Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án 1. Công trình nghiên cứu trong nước Trong những năm gần đây, tùy từng giai đoạn phát triển, và từng góc độ tiếp cận, các nhà nghiên cứu có những quan niệm khác nhau về PTNN theo hướng bền vững, theo đó, khái niệm PTNN theo hưóng bền vững cũng có cách tiếp cận và tiêu chí đánh giá khác nhau. Tại Việt Nam, có nhiều các đề tài nghiên cứu hoặc hội thảo khoa học về PTNN theo hướng bền vững được tiếp cận từ các phương pháp hoặc các lý luận truyền thống dựa trên những số liệu và những tổn thất đã xảy ra chưa áp dụng các phương pháp tính toán dự báo cho những tổn thất trong tương lai. Thời gian vừa qua, có một số công trình nghiên cứu áp dụng PTNN theo hướng bền vững như: (1) Đỗ Kim Chung và Kim Thị Dung trong “Nông nghiệp Việt Nam hướng tới phát triển bền vững” cho rằng: Mặc dù vẫn gặp phải những thách thức nhưng để phát triển bền vững nền nông nghiệp, cần thực hiện một số mục tiêu và giải pháp đột phá: Đối mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nông nghiệp, quy hoạch nông nghiệp theo hướng dựa vào thị trường mở, chủ động ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, giảm tác động bất lợi về môi trường, quản lý nước thải, giảm khí thải nhà kính; quán triệt tư duy nền kinh tế xanh trong phát triển nông nghiệp.
[34] (2) Vũ Trọng Bình (2013) trong “Phát triển nông nghiệp bền vững: Lý luận và thực tiễn” [127] chi ra có sáu yếu tố chính ảnh hưởng tới PTNN theo hướng bền vừng, đó là: (i) Hội nhập quốc tế; (ii) Phát triển công nghiệp, đô thị; (iii) Quy hoạch không gian giữa công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp; (iv) Quá trình hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; (v) Vai trò của nông dân; (vi) Chính sách PTNN. Qua phân tích, luận giải của tác giả cho thấy sáu yếu tố trên có ảnh hưởng rất lớn đến PTNN theo hướng bền vững trong điều kiện hiện nay. Về ảnh hưởng của hội nhập đến ngành nông nghiệp, tác giả Nguyễn Từ và các cộng sự (2010) trong công trình nghiên cứu “Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát triển nông nghiệp Việt Nam” [79] cho rằng, ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế đến ngành nông nghiệp Việt Nam có cả hai mặt: Tích cực và tiêu cực. Do đó, cần phải biết tận dụng ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực để nông nghiệp phát triển.
m 2 (3) Nguyễn Phi Hổ cho rằng "Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững phải bao hàm quản lý thành công TNTN nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người đồng thời cải tiến chất lượng môi trường và gìn giữ được TNTN" [tr. 12]; hoặc: Sản xuất nông nghiệp bền vững là cần chọn một biện pháp sản xuất để cây trồng, vật nuôi của chúng ta tiếp tục cho mỗi năm một lãi, chất lượng nguồn nước và đất đai hàng năm vẫn được duy trì tốt để thế hệ con cháu chúng ta tiếp tục được hưởng lợi từ đất và môi trường nước v. Quan niệm về SXNN theo hướng bền vững như trên cũng đã đề cập đến vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường trong quá trình phát triển. Vì vậy, các tiêu chí đánh giá PTNN theo hướng bền vừng về kinh tế chủ yếu dừng ở động thái hay mặt lượng của tăng trưởng nông nghiệp, như: (i) Năng suất cây trồng; (ii) Năng suất vật nuôi; (iii) Giá trị sản xuất (GTSX) cùa toàn ngành nông nghiệp và từng ngành riêng biệt; (iv) Tốc độ tăng của SXNN nói chung, của từng ngành riêng biệt, hoặc của từng sản phẩm cụ thể; (v) Giá trị sản xuất tính trên 1 ha đất nông nghiệp; (vi) Giá trị sản xuất do 1 lao động tạo ra; (vi) Cơ cấu giữa các ngành cùa SXNN.
Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc và hiệu quả tăng trưởng cùa ngành nông nghiệp chưa được bàn đến. Còn bền vững về xã hội đó là nâng cao thu nhập cho người dân và đảm bảo tính công bằng trong việc hưởng thụ các thành quả do phát triển mang lại. Tiêu chí đánh giá, gồm có: (i) Thu nhập bình quân một nhân khẩu/tháng; (ii) Tỳ lệ người nghèo; (iii) Trình độ dân trí của nông dân; (iv) kết cấu hạ tầng (KCHT) kinh tế - xã hội trên địa bàn. Bền vững về môi trường là bảo vệ và không ngừng nâng cao độ phì của đất, bảo vệ và nâng cao chất lượng nguồn nuớc và bào vệ rừng.
Tiêu chí phản ánh, gồm có: (i) Diện tích đất bị hoang hóa: (ii) Diện tích đất không được tưới tiêu hợp lý; (iii) Lượng phân hóa học, lượng thuốc trừ sâu, thuốc BVTV và các loại hóa chất sử dụng trong nông nghiệp; (iv) Tỷ lệ đất được bảo vệ. duy trì đa dạng sinh học; (v) Diện tích rừng và tỷ lệ che phủ rừng; (vi) số vụ và diện tích rừng bị cháy, bị chặt phá. Nhìn chung, mặc dù chưa đầy đủ, song nghiên cứu đã đưa ra hệ thống chỉ tiêu đánh giá PTNN theo hướng bền vững tương đối khá toàn diện. (5) Phí Văn Hạnh trong ‘"Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở vùng ĐBSH” [93] đưa ra 4 nội dung, gồm có: (i) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) nông nghiệp theo hướng bền vững; (ii) Nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả SXNN theo hướng bền vững; (iii) Tăng trưởng nông nghiệp toàn diện gắn với đảm bảo công m 3 bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo nâng cao đời sống nhân dân; (iv) Tăng trưởng nông nghiệp gắn với BVMT bền vững.
