Tổng quan luận án
Đề tài "Pháp luật về phân cấp quản lý kinh tế tại Việt Nam" được tác giả Trần Thị Mai Phước thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Duy Nghĩa, bảo vệ năm 2023 tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số: 9380107).
Về tính cấp thiết, xu thế quản trị công thế kỷ XXI đánh dấu sự dịch chuyển từ mô hình cai trị truyền thống sang mô hình quản trị nhà nước tốt thông qua tiến trình phi tập trung hóa (decentralization). Tại Việt Nam, chủ trương phân cấp quản lý đã được triển khai qua hơn 30 năm Đổi mới, thể chế hóa trong Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật chuyên ngành. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ này vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Tư duy quản lý mang tính mệnh lệnh hành chính, cơ chế "nắm to, buông nhỏ" tạo áp lực khiến chính quyền địa phương phải "xé rào" hoặc tìm kiếm cơ chế đặc thù. Mặt khác, xu hướng phân cấp dàn trải, cào bằng dẫn đến tình trạng cạnh tranh nội bộ, đầu tư trùng lặp vào các công trình hạ tầng như sân bay, cảng biển, khu công nghiệp và phát sinh nguy cơ cát cứ quyền lực. Tác giả nhận diện khoảng trống nghiên cứu cốt lõi gồm: sự thiếu thống nhất về lý luận pháp lý phân cấp quản lý kinh tế; sự khiếm khuyết của chế định phân cấp trong hệ thống pháp luật hiện hành; và sự thiếu vắng cơ chế pháp lý kiểm soát tình trạng phân tán thể chế tại các địa phương.
Mục tiêu tổng quát của luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng pháp luật về phân cấp quản lý kinh tế, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành tại Việt Nam. Để đạt mục tiêu này, tác giả xác định ba nhiệm vụ: nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu đánh giá và nghiên cứu so sánh kinh nghiệm quốc tế.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án được đánh số cụ thể gồm:
- Pháp luật phân cấp quản lý kinh tế là gì, vì sao phải nghiên cứu vấn đề này tại Việt Nam và việc nghiên cứu dựa trên những lý thuyết cơ bản nào?
- Cơ sở lý luận về phân cấp quản lý và pháp luật về phân cấp quản lý kinh tế tại Việt Nam là gì? Việt Nam có thể tham khảo được kinh nghiệm gì của thế giới?
- Thực trạng pháp luật về phân cấp quản lý kinh tế tại Việt Nam hiện nay như thế nào? Những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó?
- Có thể đưa ra những giải pháp gì để hoàn thiện pháp luật về phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam?
Tương ứng với các câu hỏi trên, bốn giả thuyết nghiên cứu được xác lập:
- Việt Nam là một nhà nước đơn nhất, không có truyền thống phân quyền triệt để cho các tỉnh, thành; từ Đổi mới đến nay, các yếu tố phân quyền trong quản lý kinh tế dần hình thành nhưng nội hàm phân quyền không đồng nhất với quan niệm của nhiều quốc gia trên thế giới.
- Những vấn đề lý luận về phân cấp quản lý và pháp luật về phân cấp quản lý kinh tế tại Việt Nam chưa được làm rõ, các khái niệm chưa được định nghĩa chuẩn xác dẫn đến khó khăn trong xác định thứ bậc pháp lý; trong khi đó, các mô hình phân quyền trên thế giới cung cấp nhiều giá trị tham khảo.
- Hệ thống pháp luật phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam tuy đạt được kết quả ban đầu nhưng quy định còn bất cập và khâu tổ chức thực hiện bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục.
- Vấn đề phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam chưa hoàn thiện về mặt thể chế và thiếu cơ chế bảo đảm thực thi, đòi hỏi phải xây dựng các định hướng cải cách và giải pháp đồng bộ.
