Tổng quan luận án
Mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia giữ vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển lịch sử dân tộc và an ninh khu vực. Đối với Việt Nam, quan hệ ngoại giao với các quốc gia láng giềng như Trung Quốc, Chân Lạp, Ai Lao đã được xác lập từ sớm; trong khi đó, quan hệ với Xiêm La tuy hình thành muộn hơn nhưng lại có những tác động sâu sắc đến cục diện chính trị Đông Nam Á, đặc biệt là trong thế kỉ XIX. Vào nửa sau thế kỉ XVIII và đầu thế kỉ XIX, Xiêm La sau khi đánh bại cuộc xâm lược của Miến Điện (1767) đã củng cố chế độ phong kiến trung ương tập quyền dưới vương triều Rattanakosin, tăng cường quân sự và tiến hành mở rộng lãnh thổ. Cùng thời điểm đó, sau khi vương triều Nguyễn được thiết lập vào năm 1802, thực lực quân sự của Đại Nam gia tăng mạnh mẽ. Cả Việt Nam và Xiêm La đều nhận thức Chân Lạp và Ai Lao là những vùng đệm an ninh, là "tấm lá chắn" chiến lược phục vụ mục tiêu phòng thủ từ xa và bảo vệ chủ quyền biên giới. Đối với triều Nguyễn, bên cạnh việc ứng phó với áp lực từ phương Bắc, việc ngăn chặn xu hướng "đông tiến" của phong kiến Xiêm La trở thành một nhiệm vụ cấp thiết.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: phần lớn các công trình trước đây chỉ tập trung nghiên cứu quan hệ hai nước trong giai đoạn từ năm 1802 đến năm 1847 hoặc giới hạn ở các khía cạnh thương mại thời sơ khai. Mối quan hệ Việt - Xiêm dưới triều vua Tự Đức (1847 - 1883) và đặc biệt là giai đoạn 17 năm cuối thế kỉ XIX (1883 - 1900) khi thực dân Pháp tước quyền bang giao của triều đình Huế để thiết lập quan hệ ngoại giao với Xiêm La theo mô hình phương Tây vẫn chưa được hệ thống hóa đầy đủ và chuyên sâu trong một công trình độc lập. Luận án tiến sĩ Lịch sử Việt Nam của nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Luận (người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Thị Thanh Thanh và TS. Nguyễn Đức Hòa, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh năm 2023) được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống này.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được văn bản xác định cụ thể như sau:
- Khôi phục lại bức tranh toàn diện về quan hệ bang giao giữa hai nước Việt Nam và Xiêm La trong thế kỉ XIX dưới bốn triều vua Nguyễn: Gia Long (1802 - 1819), Minh Mạng (1820 - 1840), Thiệu Trị (1841 - 1847) và Tự Đức (1847 - 1883), đồng thời mở rộng nghiên cứu giai đoạn 1883 - 1900.
- Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử có giá trị khoa học phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy bộ môn Lịch sử quan hệ quốc tế và Lịch sử Việt Nam tại các trường đại học, học viện.
- Bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống dữ liệu lịch sử về quá trình tương tác chính trị, quân sự, kinh tế giữa hai quốc gia lớn ở lục địa Đông Nam Á trong thế kỉ XIX.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ diễn tiến và tính chất của mối quan hệ bang giao giữa Việt Nam và Xiêm La trong thế kỉ XIX.
- Không gian nghiên cứu: Lãnh thổ nước Việt Nam (Đại Nam dưới vương triều Nguyễn) và Vương quốc Xiêm La dưới sự trị vì của vương triều Rattanakosin, cùng các địa bàn chịu ảnh hưởng trực tiếp từ mối quan hệ song phương này là Chân Lạp và Ai Lao.
- Thời gian nghiên cứu: Trọng tâm từ năm 1802 (khi vương triều Nguyễn thành lập) đến năm 1900. Tác giả chủ động mở rộng thêm 17 năm cuối thế kỉ XIX (1883 - 1900) để làm rõ quá trình chuyển giao quyền ngoại giao từ triều Nguyễn sang chính quyền thực dân Pháp.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã khảo cứu và phân loại hơn 200 đơn vị tài liệu, chuyên khảo, luận án và bài báo khoa học trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài.
