Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Nghiên cứu lý thuyết về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực * Nghiên cứu lý thuyết về nguồn nhân lực Tùy vào cách dịch thuật và cách tiếp cận, “nguồn nhân lực” có nhiều cách gọi khác nhau như: nguồn lao động, vốn con người, vốn nhân lực, sức lao động…. Trong đó, lý thuyết về nguồn nhân lực được phân tích theo ba nội dung chính: nội hàm khái niệm, vai trò đối với tăng trưởng kinh tế và các nhân tố ảnh hưởng.
Các nghiên cứu tiêu biểu là: Theo góc độ kinh tế chính trị, kế thừa và phát triển những lý thuyết về lao động của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh, Karl Marx trong “Học thuyết giá trị thặng dư” thuộc tác phẩm kinh điển “Bộ Tư bản”[18] đã chỉ ra sức lao động là năng lực lao động của con người bao gồm thể lực và trí lực, là yếu tố trực tiếp và quan trọng nhất tạo ra giá trị thặng dư, sức lao động được sản xuất và tái sản xuất thông qua quá trình tiêu dùng tư liệu sinh hoạt của người lao động. Theo góc độ kinh tế phát triển, các nhà khoa học như Robet Solow với cuốn sách “A Contribution to the Theory of Economic Growth” (1956) [118], Robert. Lucas “On the mechanics of economic development” (1988) [117], Theodore W. Schultz “Invesment in human capital” (1971) [122] đã nghiên cứu vốn con người hay vốn nhân lực trong các lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh, tăng trưởng nội sinh.
Điểm chung của các tác giả này đều lý giải vốn con người là tổng thể của kiến thức, thói quen, thuộc tính xã hội và nhân cách, bao gồm cả sự sáng tạo, thể hiện ở khả năng thực hiện lao động để tạo ra giá trị kinh tế. Vốn con người và quá trình đầu tư làm tăng vốn con người thông qua giáo dục có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo ra sự thịnh vượng của một quốc gia do (1) mang lại cho mỗi cá nhân trình độ nhất định để làm việc và thu nhập tương ứng; (2) thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đặc biệt trong hoạt động đổi mới sáng tạo thì kết quả càng phụ thuộc chặt chẽ vào trình độ và năng lực của con người; (3) góp phần tạo nên sự phát triển bền vững của xã hội. 11 Cùng quan điểm trên, cuốn sách “Human Capital” của Gary Becker (1993) [105], đạt giải Nobel Kinh tế học đã chỉ ra mọi cá nhân đều nắm giữ một nguồn vốn con người, có nghĩa là những khả năng bẩm sinh lẫn sở đắc từ sự đầu tư của con người thông qua chi phí vật chất, thời gian, nỗ lực cá nhân. Những khoản đầu tư vào vốn con người như đào tạo, giáo dục, y tế đóng vai trò quan trọng không kém sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và có thể thu hồi bằng khoản thu nhập tăng thêm trong tương lai.
Tác giả chỉ ra trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt trên thị trường lao động thì những người có học vấn, tay nghề và kỹ năng thấp khó cạnh tranh được những người có trình độ học vấn, kỹ năng tay nghề cao. Và khi đó, họ trở thành “nhóm người yếu thế” phải làm những việc có thu nhập thấp hoặc không có việc làm. Muốn thoát khỏi tình trạng này, họ buộc phải nâng cao vốn nhân lực. Theo góc độ kinh tế nguồn nhân lực, “Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực” của Trần Xuân Cầu chủ biên (2019) [20] đã tổng hợp những vấn đề lý thuyết về vai trò nhân tố con người trong phát triển kinh tế- xã hội, mối quan hệ giữa dân số và nguồn nhân lực, năng lực của nguồn nhân lực, các nhân tố nâng cao năng lực nguồn nhân lực, thị trường lao động, năng suất lao động, tiền lương và thu nhập… Các nhà lý thuyết như D.
Donbush trong cuốn “Economics” [103], Christian Batal trong “Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước” [102], Bernard Wyne và David Stringer trong “A competency based aproach to training and development” [101] đã không ngừng phát triển những quan niệm về nghiệp vụ chuyên môn, năng lực nghề nghiệp, năng lực làm việc. Đặc biệt, Christal Batal đã phân biệt sự khác biệt giữa “nghiệp vụ chuyên môn” và “năng lực”, ông chỉ ra rằng “nghiệp vụ chuyên môn” tương đối “tĩnh”, đóng khung trong một số hoạt động cụ thể, “năng lực” mang tính linh hoạt hơn trong bối cảnh việc làm biến động không ngừng hiện nay. Phân tích “năng lực làm việc” cho phép đánh giá chính xác khả năng chuyển đổi và di chuyển việc làm. Năng lực của người lao động gồm kiến thức (knowledge), kỹ năng (skill) và thái độ (attiude).
Những nghiên cứu trên đã đặt nền móng cho mô hình KSA ra đời và được sử dụng phổ biến trong đánh giá chất lượng nguồn nhân lực ngày nay. * Nghiên cứu lý thuyết về phát triển nguồn nhân lực Lý thuyết về phát triển nguồn nhân lực được nghiên cứu ở phạm vi tổ chức và phạm vi quốc gia: 12 Ở phạm vi tổ chức có các nghiên cứu tiêu biểu như “Giáo trình phát triển nguồn nhân lực” của Vũ Hoàng Ngân, Phạm Thị Bích Ngọc chủ biên (2019) [50], “Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực” của Bùi Văn Danh (2011) [22]. Các tác giả đã tổng hợp những lý thuyết về phát triển nguồn nhân lực như nguồn gốc của phát triển nguồn nhân lực, mối liên hệ giữa quản trị nguồn nhân lực, quản trị chiến lược và phát triển nguồn nhân lực, các yếu tố cấu thành phát triển nguồn nhân lực trong quy mô doanh nghiệp. Ở phạm vi quốc gia có các nghiên cứu như “Giáo trình phát triển nguồn nhân lực: Dành cho học viên ngành Quản lí giáo dục” của Nguyễn Hữu Long (2007) [45], bài tạp chí “Một số vấn đề về lý luận phát triển nguồn nhân lực” của Nguyễn Lộc (2010) [46], bài báo “Một số vấn đề về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực” của Võ Xuân Tiến (2012) [72], cuốn sách “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam” của Nguyễn Hữu Dũng (2003) [24].