Về đối tượng nghiên cứu, luận án tập trung vào các quy định pháp luật về phân cấp quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế tại Việt Nam, thực tiễn thi hành các quy định này và pháp luật phân quyền của một số quốc gia được lựa chọn đối sánh. Phạm vi nghiên cứu được xác định:
- Về nội dung: Nghiên cứu tổng thể khía cạnh pháp luật điều chỉnh quan hệ phân cấp quản lý nhà nước về kinh tế giữa trung ương và chính quyền địa phương cấp tỉnh, không nghiên cứu phân cấp quản lý cán bộ, công chức hay đi sâu vào kỹ thuật nghiệp vụ chuyên ngành hẹp.
- Về không gian: Quan hệ quản lý giữa cơ quan nhà nước ở trung ương và chính quyền 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; không khảo sát văn bản quy phạm pháp luật của từng địa phương và không nghiên cứu phân cấp đối với các tập đoàn kinh tế nhà nước.
- Về thời gian: Khảo sát trọng tâm từ thời kỳ Đổi mới (1986) đến năm 2023, tập trung phân tích sâu giai đoạn thi hành Hiến pháp năm 1992 và đặc biệt từ khi ban hành Nghị quyết số 08/2004/NQ-CP ngày 30/6/2004 của Chính phủ đến nay; đồng thời truy nguyên thuật ngữ từ năm 1945.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu được tác giả phân chia thành hệ thống tài liệu quốc tế và tài liệu trong nước, phản ánh hai trục nội dung chính: quy định pháp luật và thực tiễn thực thi.
Về tài liệu quốc tế, nhóm nghiên cứu về phân cấp và quản trị công gồm các công trình của Alex Brillantes JR (2004) khảo sát hệ thống đạo luật phân cấp tại các quốc gia châu Á; D. Cheema và Friedman (1983) nhận định về sự phụ thuộc của chính quyền địa phương vào trung ương tại Nam Á và Đông Nam Á; Arun Agrawal và Jesse C. Ribot (1999) xây dựng khung phân tích trách nhiệm giải trình gắn với bốn loại quyền lực ra quyết định (tương ứng lập pháp, hành pháp, tư pháp). S. Chiavo-Campo và P. Sundaram (2003) phân tích mô hình phân công trách nhiệm giữa trung ương và địa phương. Anwar Shah (2004) và Anwar Shah cùng Sana Shah (2006) làm rõ xu hướng phân cấp tài khóa (fiscal decentralization), nguyên tắc bổ trợ (principle of subsidiarity) và sự dịch chuyển cơ cấu quản trị từ thế kỷ 20 sang thế kỷ 21. Robinson và Acemoglu (2012) phân tích vai trò quyết định của thể chế đối với sự thịnh vượng quốc gia. Matthew Busch (2017) và Báo cáo Vietnam 2035 của Ngân hàng Thế giới cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2016) chỉ ra các điểm nghẽn thể chế kinh tế tại Việt Nam, đặc biệt là tình trạng manh mún quyền lực và nhu cầu thiết lập cấp quản lý vùng.
Khảo sát kinh nghiệm quốc tế theo mô hình phân quyền được luận án tổng thuật qua bốn nhóm:
- Mô hình phân quyền theo nguyên tắc điều chỉnh: Young James T (1897) nghiên cứu lịch sử phân quyền tại Anh; Kyoung-Ryung Seong (1998) nghiên cứu mô hình kết hợp tập trung và phân tán tại Hàn Quốc.
- Mô hình phân quyền theo nguyên tắc bổ trợ: André Kaiser và Stephan Vogel (2019) nghiên cứu sự phi tập trung hóa năng động tại Đức; Turner, Ed và Carolyn Rowe (2015) phân tích hiện tượng "cuộc đua xuống đáy" (race to the bottom) và "cuộc đua lên đỉnh" (race to the top); Hiroshi Ikawa (2018) nghiên cứu cải cách phân cấp tại Nhật Bản qua cơ chế ủy nhiệm cơ quan.
- Mô hình phân quyền song trùng trực thuộc: Pierre F. Landry (2008) và Wu Ling (2013) nghiên cứu thể chế phân quyền tại Trung Quốc; Leonardo Romeo (2015) nhận định Việt Nam là quốc gia áp dụng Luật Ngân sách nhà nước để điều chỉnh trách nhiệm tài khóa giữa các cấp thay vì ban hành Luật Phân quyền chuyên biệt.