Về phía các nguồn tư liệu và công trình trong nước:
- Khối chính sử và thư tịch cổ của Quốc Sử quán và Nội các triều Nguyễn: Đại Nam Thực lục (10 tập, gồm cả phần Tiền biên và Chính biên), Đại Nam Liệt truyện, Khâm định Đại Nam Hội điển Sự lệ (gồm phần Chính biên, Tục biên và Tục biên Hậu thứ), Đại Nam Nhất Thống chí, Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Quốc triều Chánh biên Toát yếu do Tổng tài Cao Xuân Dục chủ biên. Bên cạnh đó là các thư tịch địa chí, biên niên như Gia Định Thành Thông chí của Trịnh Hoài Đức, Hoàng Việt Long Hưng chí của Ngô Giáp Đậu, Đại Việt Sử kí toàn thư (Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ, Lê Hy, Nguyễn Đức Quý), Lịch triều Hiến chương loại chí (phần Bang giao chí) của Phan Huy Chú, Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Quốc Sử di biên của Phan Thúc Trực, và Việt Sử thông giám của Vũ Quỳnh.
- Các công trình chuyên khảo và sách nghiên cứu hiện đại: Bản sắc quan hệ Việt - Xiêm qua các hiến chương, hợp đồng (2007) của Lưu Văn Lợi; Quan hệ Việt - Xiêm: Lịch sử, văn hóa và xã hội (1971) và Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim; Lịch sử Bang giao Việt Nam Đông Nam Á (2007) của Trần Thị Mai; Lịch sử Thái Lan (1995) của Lê Văn Quang; Quan hệ đối ngoại của Việt Nam trong các thế kỉ X - XX (2010) của Trần Thị Thanh Thanh; Đại cương Lịch sử Việt Nam, Tập 1 của Trương Hữu Quýnh; Về Chính sách Đối ngoại và Ngoại giao Việt Nam của Vũ Dương Huân; Lịch sử Thái Lan của Phạm Nguyên Long và Nguyễn Tương Lai; Tìm hiểu Lịch sử, Văn hóa Thái Lan của Phạm Thanh Tịnh; Thư tịch cổ Việt Nam về Đông Nam Á của Nguyễn Lệ Thi; Bang giao Đại Việt của Nguyễn Thế Long; Việt sử xứ Đàng Trong của Phan Khoang; Văn hóa Việt Nam với Đông Nam Á của Nguyễn Đăng Thục; Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước (1996) của Nguyễn Lương Bích; Quan hệ Việt Nam - Thái Lan (1976 - 2000) (2007) của Hoàng Khắc Nam; công trình của nhóm tác giả Đặng Văn Chương, Trần Đình Hùng, Trần Thị Quế Châu, Lê Thị Quí Đức về chính sách "đóng cửa" và "mở cửa"; và Việt Nam Ngoại giao sử cận đại (1970) của Ưng Trình.
- Các luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Luận án Quan hệ ngoại giao của triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX (2001) của Đinh Thị Dung; luận án Quan hệ Xiêm - Việt từ năm 1782 đến 1847 của Đặng Văn Chương; luận án Chính sách đối ngoại của Thái Lan (Xiêm) - nửa cuối thế kỉ XIX, - đầu thế kỉ XX (2000) của Đào Minh Hồng; công trình Quan hệ của Đại Việt với Chân Lạp trước thế kỉ XX (2009) của Lê Thị Mỹ Trinh; luận văn của Phạm Thị Bích Thảo (2010); tài liệu giảng dạy của Lê Phụng Hoàng (2001); và luận án của Nguyễn Thị Thùy Yên (2016).
- Các bài báo khoa học trên tạp chí chuyên ngành của các tác giả: Nguyễn Duy Chính, Hoàng Anh Tuấn, Nguyễn Văn Kim, Phạm Quang Minh, Nguyễn Thế Trung, Lê Hà Huyền, Đoàn Nguyệt Linh, Nguyễn Hoàng Vinh, Tạ Đức Vượng và các bài viết của chính tác giả Nguyễn Văn Luận.
