Chương 1. Tổng quan nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của các doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của các doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Việt Nam.
Phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của các doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Việt Nam. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu các công trình, đề tài liên quan đến đề tài luận án Trong tổng quan tình hình nghiên cứu, NCS tổng hợp các công trình khoa học liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án, bao gồm 4 vấn đề: 1) Nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC); 2) Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; 3) Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của các doanh nghiệp NNUDCNC; 4) Yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Các nghiên cứu về nguồn nhân lực chất lượng cao Nghiên cứu quan điểm về nguồn nhân lực chất lượng cao, các tác giả có các cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu khác nhau khi bàn về NNL, song khi bàn về NNLCLC họ đều đề cập đến vấn đề trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, năng lực làm việc, sự đam mê, cống hiến.
Từ thời của Mác, dù chưa đề cập đến thuật ngữ NNLCLC nhưng Mác đã nêu ra quan niệm về những người có trình độ, có khả năng ứng dụng những thành tựu của khoa học – kỹ thuật vào sản xuất, đó là những con người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông và nắm nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn (C. Theo Richard Blackburn and Benson Rosen (1993) trong nghiên cứu “Chất lượng và quản trị nhân lực: Bài học từ công ty Baldrige Award” đưa ra rằng: NNLCLC là những người có nhận thức xã hội và kỹ năng làm việc cao thể hiện qua hiệu quả công việc. Đồng quan điểm này, Tiona VanDevender (2012) trong cuốn sách “Quản trị nhân lực chất lượng toàn diện” cũng đưa ra rằng: NNLCLC là những người có sức khoẻ, có năng lực thực hành nghề nghiệp tốt, có khả năng đáp ứng được với công việc của tổ chức trong cả hiện tại và tương lai. Ở Việt Nam, NNLCLC được coi là khái niệm để chỉ một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định, có kỹ năng lao động giỏi, có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất, có sức khoẻ và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao (Nguyễn Chí Tân & ctg, 2011).
Đồng tình với quan điểm trên, tác giả Trịnh Duy Luân (2016) trong nghiên cứu “Một số vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH” đưa ra quan điểm rằng “NNLCLC là nguồn nhân lực có chất lượng về trí tuệ và tay nghề cao, có khả năng tạo ra những lợi thế cạnh tranh về nhân lực cho quốc gia, có năng lực ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và tri thức khoa học vào việc mở rộng những ngành nghề mới cho xã hội”. Theo Chu Hảo (2012) thì “nhân lực chất 9 lượng cao trước hết phải được thừa nhận trên thực tế, không phải ở dạng tiềm năng. Điều đó có nghĩa là nó không đồng nghĩa với học vị cao. NNLCLC là những người có năng lực thực tế hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách xuất sắc nhất, sáng tạo và có đóng góp thực sự hữu ích cho công việc của xã hội”.
Hiện nay, đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về NNLCLC nhưng được sử dụng dưới những thuật ngữ khác nhau như: nhân tài, đội ngũ tri thức, đội ngũ chuyên gia… Cụ thể: Hoàng Văn Châu (2009), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho hội nhập kinh tế - Vấn đề cấp bách sau khủng hoảng; Nguyễn Văn Khánh (2018), Nguồn lực trí tuệ Việt Nam - Lịch sử, hiện trạng và triển vọng; Trần Văn Tùng (2005), Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng; Nguyễn Thị Thanh Hà (2014), Đội ngũ trí thức Giáo dục Đại học Việt Nam trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá; Phạm Công Đoàn (2021), Tuyển dụng nhân tài cho doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình chuyển đổi số… Nghiên cứu tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao, tác giả Hồ Bá Thâm (2014) trong bài viết “Nhân lực chất lượng cao: Quan niệm và nhu cầu hiện nay. Liên hệ với trường hợp tỉnh Lâm Đồng” nghiên cứu tập trung vào NNLCLC, nhu cầu, đào tạo và sử dụng. Tác giả cho rằng NNLCLC phải là người tốt nghiệp từ cao đẳng-đại học trở lên, nhưng phải từ loại khá-giỏi. Tác giả cũng cho rằng NNLCLC với 4 đặc trưng chính: có trí tuệ, nhân cách, tay nghề vượt trội và có năng lực thực tế hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách xuất sắc nhất so với mặt bằng chung, phù hợp với nền kinh tế-xã hội hiện đại mang tính chất tri thức.