- Mô hình phân quyền song trùng giám sát: Alistair Cole (2006, 2011), John Loughlin (2007), Emmanuel Brunet-Jailly (2007) và Thoenig Jean Claude (2011) phân tích tiến trình cải cách pháp luật phân cấp từ dưới lên tại Pháp từ năm 1982 đến 2004.
Về tài liệu trong nước, nhóm nghiên cứu quy định pháp luật gồm Đinh Văn Linh (2021), Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Thanh Minh (2022) phân tích thẩm quyền ban hành định mức chi và nguồn thu ngân sách địa phương theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2015; Vũ Thúy Hiền (2018) nghiên cứu phân cấp quản lý công chức; Phạm Hồng Thái (2011), Võ Thị Thúy Kiều cùng cộng sự (2020), Đỗ Ngọc Tú (2020) chỉ ra tính thiếu đồng bộ giữa các luật chuyên ngành và tính áp đặt từ trên xuống. Nhóm nghiên cứu thực tiễn thi hành gồm Lê Xuân Bá (2010) và Nguyễn Minh Phong (2013) về hiệu quả đầu tư công; Đặng Hùng Võ (2012) về phân định thẩm quyền quản lý và giám sát đất đai giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Uông Chu Lưu (2015) về xóa bỏ chế độ bộ chủ quản; Lê Nam (2017) về sự trỗi dậy của cát cứ địa phương và cơ chế xin - cho; Trịnh Thị Ái Hoa (2021) và Lê Ngọc Hưng (2021) về phân định quyền tài sản và tự chủ địa phương; cùng các công trình luận án tiến sĩ kinh tế về ngân sách của Dương Thị Linh (2019), Phạm Ngọc Dũng (2019), Bùi Thị Thùy Nhi (2019) phân tích nhược điểm của mô hình ngân sách lồng ghép.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết bao gồm: xác lập hệ thống khái niệm chuẩn hóa phân định rõ "phân cấp", "phân quyền", "phân cấp quản lý", "tản quyền", "ủy quyền"; xây dựng cơ sở khoa học để thiết kế chế định phân cấp quản lý trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương thay vì phân tán trong các đạo luật chuyên ngành; giải quyết nghịch lý giữa phân cấp và ngăn ngừa cát cứ địa phương bằng cơ chế kiểm soát pháp lý; và đề xuất xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá phân cấp quản lý cùng giải pháp quản trị cấp vùng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng bốn lý thuyết nền tảng, được phân chia thành hai nhóm tiếp cận:
- Nhóm lý thuyết từ góc nhìn của nhà quản trị trung ương:
- Lý thuyết quản trị tốt (Good Governance Theory): Tiếp cận quan điểm của Aristotle, hoàn thiện qua các khuôn khổ của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), Ngân hàng Thế giới (World Bank, 1992) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Lý thuyết này gắn phân cấp với các tiêu chuẩn minh bạch, trách nhiệm giải trình, tính hiệu quả và sự tham gia của công chúng (Crook, 2003; Engdaw, 2021). Phân cấp quản lý kinh tế được xem là công cụ để tối ưu hóa năng lực quản trị công của nhà nước.
- Lý thuyết lợi thế so sánh (Theory of Comparative Advantage): Khởi xướng bởi David Ricardo (1891) và được Gottfried Haberler (1936) phát triển qua góc độ chi phí cơ hội. Luận án vận dụng lý thuyết này vào việc phân công thẩm quyền quản lý giữa các cấp chính quyền: trung ương tập trung vào hoạch định chính sách vĩ mô và đối ngoại; địa phương tiếp nhận các nhiệm vụ phù hợp với nguồn lực thực tế. Đồng thời, lý thuyết cung cấp cơ sở để thiết kế cơ chế phân cấp không cào bằng, phù hợp với tiềm năng riêng biệt của 63 đơn vị hành chính cấp tỉnh.