Về phía các công trình của tác giả nước ngoài:
- Các nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử khu vực: Xứ Đàng Trong - Lịch sử kinh tế, xã hội Việt Nam thế kỉ XVII và XVIII (1999) của Li Tana; Người Việt ở Thái Lan (1970) của Poole Peter; ghi chép của William Dampier (2011); The Dynastic Chronicles, Bangkok Era, The First Reign của Thadeus Flood và Chadin Flood; A History of Thailand của Rong Syammananda; Historical Dictionary of Thailand của May Kyi Win và Harold E. Smith; Thailand - Vietnam Relations: An Overview của Chulacheeb Chinwanno; Thailand and Southeast Asian Network of the Vietnamese Revolution của Christopher E. Goscha; Thai institutions of Slavery của Andrew Turton; và luận án Quan hệ Thái Lan - Việt Nam (1976 - 2004) (2008) của Thananan Boonwanna.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Hầu hết các công trình trên đều phân chia quan hệ Việt - Xiêm thế kỉ XIX thành hai giai đoạn chính (giai đoạn hòa hiếu từ năm 1802 đến tháng 10 năm 1833, và giai đoạn xung đột quân sự từ cuối năm 1833 đến năm 1845 khi tướng Nguyễn Tri Phương và tướng Chất Tri - Bodindecha ký kết nghị hòa). Luận án của Nguyễn Văn Luận tập trung làm sáng tỏ 38 năm tiếp theo (1845 - 1883) dưới thời Thiệu Trị và Tự Đức, đồng thời bổ sung phân tích giai đoạn 1883 - 1900 khi thực dân Pháp thay thế triều đình Huế điều hành quan hệ với Xiêm La, kết hợp khai thác các nguồn văn bản lưu trữ mới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án được triển khai trên nền tảng phương pháp luận sử học Mác-xít, kết hợp các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để xem xét các mối quan hệ bang giao trong bối cảnh kinh tế - xã hội cụ thể.
Các phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình vận động, biến đổi của quan hệ bang giao Việt - Xiêm theo trật tự thời gian tuyến tính, từ khi thiết lập vương triều Nguyễn năm 1802 qua các đời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức cho đến khi triều đình Huế bị thực dân Pháp tước quyền ngoại giao.
- Phương pháp logic: Phân tích bản chất, quy luật vận động nội tại và các yếu tố chi phối mối quan hệ hai nước; đặt tương tác Việt - Xiêm trong mối tương quan khu vực Đông Nam Á (đặc biệt là mối liên hệ đa phương Việt Nam - Xiêm La - Chân Lạp - Ai Lao) và áp lực bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây (Anh, Pháp).
- Các phương pháp liên ngành hỗ trợ: Phương pháp so sánh, đối chiếu văn bản sử liệu giữa chính sử Việt Nam và các tài liệu của Xiêm La/phương Tây; phương pháp sưu tầm, phân loại, thống kê và phê phán sử liệu.
Nguồn tư liệu và dữ liệu thực tế:
- Khối tài liệu lưu trữ gốc: Khai thác tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (bao gồm Phông Thống đốc Nam Kỳ, Phông Phủ Thủ tướng Quốc gia Việt Nam, Phông các địa phương và hệ thống công báo thời kỳ thuộc địa).
- Khối tài liệu thư viện: Hệ thống sách Hán Nôm, tài liệu phòng hạn chế đọc tại Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
- Khối tài liệu xuất bản và hồi ký: Các bộ chính sử triều Nguyễn, hồi ký, nhật ký ngoại giao, các bài khảo cứu trên tạp chí khoa học và nguồn dữ liệu từ các website nghiên cứu lịch sử chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Chương này dành toàn bộ dung lượng để tổng thuật và đánh giá hệ thống tư liệu lịch sử. Tác giả phân tích các nhóm công trình trong nước (gián tiếp và trực tiếp) và công trình của học giả nước ngoài về quan hệ Việt - Xiêm. Qua việc điểm luận hơn 200 tài liệu, tác giả khẳng định các nhà nghiên cứu đều thống nhất nhận định mối quan hệ song phương có tính chất phức tạp, đan xen giữa hòa dịu và xung đột quân sự vì vấn đề bảo hộ Chân Lạp và Ai Lao. Tác giả xác định ba nội dung then chốt cần tiếp tục làm rõ trong luận án: (1) Khảo sát toàn diện quan hệ qua từng triều vua Nguyễn, đặc biệt là giai đoạn hòa hoãn nhưng đề phòng dưới thời Tự Đức; (2) Phân tích sự chuyển dịch từ thuật ngữ "bang giao" truyền thống sang "quan hệ ngoại giao" hiện đại dưới sự áp đặt của thực dân Pháp giai đoạn 1883 - 1900; (3) Bổ sung các nguồn sử liệu lưu trữ mới được công bố.