(6) Chu Tiến Quang “nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững” là sự thay đổi về quy mô các chuyên ngành sản xuất nông nghiệp theo hướng thích ứng nhiều hơn với nhu cầu thị trường đồng thời phát huy được lợi thế so sánh, tạo ra cơ cấu mang tính ổn định cao hơn và phát triên bền vững trong quá trình hội nhập quốc tế. Tái cơ cấu ngành nông nghiệp nhằm nâng cao NLCT và phát triển bền vững [13]. Đất đại thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được còn một số hạn chế, sử dụng chưa hiệu quả, lãng phí, thất thoát, tham nhũng… Để thuận lợi trong quản lý sử dụng cần chủ thể hóa thành các hình thức sở hữu, với các chủ thể cụ thể, sớm hình thành thị trường quyền sử dụng, để sử dụng đất đai một cách hiệu quả, tích tụ đất đai nâng cao vị thế hộ nông dân trong liên kết sản xuất.
Các tác giả đã khảo sát hoạt động dịch vụ của các hợp tác xã nông nghiệp và vai trò của nó với kinh tế hộ nông dân qua ý kiến đánh giá của các hộ xã viên tại 2 tỉnh Thái Bình và Hòa Bình. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các hộ xã viên đã sử dụng những dịch vụ cơ bản của hợp tác xã như: Cung ứng vật tư đầu vào nông nghiệp, Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, Bảo vệ thực vật, Thủy nông, Hỗ trợ quản lý sản xuất. Chất lượng các dịch vụ của hợp tác xã sau khi tham gia các hoạt động của Dự án MARD-JICA được xã viên đánh giá cao; hợp tác xã đã chứng tỏ vai trò quan trọng trong việc cung ứng các dịch vụ cho hộ xã viên. Hộ xã viên cũng khuyến nghị cần mở rộng quy mô và đa dạng hóa loại hình dịch vụ, như: cung cấp phân bón và vật tư đầu vào nông nghiệp; hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, canh tác bằng máy, cung ứng sản phẩm bảo vệ thực vật, hỗ trợ quản lý sản xuất của hộ.
(9) Nguyễn Đình Long, Nguyễn Thị Hải Yến (2017) phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ cao gắn với tái cấu trúc ngành nông nghiệp. Nội dung công trình đã làm rõ: Nông nghiệp theo hướng hiện đại, cácc tiêu chí phát triển nông nghiệp CNC, tái cấu trúc ngành nông nghiệp theo hướng thị trường, trên cơ sở tiềm năng và lợi thế so sánh hiệu quả và phát triển bền vững với các giải pháp quan m 4 trọng: Quy hoạch với tầm nhìn dài hạn, đổi mới chính sách đầu tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ứng dụng khoa học công nghệ. Hình thức sản xuất nông nghiệp hữu cơ ra đời chưa bao lâu, nhưng đến nay những nghiên cứu và tổng kết về nó đã được khá nhiều các nhà khoa học ở nhiều châu lục tiến hành. Từ những kết quả nghiên cứu đó, một chuyên ngành khoa học mới đã ra đời, đó là Nông nghiệp hữu cơ và đã được đưa vào để giảng dạy trong các trường đại học chuyên ngành nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam.
Giáo trình này cung cấp cho người đọc những kiến thức cơ bản nhất về nông nghiệp hữu cơ và kỹ thuật trồng trọt trong nông nghiệp hữu cơ để tiếp cận và thực hiện việc chuyển giao cho sản xuất Nghiên cứu này tập trung vào nhận thức của người nông dân về 17 dịch vụ hệ sinh thái và 15 dịch vụ nông nghiệp ở Kashmir - một khu vực miền núi ở Ấn Độ. Người nông dân đánh giá tầm quan trọng của tất cả các dịch vụ hệ sinh thái nông nghiệp cũng như việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp nhưng họ không thể tiếp cận và quản lý chúng một cách hiệu quả. Nông dân tiết lộ mối lo ngại về tính dễ bị tổn thương của nông nghiệp khi không được cung cấp đầy đủ các dịch vụ hệ sinh thái và mong muốn có những nhà cung cấp dịch vụ một cách chuyên nghiệp, với chi phí hợp lý. Nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết của một chính sách nông nghiệp của Chính phủ Ấn Độ để khuyến khích các hoạt động đầu tư, cung cấp dịch vụ hệ sinh thái với giá cả hợp lý cho người nông dân.
(11) Nguyễn Thị Tố Quyên trong “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng trường kinh tế mới” [75] cho rằng, các nguồn lực đầu vào như: Vốn, đất đai, chất lượng lao động, KCHT có ảnh hường đến PTNN theo hướng bền vững vì đây là điều kiện để phát triển SXNN. Hermando de Soto sau khi phân tích sự phân tán vốn trong nông nghiệp nông thôn, ông cho rằng, bất kỳ quốc gia nào cũng cần huy động các nguồn vốn, nhất là đất đai để phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp. Chỉ cần trao cho họ quyền tài sản sẽ chuyển hóa thành vốn.