chủ yếu để bảo vệ tài nguyên này trước những yếu tố làm suy giảm 8 giá trị và chức năng của ĐNN.[102] Dugan Patrik J (1990), “Protection of wetlands”. Công trình nghiên cứu dài 105 trang, P. Dugan đã thống kê trên thế giới có khoảng 50 định nghĩa khác nhau về ĐNN.
ĐNN là một trong những vùng đất màu mỡ nhất thế giới, nó thiết yếu đối với sức khỏe, phúc lợi và sự an toàn của người dân sống trong đó hoặc gần đó, đó là chiếc nôi tạo ra tính đa dạng của sinh vật, cung cấp nước và sản vật chủ yếu để muôn loài động - thực vật sinh sống (chim, động vật có vú, bò sát, động vật lưỡng cư, động vật không xương sống. Dugan cũng chỉ ra rằng ĐNN có rất nhiều chức năng như: nạp nước ngầm, tiết nước ngầm, khống chế lũ lụt, ổn định bờ biển, chống xói mòn, giữ lại các chất độc/chất cặn, xuất khẩu sinh khối, chống sóng bão/chắn gió, ổn định vi khí hậu, giao thông thủy, giải trí, du lịch. Với giá trị và chức năng như vậy ĐNN cần được quản lý và bảo vệ tiến tới thành lập “Ngành công nghiệp đất ngập nước - wetland industry” trong các trung tâm, viện nghiên cứu về ĐNN. Cũng giống như Michael, công trình nghiên cứu của D.
Dugan đã có thành công trong việc nghiên cứu những định nghĩa khác nhau về ĐNN, chỉ ra những giá trị và chức năng to lớn của ĐNN, tuy nhiên, công trình nghiên cứu cũng chỉ dừng lại ở việc khẳng định ĐNN có những giá trị và chức năng quan trọng cần phải được quản lý và bảo vệ mà chưa đề xuất những cách thức, biện pháp để quản lý và bảo vệ tài nguyên ĐNN có hiệu quả, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững [99]. Cocklin (1995), “Institutional and landowner perspectives on wetland management in New Zealand” (Quan điểm về thể chế và chủ sở hữu quản lý đất ngập nước ở New Zealand), Tạp chí Quản lý Môi trường, số 2, T10/1995, tr 143-161. Tác giả công trình nghiên cứu cho rằng ĐNN là một trong những hệ sinh thái bị suy thoái nghiêm trọng nhất, ước tính hiện nay ở New Zealand chỉ có khoảng 8% diện tích đất ngập nước ban đầu hiện vẫn còn. Cũng như ở những nơi khác, thể chế cho việc quản lý môi trường sống 9 của các hệ sinh thái quan trọng đã được ban hành rõ ràng, đầy đủ nhưng ở New Zealand thể chế cho việc quản lý tài nguyên đất ngập nước chưa được thực thi đầy đủ mặc dù việc quản lý, bảo vệ tài nguyên ĐNN ở đây luôn được nhấn mạnh.
Tác giả công trình nghiên cứu đã trình bày về một câu hỏi khảo sát liên quan đến việc quản lý tài nguyên cho các cơ quan quản lý (hội đồng địa phương và khu vực) trong cả nước về vấn đề bảo vệ và quản lý ĐNN để từ đó vạch ra chiến lược quản lý ĐNN trong bối cảnh mới của đất nước. Qua công trình nghiên cứu cho thấy, Cocklin đã đồng quan điểm với Michael Williams cho rằng tài nguyên ĐNN là một trong những hệ sinh thái bị suy thoái nghiêm trọng. Cocklin đã có thành công nhất định khi nghiên cứu về thể chế, việc quản lý môi trường sống của các hệ sinh thái ĐNN nói chung và ở New Zealand nói riêng luôn được nhấn mạnh. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu của Cocklin cũng chỉ dừng lại ở việc phân tích, đánh giá khảo sát thực tế qua một câu hỏi có liên quan đến việc quản lý tài nguyên ĐNN để từ đó vạch ra chiến lược quản lý ĐNN trong bối cảnh của đất nước, công trình chưa có nội dung nghiên cứu về đề xuất giải pháp cụ thể góp phần hoàn thiện thể chế, chính sách quản lý, bảo vệ tài nguyên ĐNN đáp ứng yêu cầu phát triển và xu thế trong tình hình mới [97].