Chương 2: Khái quát mối quan hệ Việt – Xiêm trước thế kỉ XIX
Chương 2 trình bày khái quát bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội của Đại Việt và Vương quốc Xiêm La từ thế kỉ XII đến cuối thế kỉ XVIII, làm rõ các tiền đề lịch sử định hình mối quan hệ giữa hai dân tộc.
Về phía Đại Việt, luận án khái quát tiến trình củng cố chế độ quân chủ trung ương tập quyền qua các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê Sơ; quá trình phân liệt Đàng Trong - Đàng Ngoài (thế kỉ XVI - XVIII) và phong trào Tây Sơn. Về kinh tế, Đại Việt từng bước phát triển nông nghiệp (đắp đê quai vạc năm 1248 dưới thời Trần, thực hiện phép quân điền thời Lê Sơ), mở rộng các phường thủ công và các thương cảng giao thương quốc tế (như Vân Đồn thành lập năm 1149, Phố Hiến, Hội An, Thị Nại).
Về phía Xiêm La, tác giả trình bày nguồn gốc cư dân Thái (nhóm ngôn ngữ Tày - Thái), quá trình di cư từ thượng nguồn Mê Kông - sông Hồng hòa nhập với cư dân Môn và Khơ-me bản địa, từng bước hình thành vương quốc Sukhothai, Ayutthaya, Thonburi và Rattanakosin.
Về diễn tiến quan hệ trước thế kỉ XIX:
- Giai đoạn thế kỉ XII - XV: Quan hệ chủ yếu thông qua hoạt động giao thương buôn bán và trình quốc thư, trao đổi sản vật địa phương giữa các sứ bộ.
- Giai đoạn thế kỉ XVI - XVIII: Mối quan hệ trở nên phức tạp do sự mở rộng ảnh hưởng của chính quyền Đàng Trong về phương Nam. Hoạt động ngoại thương đường biển diễn ra sôi nổi (thuyền buôn của chúa Nguyễn sang Ayutthaya mua da đanh năm 1633 - 1634; sự kiện tàu buôn chở chuông đồng đặt hàng cho vua Xiêm năm 1688 do William Dampier ghi nhận). Đồng thời, mâu thuẫn quân sự bắt đầu xuất phát từ sự tranh chấp quyền ảnh hưởng tại Chân Lạp và vùng đất Hà Tiên.
Văn bản trích xuất cứ liệu lịch sử năm 1702 ghi trong Đại Nam Thực lục về việc chúa Nguyễn xử lý thuyền buôn Xiêm La và quy định cơ cấu thu thuế thuyền ngoại thương:
| Khoản mục quy định |
Nội dung chi tiết theo ghi chép năm 1702 |
| Xử lý sự cố cứu nạn |
Thuyền đi cống của Xiêm La bị bão dạt vào bờ được chính quyền chúa Nguyễn sửa sang thuyền lái, cung cấp lương thực. |
| Cấp phát long bài |
Chúa Nguyễn cấp 01 tấm long bài (bác yêu cầu xin cấp 10 tấm) để làm bằng chứng khi thuyền công ghé các cửa biển. |
| Quy định ngạch thuế |
Thuyền giấu giếm hàng hóa bị tịch thu sung công; thuyền không chở hàng không được vào cửa biển. |
| Quy mô thu thuế hàng năm |
Số tiền thuế thu được từ thuyền buôn dao động từ 10.000 quan (ít nhất) đến hơn 30.000 quan (nhiều nhất). |
| Phân bổ nguồn thuế thu được |
Chia thành 10 phần: 6 phần nộp vào quốc khố, 4 phần cấp phát cho quan lại và quân nhân sở tại. |
| Trao đổi nhân sự |
Xiêm La trao trả 50 quân dân Gia Định bị bão dạt vào vùng biển Lục Khôn sau khi nhận thư biên thần. |
Về xung đột quân sự: Năm 1705, Chánh thống cai cơ Nguyễn Cửu Vân đánh tan quân Xiêm tại trận Sầm Khê, đưa Nặc Yêm về thành La Bích; tướng Mai Công Hương đục chìm thuyền vận tải lương thực để bảo toàn khí tiết, được phong thần "Vị quốc tử nghĩa". Cuối thế kỉ XVIII, sau trận Rạch Gầm - Xoài Mút (1785), quan hệ chuyển sang giai đoạn liên kết khi Nguyễn Ánh lưu vong sang Xiêm (1784 - 1787) và nhận sự trợ giúp về quân sự, vũ khí từ vua Rama I để chống lại triều Tây Sơn, hình thành nên cộng đồng người Việt tại vùng Bangpho và Chanthaburi.