- Nhóm lý thuyết từ góc nhìn của người dân và cộng đồng thụ hưởng:
- Lý thuyết về quyền con người (Theory of Human Rights): Bắt nguồn từ Zeno thời cổ đại, phát triển qua các triết gia Thomas Hobbes (1658), John Locke và Thomas Paine, được Nguyễn Đăng Dung cùng cộng sự (2009) luận giải. Lý thuyết khẳng định quyền tự nhiên của công dân trong việc tham gia quyết định các vấn đề quản trị địa phương, hình thành cơ sở pháp lý cho phương thức phân cấp quản lý từ dưới lên.
- Lý thuyết về sự lựa chọn của công chúng (Theory of Public Choice): Kế thừa các nguyên lý thiết kế quyền tài phán của George Stigler (1957) và định lý phân cấp của Wallace Oates (1972), cùng các nghiên cứu của Anwar Shah và Sana Shah (2006), Vũ Thành Tự Anh (2012), Litvack cùng cộng sự (1998). Lý thuyết chỉ rõ chính quyền ở cấp gần dân nhất có ưu thế thông tin để cung ứng dịch vụ công tối ưu; người dân thể hiện sự tín nhiệm hoặc phản đối chính sách địa phương qua cơ chế "bỏ phiếu bằng chân".
Phương pháp nghiên cứu của luận án là nghiên cứu định tính kết hợp tiếp cận liên ngành, bao gồm các phương pháp cụ thể sau:
| Phương pháp nghiên cứu |
Phạm vi và mục đích áp dụng trong luận án |
| Phân tích luật |
Sử dụng tại Chương 2 để chuẩn hóa thuật ngữ pháp lý; sử dụng tại Chương 3 để rà soát các quy phạm, văn bản mâu thuẫn, chồng chéo trong hệ thống pháp luật kinh tế. |
| So sánh pháp luật và so sánh lịch sử |
So sánh các nghị quyết của Chính phủ về phân cấp qua các thời kỳ; đối sánh quy định pháp luật Việt Nam với 4 mô hình phân quyền quốc tế (Anh, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Pháp). |
| Tiếp cận liên ngành (Hành chính - Kinh tế - Luật) |
Phân tích tác động qua lại giữa quy định pháp lý, hiệu quả kinh tế và tổ chức bộ máy hành chính; mở rộng góc nhìn xuyên ngành đối với các vấn đề môi trường và công nghệ. |
| Phỏng vấn chuyên gia và nhà quản lý |
Khảo sát sâu nhóm chuyên gia lý luận và cán bộ quản lý thực tiễn tại Chương 3 nhằm xác thực nguyên nhân của các vướng mắc pháp lý và kiểm chứng tính khả thi của giải pháp. |
| Mô hình hóa (Kỹ thuật) |
Trực quan hóa mối quan hệ thứ bậc giữa các thuật ngữ tại Chương 2 và hệ thống hóa các nhóm hạn chế pháp luật tại Chương 3. |
| Hệ thống hóa (Kỹ thuật) |
Phân loại, lập danh mục văn bản quy phạm pháp luật trong nước và thống kê các đạo luật phân cấp của các quốc gia trên thế giới. |
| Nghiên cứu điển hình (Case study) |
Khảo sát thực tiễn cơ chế phân cấp quản lý kinh tế đặc thù tại Thành phố Hồ Chí Minh theo Nghị quyết số 54/2017/QH14 và Nghị quyết số 98/2023/QH15. |
Nguồn dữ liệu và tư liệu nghiên cứu bao gồm: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước từ năm 1945 đến năm 2023 (Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư); các nghị quyết chuyên đề của Chính phủ (Nghị quyết số 08/2004/NQ-CP, Nghị quyết số 21/NQ-CP, Nghị quyết số 99/NQ-CP, Nghị quyết số 04/NQ-CP); dữ liệu điều tra Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) giai đoạn 2006 - 2021; số liệu điều tiết ngân sách 63 tỉnh, thành phố giai đoạn 2018 - 2022; báo cáo giám sát thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của Quốc hội giai đoạn 2016 - 2021; và các công bố quốc tế của Ngân hàng Thế giới.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và lý thuyết nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến phân cấp quản lý kinh tế, xác định khoảng trống tri thức và luận giải khung lý thuyết nền tảng. Tác giả phân loại tư liệu quốc tế theo hai nhánh: các vấn đề chung về phân cấp và phân cấp tài khóa; cùng các nghiên cứu trường hợp tại châu Á và châu Âu. Tài liệu trong nước được tổng thuật qua hai mảng: hoàn thiện thể chế pháp luật và thực tiễn thi hành phân cấp trong các lĩnh vực ngân sách, đất đai, đầu tư công. Chương này xác lập bốn khoảng trống khoa học mà các công trình trước chưa giải quyết trọn vẹn, đồng thời phân tích cơ chế vận dụng của bốn lý thuyết: Lý thuyết quản trị tốt, Lý thuyết lợi thế so sánh, Lý thuyết về quyền con người và Lý thuyết về sự lựa chọn của công chúng.