Bộ tiêu chí do Hồ Bá Thâm đề xuất STT Tiêu chí 1 Đạo đức nghề nghiệp: tinh thần kỷ luật, ý thức trách nhiệm, tinh thần dân chủ, hợp tác, và ý thức vì tập thể, cộng đồng cao 2 Trình độ: tốt nghiệp cao đẳng-đại học trở lên 3 Năng lực chuyên môn: mức độ thành thạo nghiệp vụ cao 4 Kỹ năng xã hội: kỹ năng làm việc nhóm, khả năng thay đổi, thích ứng nhanh, hội nhập cao 5 Ý chí vượt khó, bền bỉ, năng lực kìm chế bản thân 6 Tinh thần và phương pháp đột phá, sáng kiến, sáng tạo trong công việc 7 Năng lực tự học, tự rút bài học kinh nghiệm bản thân, biết học hỏi đồng nghiệp, làm mới mình, thể hiện tiềm lực làm việc lâu dài 8 Năng lực thực tế tạo nên kết quả cao và vượt trội, có năng lực cạnh tranh, có đóng góp thực sự hữu ích cho công việc của xã hội. (Nguồn: Hồ Bá Thâm, 2014) 10 Theo cách đánh giá của tác giả Phùng Rân (2008) trong “Chất lượng nhân lực-bài toán cần có lời giải đồng bộ” thì năng lực hoạt động của nguồn nhân lực thuộc về chuyên môn của nguồn nhân lực. Thông qua học tập, rèn luyện có thể đạt được và có thể đánh giá, điều chỉnh được dễ dàng. Tiêu chí về phẩm chất thì rất khó đánh giá và điều chỉnh do có nhiều quan điểm khác nhau về đạo đức.
Tiêu chí do Phùng Rân đề xuất STT Tiêu chí 1 Năng lực hoạt động thông qua đào tạo, huấn luyện, thời gian làm việc: học hàm, học vị, cấp bậc công việc, kỹ năng giải quyết công việc… 2 Phẩm chất đạo đức: trình độ nhận thức về chính trị, ý thức chính trị, nếp sống văn hoá, quan hệ xã hội của NNL… (Nguồn: Phùng Rân, 2008) Tác giả Lê Thi ̣ Ngân (2005) trong nghiên cứu “Nâng cao chấ t lượng nguồ n nhân lực tiế p cận kinh tế tri thức ở Việt Nam” đã nghiên cứu thực tra ̣ng chấ t lươṇ g nguồ n nhân lực của Việt Nam và nâng cao chấ t lươṇ g nguồ n nhân lực tiế p cận kinh tế tri thức của Việt Nam bao gồ m nâng cao năng lực thể chấ t và năng lực tinh thầ n sáng ta ̣o, tìm kiế m, phát hiện thông tin và vật chấ t hoá thông tin thành sản phẩ m và công nghệ mới, từ đó nâng cao năng lực sáng ta ̣o đổ i mới là đặc điể m nổ i bật của chấ t lươṇ g nguồ n nhân lực tiế p cận kinh tế tri thức của công trình nghiên cứu. Tác giả Lê Thị Hồng Điệp (2010) trong luận án tiến sĩ “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam” cũng đưa ra ba điểm cốt lõi gắn liền với NNLCLC (1) trình độ được đào tạo cao; (2) phẩm chất đạo đức tốt; (3) khả năng đáp ứng được yêu cầu phức tạp của công việc trong những ngành có đóng góp quyết định vào sự tăng trưởng của nền kinh tế. Tác giả Bùi Sỹ Tuấn (2012) trong luận án tiến sĩ “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động của Việt Nam đến năm 2020” đã chỉ ra rằng trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá như hiện nay thì chất lượng nguồn lao động là một trong những yếu tố quan trọng cho sự thắng thế trong cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Chất lượng lao động thấp là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro của lao động.
Trong luận án tiến sĩ “Đào tạo nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp nội dung số Việt Nam” của Đinh Thị Hồng Duyên (2015) đã cung cấp những bằng chứng thực nghiệm quan trọng về tác động của những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đào tạo NNL. Nghiên cứu cũng đã khẳng định khác với nhân lực cho lĩnh vực phần mềm hay phần cứng, nhân lực cho ngành nội dung số cần hội tụ 3 yếu tố: công nghệ-kinh doanh và nghệ thuật. Vì vậy, đây là lực lượng lao động có chất lượng cao, khá độc đáo và có tính sáng tạo. Với tác giả 11 Nguyễn Thị Hồng Cẩm (2011) trong Luận án tiến sĩ “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam” đã tìm hiểu và trình bày khái quát nhất về hiện trạng chất lượng NNL và quy trình công nghệ sản xuất đồ mộc hiện đại trong công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam; trong đó đã chỉ ra các tiêu chí đánh giá chất lượng NNL trong DN gồm ba nhóm tiêu chí lớn là trí lực, thể lực và tâm lực.
Trong đó, (1) trí lực được thể hiện thông qua quy mô và cơ cấu trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kỹ năng; (2) thể lực được thể hiện thông qua quy mô và cơ cấu thể chất, mức độ cân đối của thể lực; (3) tâm lực được thể hiện thông qua thái độ làm việc, tâm lý làm việc và khả năng chịu áp lực công việc.