Chương 3: Quan hệ Việt – Xiêm từ 1802 – 1847
Chương 3 là phần trọng tâm phân tích giai đoạn nửa đầu thế kỉ XIX qua ba triều vua Nguyễn:
-
Thời kỳ vua Gia Long (1802 - 1819): Quan hệ duy trì trạng thái hòa hiếu và thân thiện. Năm 1803, sứ thần Sá Phất Ba Ni sang hiến phương vật; năm 1806, Xiêm La gửi tặng 3 chiến thuyền. Về quy chế ngoại thương, triều đình quy định thuyền buôn Xiêm bị nạn chỉ được mua số lượng gạo vừa đủ ăn theo nhân khẩu và vẫn phải chịu thuế hàng hóa khi buôn bán. Nghi thức tiếp đón sứ thần được quy định chặt chẽ: Chánh phó sứ được cấp 50 quan tiền, Bồi sứ 30 quan, Thông ngôn 10 quan, quân theo hầu 3 quan; khi đến kinh đô được thết đãi 6 mâm yến tiệc. Năm Gia Long thứ 10, triều đình phái sứ bộ sang phúng viếng đám tang Phật vương Xiêm, tặng Phật vương mới 2.000 cân đường cát, đường phổi và đường phèn mỗi thứ 500 cân, 120 tấm lụa, 100 tấm vải.
-
Thời kỳ vua Minh Mạng (1820 - 1840): Giai đoạn đầu duy trì nghi lễ ngoại giao hòa mục. Năm Minh Mạng thứ 3, triều đình tặng Phật vương Xiêm 3 cân nhục quế, 100 tấm the sa trừ lụa; quy định sứ thần Xiêm được đứng chiêm ngưỡng xa giá tại cửa Tả Đoan trong lễ Nam Giao. Năm Minh Mạng thứ 5, sứ thần Nguyễn Văn Lễ, Nguyễn Hữu Thức, Trần Văn Hải mang thư và tặng phẩm (1.000 cân đường cát, 200 cân đường phèn, the màu các loại) sang thông báo cho Chiêu Phi Nhã Phật Lăng về việc Miến Điện xin thông sứ. Khi Phật vương Xiêm mất, vua Minh Mạng cho nghỉ chầu 3 ngày, cử sứ bộ mang 900 lạng bạc, 5.000 cân đường cát, 500 cân đường phèn, 300 cân sáp ong, 100 tấm lụa Cao bộ sang phúng viếng.
Tuy nhiên, quan hệ xấu đi nhanh chóng do hai sự kiện:
- Biến cố Vạn Tượng năm Minh Mạng thứ 8 (1827): Vua Vạn Tượng là A Nỗ bị quân Xiêm tấn công, chạy sang Nghệ An xin nương náu. Vua Minh Mạng cho cư trú, cử quan binh hộ tống A Nỗ về nước và cử sứ thần Lê Nguyên Huy mang quốc thư sang điều đình hòa giải với Xiêm. Sau đó, A Nỗ xảy ra xung đột kho tàng với tướng Xiêm; phái bộ Đại Nam gồm Cai đội Phan Văn Thống, Hiệp thủ Lê Đình Duật cùng 50 lính bị tướng Xiêm Thung Vi Sai phục kích giết hại tại đồn Bộ Khâm.