Anita Pedersen, Nguyễn Huy Thắng (1996), “The conservation of key coastal wetland site in the Red River Delta”, BirdLife International, FIPI, Hà Nội. Các tác giả đã tập trung nghiên cứu mức độ đe dọa, sự đa đạng sinh học và tầm quan trọng của công tác bảo tồn tiềm lực nguồn thủy sản, hải sản, hệ sinh thái rừng ngập mặn … từ đó chỉ ra 7 vùng đất ngập nước ven biển quan trọng, trong đó quan trọng nhất là khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Thủy, thứ hai là toàn bộ vùng ngập nước ven biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định; đồng thời các tác giả cũng kiến nghị việc lập quy hoạch chi tiết cho vùng, giúp cho công tác bảo tồn, quản lý bền vững tài nguyên ĐNN vùng châu thổ đồng bằng sông Hồng là cần thiết. Qua công trình nghiên cứu “Bảo vệ các vùng đất ngập 10 nước chính ở đồng bằng sông Hồng” cho thấy các tác giả nghiên cứu đã thành công khi nghiên cứu lý luận và phân tích thực tiễn tầm quan trọng của việc bảo tồn ĐNN trong việc cung cấp nguồn thủy hải sản, làm đa dạng sinh học, các hệ sinh thái rừng, chỉ ra vùng đất ngập nước ven biển có tầm quan trọng quốc gia. Tuy nhiên nội dung các tác giả nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc đưa ra kiến nghị về lập quy hoạch chi tiết vùng đất ngập nước thuộc vùng giúp công tác quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên ĐNN châu thổ sông Hồng, chưa đề cập, nghiên cứu đến các nội dung quản lý nhà nước về đất ngập nước [96].
Gill Shepherd và Lý Minh Đăng (2009), “Tổng quan về áp dụng Tiếp cận Hệ sinh thái vào các khu đất ngập nước tại Việt Nam” (bản dịch tiếng Việt), Nxb VPQG IUCN tại Việt Nam. Tác phẩm dài 88 trang, tập hợp của nhiều nghiên cứu về cách tiếp cận hệ sinh thái vào các khu ĐNN tại Việt Nam và việc quản lý hệ sinh thái đất ngập nước (Nghiên cứu điểm tại Việt Nam). Nghiên cứu về cách tiếp cận hệ sinh thái vào khu ĐNN tại Việt Nam, các tác giả đã làm rõ những thách thức trong cách tiếp cận hệ sinh thái, kinh nghiệm, các bài học về khu bảo tồn, khu bảo tồn ĐNN và khu đất ngập nước tự do sử dụng, những nghiên cứu tổng hợp về rừng và ĐNN, qua các bài học từ quản lý rừng ở Việt Nam thập niên trước và khả năng áp dụng trong quản lý ĐNN nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Nghiên cứu về việc quản lý hệ sinh thái ĐNN với nghiên cứu điểm tại Việt Nam, các tác giả đã trình bày, giới thiệu các vùng ĐNN ở Việt Nam và việc quản lý hệ sinh thái ĐNN còn nhiều hạn chế và đề xuất giải pháp phát huy những giá trị của tài nguyên ĐNN.
Nghiên cứu của TS. Gill Shepherd và Lý Minh Đăng đã có đề cập tới cách tiếp cận hệ sinh thái vào khu ĐNN ở Việt Nam, những thách thức khi tiếp cận, hạn chế trong việc quản lý hệ sinh thái ĐNN. Nội dung công trình nghiên cứu đề cập chính về ĐNN nói chung ở đất nước Việt Nam, một số nội dung tổng hợp về rừng. Nghiên cứu chưa đề cập đến việc quản lý của nhà 11 nước đối với ĐNN ở một địa điểm nào nhất định ở Việt Nam để làm tài liệu tham khảo cho tác giả khi nghiên cứu và đề xuất giải pháp quản lý, bảo vệ tài nguyên ĐNN vùng Đồng Tháp Mười, Việt Nam.
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Lê Văn Tiềm (1980), “Diễn biến độ chua dưới tác động ngập nước”, Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp. Để làm sáng tỏ “Diễn biến độ chua dưới tác động ngập nước”, tác giả đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề: một là tác động của sự ngập nước đã làm thay đổi thành phần, hàm lượng cation hấp thu trao đổi của ĐNN, vấn đề này được đặt ra vì lớp cation hấp thu trao đổi này quyết định độ chua của đất; hai là nguyên nhân giảm độ chua trao đổi của đất dưới tác động bị ngập nước; ba là hình thức đất chưa khử, một hình thức tồn tại của đất chua dưới trạng thái ngập nước; bốn là đặc tính của quá trình chuyển hóa giữa hai hình thức là đất chua oxy hóa và đất chua khử; năm là sự thay đổi của các chỉ tiêu độ chua dưới tác động ngập nước và cuối cùng là một số vấn đề liên quan đến độ chua đất trồng lúa nhằm giải quyết một số vấn đề trong thực tiễn có liên quan đến độ chua của ĐNN [43]. Vũ Trung Tạng (1996),“Chiến lược quản lý và bảo vệ các loại đất ngập nước vùng cửa sông giai đoạn 1996-2000”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.