Các nhà nghiên cứu đã tổng hợp những vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực ở phạm vi quốc gia như nội hàm khái niệm, các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực, chiến lược phát triển nguồn nhân lực, mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực, tầm quan trọng của đào tạo đối với phát triển nguồn nhân lực. Nghiên cứu về AEC và tác động của AEC đến nguồn nhân lực các nước ASEAN Với tư cách trụ cột quan trọng nhất trong ba trụ cột của AC, sự hình thành của AEC đã thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả trong và ngoài nước. Nhằm giới thiệu về AEC, cuốn sách “Cộng đồng kinh tế ASEAN, nội dung và lộ trình” của Nguyễn Hồng Sơn chủ biên (2009) [55],“Sổ tay tuyên truyền về hội nhập ASEAN và cộng đồng kinh tế ASEAN” của Thái Sơn, Lệ Nhung, Duy Quang (2015) [58], “Tài liệu tuyên truyền về Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và các vấn đề liên quan” (2017) của Bộ Công Thương [11] đã cung cấp những thông tin chi tiết về AEC như cơ sở thực tiễn của việc hình thành AEC, mục tiêu cơ bản của AEC, cập nhật những bước phát triển mới của AEC qua các cam kết, hiệp định, tác động của AEC đến thị trường hàng hóa, dịch vụ, tài chính, đầu tư, lao động… của các quốc gia ASEAN. 13 Ở cách tiếp cận AEC trong tương quan với các hình thức liên kết kinh tế khác trên thế giới, cuốn sách “Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC): bối cảnh và kinh nghiệm quốc tế” của Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Anh Thu (2015) [56] đã cung cấp những kinh nghiệm hội nhập của một số khu vực trên thế giới như Châu Âu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ cho quá trình hiện thực hóa AEC, phân tích việc thực hiện AEC theo các trụ cột, đánh giá các kết quả đạt được, tác động của chủ nghĩa song phương, đa phương trên thế giới, sự nở rộ của các Hiệp định thương mại tự do khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đến AEC… Cùng hướng tiếp cận nhưng bài báo “Vận dụng bài học kinh nghiệm liên minh Châu Âu trong việc xây dựng khuôn khổ pháp luật chung cho Cộng đồng Kinh tế ASEAN” của Võ Thanh Tùng, Hoàng Thị Minh Châu (2019) [85] tập trung đánh giá, phân tích kinh nghiệm pháp lý của liên minh Châu Âu nhằm xây dựng khuôn khổ pháp luật chung cho AEC.
Nghiên cứu riêng về cam kết di chuyển lao động tự do trong AEC và ảnh hưởng đến nguồn nhân lực các nước ASEAN, nổi bật nhất là nghiên cứu của ADB, ILO (2014), “ASEAN community 2015 – Integration for better jobs and share prosperity” [93], nghiên cứu của European Chamber of Commerce, Singapore & European Foundation (2015) “Human development priorities for the ASEAN development priorities for the ASEAN ecomonic community” [104]. Tại đây, các nhà khoa học đã tổng hợp các cam kết của AEC về tự do di chuyển lao động như hiệp định di chuyển thể nhân, các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau, khung trình độ ASEAN…; vạch ra cơ hội và thách thức AEC mang lại cho lao động các quốc gia; phân tích tình hình lao động của các nước ASEAN trong bối cảnh AEC chuẩn bị hình thành, định hướng cho chính phủ các nước những chính sách phát triển nguồn nhân lực cần thiết để thực hiện được mục tiêu của AEC. Cùng nội dung như trên nhưng chỉ tập trung phản ánh thực trạng nguồn nhân lực các nước ASEAN trước ngưỡng cửa AEC có nghiên cứu “Survey of ASEAN employers on skills and competitiveness” của ILO (2014) [109] và “Human Capital Outlook Association of Southeast Asian Nations (ASEAN)” của WEF (2014) [133]. Nếu nghiên cứu của ILO cung cấp những kết quả khảo sát chuyên sâu về kỹ năng và năng lực cạnh tranh của người lao động các nước ASEAN, thì nghiên cứu của WEF mang lại cái nhìn tổng thể về tình hình nguồn nhân lực ASEAN trong tương 14 quan với nguồn nhân lực các khu vực kinh tế khác trên thế giới với hệ thống bảng, biểu đồ phong phú, chi tiết.
Cùng hướng nghiên cứu của ILO nhưng bài viết “Tổng quan về nguồn lao động của các quốc gia khu vực Đông Nam Á” của Lê Mỹ Hương (2019) [36] đã bổ sung thêm những số liệu mới về lực lượng lao động và năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực các nước ASEAN. Ngoài ra, AEC và tác động của AEC đến nguồn nhân lực các nước thành viên còn được đề cập gián tiếp thông qua các nghiên cứu trong và ngoài nước về di chuyển lao động nội khối.