- Chiến tranh Việt - Xiêm (1833 - 1834): Quân Xiêm tràn sang tấn công các tỉnh Nam Kỳ theo lời cầu viện của cuộc nổi loạn Lê Văn Khôi tại thành Phiên An. Các tướng Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân, Tống Phước Lương và Thống chế Phạm Hữu Tâm tổ chức phản công, đánh tan hơn 100 thuyền chiến của Xiêm tại trận sông Cổ Hổ, chém chết đại đầu mục Phi Nhã Khổ Lạc. Triều đình ban hành chế độ khen thưởng và tấn phong tước vị:
| Tướng lĩnh triều Nguyễn |
Chiến công ghi nhận trong văn bản |
Tước vị / Khen thưởng được ban |
| Phạm Hữu Tâm |
Giữ đồn bên tả, bẻ gãy mũi tiến công của giặc tại cửa Thuận, sông Cổ Hổ, chém đầu mục Phi Nhã Khổ Lạc |
Thưởng 1 kim tiền Phi long nhỏ, 5 ngân tiền lớn; phong Tân Phúc nam, sau thăng Tân Phúc bá |
| Trương Minh Giảng |
Tiến quân phá giặc ở cửa Thuận, đánh thắng trận Phủ Lật, bình định cõi Cao Miên, quản lý thành Nam Vang |
Phong Bình Thành bá, gia hàm Đông các Đại học sĩ, Thái tử Thái bảo, giữ ấn Bảo hộ Cao Miên |
| Nguyễn Xuân |
Hai lần chặn đánh tan quân Xiêm, lập chiến công xuất sắc |
Tấn phong Tân Long hầu |
| Trần Văn Trí |
Lão tướng tự xin tòng quân đánh dẹp, lập công thu phục thành trì |
Phong Bình Khánh tử |
| Hồ Văn Khuê |
Tham gia việc quân, lập công trong các trận đánh hạ thành |
Phong Tân Thái tử |
- Thời kỳ vua Thiệu Trị (1841 - 1847): Chiến tranh tiếp diễn ác liệt tại chiến trường Chân Lạp từ năm 1841 đến 1845. Tháng 9/1845, tại hội quán lợp tranh giữa phòng tuyến, hai tướng Nguyễn Tri Phương và Doãn Uẩn đã tiến hành hội đàm với tướng Chất Tri (Bodindecha) của Xiêm La. Phía Xiêm La xin phục hồi bang giao hòa hiếu, đồng thuận để Nặc Ong Giun (Ang Duong) làm bề tôi triều cống chung cho cả hai nước Đại Nam và Xiêm La, đồng thời quân Xiêm rút khỏi căn cứ Ô Đông về nước.
Chương 4: Quan hệ Việt – Xiêm từ 1847 – 1884
Chương này khảo sát hai nội dung chính:
- Quan hệ thời vua Tự Đức (1847 - 1883): Xung đột quân sự trực tiếp chấm dứt. Trước nguy cơ thực dân phương Tây đe dọa (thực dân Anh áp sát Xiêm La; thực dân Pháp nổ súng xâm lược Đà Nẵng năm 1858 rồi chiếm Nam Kỳ), hai nước duy trì trạng thái hòa hoãn nhưng luôn thăm dò, cảnh giác lẫn nhau. Điển hình vào năm 1857 (Tự Đức thứ 10), khi Tuần phủ Định Tường Nguyễn Tường Vĩnh dâng sớ xin chủ động nối lại giao hiếu với Xiêm nhân việc Ô Thiệt vương trả 20 người dân Kinh bị dạt biển, Viện Cơ mật và Bộ Lễ đã bác bỏ tờ tấu nhằm giữ vững thể diện quốc gia, chỉ đạo Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương bí mật xem xét cơ hội, đáp lễ bằng cách trao trả khí giới và súng đã thu được trước đây.
- Thời kỳ thực dân Pháp tước quyền bang giao (1883 - 1900): Sau các Hòa ước Quý Mùi (1883) và Giáp Thân (1884), triều đình nhà Nguyễn mất quyền tự chủ đối ngoại. Chính quyền bảo hộ Pháp trực tiếp nắm quyền hoạch định ngoại giao với Xiêm La. Mối quan hệ chuyển đổi căn bản từ phương thức bang giao phong kiến truyền thống sang "quan hệ ngoại giao" mang tính thực dụng kiểu phương Tây, lấy quyền lợi kinh tế và phân định biên giới thuộc địa làm trọng tâm.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp khoa học mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Hoàn thiện bức tranh toàn diện và có hệ thống về quan hệ bang giao Việt - Xiêm trong suốt chiều dài thế kỉ XIX qua bốn triều vua Nguyễn (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức); đặc biệt làm sáng tỏ giai đoạn dưới triều Tự Đức và giai đoạn chuyển giao quyền ngoại giao sang tay người Pháp (1883 - 1900) mà các công trình trước chưa nghiên cứu sâu.