Chương 2: Cơ sở lý luận về phân cấp quản lý kinh tế và pháp luật về phân cấp quản lý kinh tế
Chương 2 làm rõ bản chất lý luận của các thuật ngữ chuyên ngành. Tác giả phân định ranh giới ngữ nghĩa và cấp độ pháp lý giữa: "phân cấp" (phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ), "phân quyền" (chuyển giao quyền lực độc lập có hiến định), "tản quyền" (chuyển giao nhiệm vụ trong cùng cấp hành chính), "ủy quyền" (giao quyền tạm thời kèm điều kiện) và "phân cấp quản lý" (chuyển giao nhiệm vụ, thẩm quyền quản lý giữa cấp trên và cấp dưới). Luận án xây dựng khái niệm phân cấp quản lý kinh tế và xác định các đặc trưng của pháp luật phân cấp quản lý kinh tế trong nhà nước đơn nhất.
Nội dung chương nghiên cứu bốn mô hình phân quyền trên thế giới: mô hình theo nguyên tắc điều chỉnh (Hoa Kỳ, Anh, Hàn Quốc), mô hình theo nguyên tắc bổ trợ (Đức, Nhật Bản), mô hình song trùng trực thuộc (Trung Quốc, Việt Nam) và mô hình song trùng giám sát (Pháp). Từ đó, tác giả rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam: cần ban hành đạo luật riêng biệt hoặc chế định hóa tập trung nội dung phân cấp; áp dụng nguyên tắc bổ trợ trong phân chia quyền hạn; bảo đảm tính tự chủ tài khóa đi đôi với trách nhiệm giải trình; và tăng cường vai trò tài phán tư pháp trong kiểm soát phân cấp.
| Mô hình phân quyền quốc tế |
Quốc gia điển hình |
Đặc trưng cơ bản về mặt pháp lý |
| Phân quyền theo nguyên tắc điều chỉnh |
Hoa Kỳ, Anh, Hàn Quốc |
Phân định chức năng rõ ràng giữa trung ương và địa phương thông qua các đạo luật điều chỉnh cụ thể; kết hợp giữa giám sát tập trung và quyền tự trị của hội đồng dân cử. |
| Phân quyền theo nguyên tắc bổ trợ |
Đức, Nhật Bản |
Cấp trên chỉ thực hiện những nhiệm vụ mà cấp dưới không thể đảm nhiệm hiệu quả; hiến pháp và tòa án hiến pháp giữ vai trò điều tiết xung đột thẩm quyền. |
| Phân quyền song trùng trực thuộc |
Trung Quốc, Việt Nam |
Chính quyền địa phương chịu sự lãnh đạo dọc của cơ quan hành chính cấp trên và sự giám sát ngang của cơ quan dân cử cùng cấp; duy trì tập trung quyền lực chính trị. |
| Phân quyền song trùng giám sát |
Pháp |
Cải cách theo hướng từ dưới lên; phân cấp mạnh mẽ quyền lực tài khóa và quản lý lãnh thổ, đặt dưới cơ chế giám sát tư pháp và phối hợp hành chính chặt chẽ. |
Chương 3: Thực trạng pháp luật về phân cấp quản lý kinh tế tại Việt Nam
Chương 3 đánh giá hệ thống quy định và kết quả thực hiện pháp luật phân cấp quản lý kinh tế tại Việt Nam từ năm 2004 đến năm 2023. Đánh giá về mặt quy định tập trung vào bốn tiêu chí: tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp và kỹ thuật lập pháp. Tác giả chỉ ra rằng trong gần 30 đạo luật ban hành hoặc sửa đổi trong giai đoạn 2019 - 2020, có trên một phần ba đạo luật chứa đựng quy định về phân cấp nhưng nội dung thiếu tính liên kết.