- Làm rõ các lĩnh vực tương tác chủ yếu (chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao) và chỉ ra các nhân tố cốt lõi chi phối quan hệ hai nước, trong đó nhân tố địa chính trị vùng đệm (Chân Lạp, Ai Lao) và áp lực xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây giữ vai trò quyết định.
- Bổ sung một hệ thống tư liệu lịch sử được tổng hợp từ nguồn chính sử Hán Nôm, hồ sơ lưu trữ thời Pháp thuộc và tài liệu quốc tế cho giới nghiên cứu Lịch sử bang giao Việt Nam.
- Cung cấp luận cứ lịch sử thực tiễn giúp các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách đối ngoại có cái nhìn khách quan về tiến trình quan hệ hai nước trong quá khứ; từ đó vận dụng vào đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hòa bình trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án phản ánh các giới hạn dựa trên phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài tập trung chủ yếu vào quan hệ chính trị, quân sự và bang giao cấp nhà nước giữa hai triều đình; các khía cạnh về giao lưu văn hóa phi chính thức, đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng ngoại kiều người Việt tại Xiêm La trong nửa sau thế kỉ XIX chưa được mở rộng phân tích thành các chương mục riêng biệt.
- Đối với 17 năm cuối thế kỉ XIX (1883 - 1900), nghiên cứu chủ yếu tiếp cận từ góc độ chuyển dịch thể chế ngoại giao của Pháp thay thế triều Nguyễn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục khai thác, dịch thuật các tài liệu lưu trữ Hoàng gia Thái Lan thuộc vương triều Bangkok và tài liệu lưu trữ hải ngoại của Pháp để làm sâu sắc hơn các góc nhìn đa chiều về quan hệ hai nước.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật chuyên sâu đối với:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Thế giới, Quan hệ quốc tế và Đông Nam Á học.
- Các nhà nghiên cứu lịch sử ngoại giao, lịch sử quân sự triều Nguyễn và lịch sử vùng đất Nam Bộ.
- Cán bộ làm công tác ngoại giao, các cơ quan hoạch định chính sách đối ngoại trong việc tham khảo kinh nghiệm ứng xử bang giao, giải quyết hòa bình các vấn đề an ninh biên giới và vùng đệm chiến lược.
- Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống trích dẫn chính sử chi tiết trong Chương 3 về các chiến dịch quân sự, quy chế đi sứ, định mức tặng phẩm ngoại giao và biên bản cuộc thương lượng hòa đàm năm 1845 tại Chân Lạp.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ chế quản lý thuế và cứu nạn đối với thuyền buôn Xiêm La được triều Nguyễn áp dụng như thế nào dưới thời vua Gia Long?
Theo ghi chép trong Đại Nam Thực lục, vào tháng 11 năm Quý Hợi (1803), khi thuyền buôn của thương nhân Ngô Mân Quan bị bão dạt vào cửa biển Cù Mông (Phú Yên), vua Gia Long đã ban sắc quy định: Đối với người buôn Xiêm La bị nạn, nhà nước chỉ bán số lượng gạo chiếu theo khẩu phần nhân khẩu vừa đủ dùng, không được bán nhiều tích trữ; đồng thời các thuyền có mang hàng hóa giao thương vẫn phải kê khai và nộp thuế theo đúng thể lệ hiện hành.
2. Biến cố Vạn Tượng năm 1827 đã làm bùng phát căng thẳng ngoại giao Việt - Xiêm như thế nào?
Tháng 3 năm Minh Mạng thứ 8 (1827), vua Vạn Tượng là A Nỗ bị quân Xiêm đánh đuổi, chạy sang Nghệ An nương nhờ. Triều đình Huế cho lưu trú và cử quan binh hộ tống A Nỗ về nước, đồng thời phái sứ thần Lê Nguyên Huy mang quốc thư sang Xiêm La giải thích. Tuy nhiên, khi về thành cũ, A Nỗ xung đột kho tàng với tướng Xiêm. Phái đoàn của triều Nguyễn gồm Cai đội Phan Văn Thống, Hiệp thủ Lê Đình Duật cùng 50 quân lính mang sắc dụ đến Vạn Tượng đã bị tướng Xiêm là Thung Vi Sai lừa đón rồi đánh úp giết chết, chỉ thả một số ít tùy tùng mang thư về báo, dẫn đến sự đổ vỡ quan hệ hòa hiếu giữa hai triều đình.
3. Trận đánh tiêu biểu nào tại Nam Kỳ đã chặn đứng cuộc tấn công của quân Xiêm vào cuối năm 1833?
Đó là trận giao chiến trên sông Cổ Hổ vào cuối năm 1833. Quân Xiêm dẫn hơn 100 binh thuyền từ Thuận Cảng tiến xuống chặn dòng sông và bao vây đồn bên tả của quân triều đình. Thống chế Phạm Hữu Tâm đã chỉ huy quân sĩ phòng thủ kiên cường, chém chết đại đầu mục Phi Nhã Khổ Lạc và hơn 20 quân lính đối phương. Sau đó, viện binh của Tham tán Trương Minh Giảng, Tướng quân Tống Phước Lương và Hồ Văn Khuê kịp thời tiếp ứng, đẩy lùi hoàn toàn đợt tiến công của quân Xiêm.
4. Thỏa thuận nghị hòa năm 1845 giữa triều Nguyễn và Xiêm La đã giải quyết vấn đề Chân Lạp ra sao?
Vào tháng 9 năm 1845 (năm Thiệu Trị thứ 5), tại hội quán tiền tuyến, các tướng Nguyễn Tri Phương, Doãn Uẩn đã hội đàm với tướng Chất Tri của Xiêm La. Hai bên thống nhất: Phía Xiêm La cam kết khôi phục tình hòa hiếu cũ; chấp thuận để Nặc Ong Giun (Ang Duong) làm vua Chân Lạp với tư cách phiên thuộc, thực hiện nghĩa vụ triều cống cho cả hai triều đình Đại Nam và Xiêm La; các đạo quân viễn chinh của Xiêm La do Chau Phi Nhã chỉ huy phải rút lui khỏi thành Ô Đông về bên kia biên giới.
5. Quan hệ bang giao Việt - Xiêm đã thay đổi về bản chất như thế nào trong giai đoạn 1883 - 1900?
Sau khi ký kết các hiệp ước năm 1883 và 1884 với thực dân Pháp, triều đình nhà Nguyễn bị tước quyền tự chủ đối ngoại. Toàn bộ các chính sách bang giao với các nước láng giềng, bao gồm Xiêm La, do chính quyền thực dân Pháp trực tiếp đại diện và điều hành. Tính chất quan hệ chuyển đổi từ mô hình "bang giao triều cống" phong kiến sang "quan hệ ngoại giao" hiện đại theo khuôn mẫu châu Âu, tập trung vào việc bảo đảm quyền lợi thương mại song phương và phân định ranh giới ảnh hưởng thuộc địa giữa Pháp và Xiêm La.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Quan hệ Việt - Xiêm trong thế kỉ XIX" của tác giả Nguyễn Văn Luận đã tái hiện một cách hệ thống và chi tiết tiến trình lịch sử bang giao giữa hai quốc gia từ năm 1802 đến năm 1900. Công trình làm sáng tỏ quy luật vận động đan xen giữa hòa hiếu ngoại giao, giao thương kinh tế và xung đột quân sự xung quanh không gian an ninh Chân Lạp - Ai Lao, đặc biệt khỏa lấp khoảng trống nghiên cứu dưới thời vua Tự Đức và giai đoạn thực dân Pháp kiểm soát ngoại giao. Dựa trên nguồn tư liệu chính sử Hán Nôm và hồ sơ lưu trữ phong phú, luận án là công trình nghiên cứu sử học có giá trị tư liệu cao, đóng góp thiết thực cho công tác đào tạo học thuật và cung cấp cơ sở lịch sử cho việc xây dựng chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác trong giai đoạn hiện nay.