Về thực tiễn thực thi, luận án đi sâu vào ba lĩnh vực trụ cột:
- Phân cấp quản lý ngân sách: Tồn tại bất cập lớn do áp dụng mô hình ngân sách lồng ghép theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2015. Ngân sách cấp dưới phụ thuộc vào ngân sách cấp trên, hạn chế quyền chủ động tài khóa của địa phương và làm giảm tính minh bạch trong phân bổ nguồn thu, dự toán và quyết toán.
- Phân cấp quản lý đất đai: Quy định về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất còn chồng chéo giữa Luật Đất đai năm 2013 và Luật Quy hoạch năm 2017. Thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất bộc lộ sơ hở, dẫn đến nhiều vi phạm pháp luật, thất thoát tài nguyên và khiếu kiện kéo dài.
- Phân cấp quản lý đầu tư: Quy định của Luật Đầu tư công và Luật Đầu tư tạo ra tình trạng phân cấp "đồng loạt và đại trà". Thiếu quy hoạch vùng dẫn đến hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa các địa phương lân cận trong việc cấp phép xây dựng sân bay, cảng biển nước sâu và khu công nghiệp, gây lãng phí nguồn lực công.
Tác giả tổng kết các kết quả đạt được (nâng cao tính năng động của địa phương, thu hút vốn đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải cách thủ tục hành chính) song hành cùng các hạn chế căn bản (tư duy "nắm to, buông nhỏ", tình trạng "xé rào", "chạy cơ chế", cát cứ địa phương). Nguyên nhân của hạn chế xuất phát từ sự chậm đổi mới nhận thức lý luận, khiếm khuyết trong kỹ thuật lập pháp, kỷ cương hành chính thiếu nghiêm minh và năng lực đội ngũ thực thi chưa đồng đều.
Chương 4: Quan điểm, yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về phân cấp quản lý kinh tế tại Việt Nam
Chương 4 xác lập các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện khung pháp lý về phân cấp quản lý kinh tế, bám sát tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Trung ương Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền. Tác giả đề xuất ba nhóm giải pháp:
- Nhóm giải pháp về tư duy và quan điểm lập pháp: Thay đổi nhận thức từ quản lý chỉ huy sang quản trị phục vụ; chuẩn hóa ngôn ngữ pháp lý bằng việc đưa thuật ngữ "phân quản" vào văn bản quy phạm pháp luật để thay thế cụm từ "phân cấp quản lý", khắc phục cách gọi tắt không chuẩn xác là "phân cấp".
- Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
- Đề xuất sửa đổi Hiến pháp năm 2013 nhằm bổ sung quy định về đơn vị hành chính cấp vùng, tạo cơ sở hiến định giải quyết xung đột kinh tế liên tỉnh.
- Sửa đổi Luật Tổ chức chính quyền địa phương theo hướng xây dựng chế định phân cấp quản lý hoàn chỉnh; phân định rạch ròi thẩm quyền giữa trung ương và cấp tỉnh theo nguyên tắc bổ trợ; chấm dứt tình trạng phân cấp cào bằng giữa các địa phương có quy mô kinh tế và năng lực quản trị khác nhau.
- Sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước nhằm từng bước xóa bỏ mô hình ngân sách lồng ghép, trao quyền tự chủ tài khóa lớn hơn cho cấp tỉnh; đồng thời hoàn thiện Luật Đất đai và Luật Đầu tư công để đồng bộ hóa quy trình phân cấp.
- Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện:
- Xây dựng và ban hành Bộ tiêu chí đánh giá phân cấp quản lý gồm các chỉ số định lượng về tính minh bạch, năng lực tài chính và sự hài lòng của người dân.
- Thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực, phòng chống cát cứ cục bộ thông qua thanh tra, kiểm toán công và giám sát của cơ quan dân cử.
- Ứng dụng công nghệ số và hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia vào quy trình giám sát phân cấp; tiếp tục hoàn thiện cơ chế đặc thù cho Thành phố Hồ Chí Minh theo Nghị quyết số 98/2023/QH15 để làm căn cứ nhân rộng.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án làm rõ hệ thống khái niệm liên quan đến phân cấp quản lý kinh tế trong khoa học pháp lý Việt Nam; chỉ ra mối liên hệ hữu cơ giữa phân cấp quản lý với các mô hình tổ chức quyền lực nhà nước; đề xuất chuẩn hóa thuật ngữ lập pháp thông qua việc đưa từ "phân quản" vào sử dụng thay thế cho cụm từ "phân cấp quản lý". Luận án xác định rõ nội hàm, cấu trúc và đặc trưng của pháp luật phân cấp quản lý kinh tế, cung cấp cơ sở khoa học để thống nhất cách hiểu trong hoạch định chính sách.
Về mặt thực tiễn, luận án đánh giá toàn diện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn thi hành phân cấp quản lý kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2004 - 2023 trên ba lĩnh vực trọng điểm: ngân sách, đất đai và đầu tư. Luận án phân tích nguồn gốc pháp lý của hiện tượng "xé rào", "chạy cơ chế" và sự phân tán thể chế tại các địa phương.
Về mặt giải pháp, công trình đưa ra các đề xuất cụ thể:
- Đề xuất sửa đổi Hiến pháp năm 2013 để bổ sung đơn vị hành chính cấp vùng nhằm quản trị các vấn đề kinh tế mang tính liên kết vùng.
- Đề xuất sửa đổi Luật Tổ chức chính quyền địa phương để thiết lập chế định phân cấp quản lý độc lập, quy định các cấp độ phân cấp dựa trên năng lực của từng địa phương thay vì phân cấp cào bằng.
- Đề xuất xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá phân cấp quản lý làm công cụ đo lường hiệu quả thực thi chính sách.
- Đề xuất cơ chế kiểm soát lạm quyền, phòng ngừa nguy cơ cát cứ địa phương bằng công nghệ thông tin và hoàn thiện cơ chế đặc thù cho các đô thị trung tâm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu quan hệ phân cấp quản lý kinh tế giữa trung ương và chính quyền cấp tỉnh, chưa khảo sát sâu mối quan hệ phân cấp từ cấp tỉnh xuống cấp huyện và cấp xã. Luận án tiếp cận dưới góc độ tổng thể thể chế pháp luật kinh tế nên không đi sâu phân tích các quy trình kỹ thuật nghiệp vụ chi tiết của từng phân ngành hẹp. Đồng thời, các vụ việc và số liệu thực tiễn được trích dẫn chủ yếu mang tính chọn lọc điển hình để minh họa luận điểm.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, các công trình kế tiếp có thể mở rộng nghiên cứu cơ chế phân cấp quản lý kinh tế xuống cấp huyện và cấp xã; xây dựng khung pháp lý cụ thể về tổ chức bộ máy và thẩm quyền của chính quyền cấp vùng khi được thể chế hóa; chi tiết hóa các chỉ số thành phần trong Bộ tiêu chí đánh giá phân cấp quản lý đối với từng ngành kinh tế cụ thể; và nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế tài phán hiến pháp nhằm xử lý các xung đột thẩm quyền giữa trung ương và địa phương.
Giá trị tham khảo
Luận án cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan hành chính nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ): Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đất đai, Luật Đầu tư; hỗ trợ việc thiết kế các cơ chế đặc thù và xây dựng quy chế điều phối vùng kinh tế trọng điểm.
- Đối với chính quyền địa phương cấp tỉnh: Tài liệu hỗ trợ việc rà soát thẩm quyền, đề xuất cơ chế phân cấp phù hợp với nguồn lực địa phương và nâng cao năng lực giải trình trong điều hành kinh tế.
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Luật Kinh tế, Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Quản trị công: Cung cấp khung lý thuyết liên ngành hoàn chỉnh, phương pháp tiếp cận so sánh pháp luật quốc tế và nguồn tài liệu tham khảo có tính hệ thống về phân cấp quản lý.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đề xuất sử dụng thuật ngữ mới nào thay thế cho cụm từ "phân cấp quản lý" và lý do của đề xuất này là gì?
Tác giả đề xuất đưa vào sử dụng thuật ngữ "phân quản" thay thế cho cụm từ "phân cấp quản lý". Lý do là thuật ngữ "phân cấp quản lý" thường bị gọi tắt thành "phân cấp" trong văn bản và đời sống pháp lý, dẫn đến sự nhầm lẫn với hành vi phân chia các cấp đơn vị hành chính lãnh thổ; việc sử dụng từ "phân quản" bảo đảm tính chính xác về mặt nội hàm quản lý hành chính, ngắn gọn và thống nhất ngôn ngữ pháp lý.
2. Bốn lý thuyết nghiên cứu được tác giả vận dụng trong luận án gồm những lý thuyết nào?
Bốn lý thuyết được phân chia thành hai nhóm: nhóm từ góc nhìn của nhà quản trị trung ương gồm Lý thuyết quản trị tốt (Good Governance Theory) và Lý thuyết lợi thế so sánh (Theory of Comparative Advantage); nhóm từ góc nhìn của người dân và cộng đồng thụ hưởng gồm Lý thuyết về quyền con người (Theory of Human Rights) và Lý thuyết về sự lựa chọn của công chúng (Theory of Public Choice).
3. Kinh nghiệm quốc tế về phân cấp được luận án khảo sát thông qua những mô hình phân quyền nào?
Luận án khảo sát bốn mô hình phân quyền điển hình: mô hình phân quyền theo nguyên tắc điều chỉnh (Hoa Kỳ, Anh, Hàn Quốc); mô hình phân quyền theo nguyên tắc bổ trợ (Đức, Nhật Bản); mô hình phân quyền song trùng trực thuộc (Trung Quốc, Việt Nam); và mô hình phân quyền song trùng giám sát (Pháp).
4. Vì sao luận án đề xuất bổ sung đơn vị hành chính cấp vùng vào Hiến pháp?
Luận án đề xuất bổ sung cấp vùng nhằm tạo cơ sở hiến định giải quyết tình trạng phân tán thể chế, khắc phục sự cạnh tranh dàn trải, thiếu liên kết giữa các địa phương trong đầu tư hạ tầng kinh tế (như cảng biển, sân bay, khu công nghiệp) và thiết lập cơ chế điều phối quy hoạch không gian kinh tế vượt ra ngoài ranh giới địa giới hành chính một tỉnh.
5. Điểm nghẽn lớn nhất trong phân cấp quản lý ngân sách nhà nước tại Việt Nam được luận án chỉ ra là gì?
Điểm nghẽn lớn nhất là việc duy trì mô hình hệ thống ngân sách nhà nước lồng ghép theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, trong đó ngân sách cấp dưới là một bộ phận của ngân sách cấp trên, dẫn đến sự chồng chéo thẩm quyền, hạn chế tính độc lập tài khóa của chính quyền cấp tỉnh và làm giảm tính minh bạch trong việc lập, giao dự toán và quyết toán ngân sách.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Pháp luật về phân cấp quản lý kinh tế tại Việt Nam" của tác giả Trần Thị Mai Phước là công trình nghiên cứu toàn diện dưới góc độ khoa học luật kinh tế về quan hệ phân cấp giữa trung ương và chính quyền cấp tỉnh. Tác giả đã kết hợp phương pháp phân tích luật học với cách tiếp cận liên ngành để làm rõ các bất cập thể chế trong ba lĩnh vực trụ cột: ngân sách, đất đai và đầu tư công. Hệ thống giải pháp của luận án hướng tới việc sửa đổi Hiến pháp năm 2013 để bổ sung cấp vùng, chế định hóa phân cấp quản lý trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương, chuẩn hóa thuật ngữ "phân quản" và xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá phân cấp. Công trình cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ tiến trình cải cách thể chế kinh tế và hoàn thiện nhà nước pháp quyền tại Việt Nam.